Thu Tứ – THƠ YÊU NƯỚC – Tuyển 1

Thơ yêu nước căm thù giặc thời Pháp thuộc nhiều lắm. Xin tuyển ra đây một số bài đặc sắc, sắp theo thứ tự thời gian. Bắt đầu là thơ của Nguyễn Ðình Chiểu, Phan Văn Trị, Nguyễn Văn Giai (?), làm trong giai đoạn Pháp đang tiến hành chiến tranh xâm lược, làm ngay sau khi khói súng vừa tan. Kế đến là thơ của Nguyễn Khuyến, Tú Xương, làm để diễn nỗi uất ức, lo buồn trước cảnh mất nước. Tiếp theo là thơ của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Hoàng Trọng Mậu, sáng tác khi người Việt Nam đang sôi nổi tìm cách đánh đuổi giặc. Cuối cùng là thơ của Tản Ðà, Á Nam Trần Tuấn Khải, viết ra sau khi mọi nỗ lực kháng chiến đã thất bại, người yêu nước chỉ còn cách rất kín đáo bày tỏ lòng thiết tha với nước…

* * *

Nguyễn Ðình Chiu

Phan Văn Tr

Nguyễn Văn Giai (?)

Nguyễn Khuyến

Tú Xương

Phan Bội Châu

Phan Chu Trinh

Hoàng Trọng Mu

Tản Ðà

Á Nam Trần Tun Khi

“Một nghìn năm nô lệ giặc Tàu, một trăm năm đô hộ giặc Tây…”(1)

Giặc Tàu không để lại dấu vết gì trong văn chương bác học thời Bắc thuộc, vì thời ấy ta chưa có văn chương bác học! Giặc Tây đến trễ, khi văn chương bác học của ta đã vô cùng già dặn, nên vết tùm lum.

Thơ yêu nước căm thù giặc thời Pháp thuộc nhiều lắm. Xin tuyển ra đây một số bài đặc sắc, sắp theo thứ tự thời gian. Bắt đầu là thơ của Nguyễn Ðình Chiểu, Phan Văn Trị, Nguyễn Văn Giai (?), làm trong giai đoạn Pháp đang tiến hành chiến tranh xâm lược, làm ngay sau khi khói súng vừa tan. Kế đến là thơ của Nguyễn Khuyến, Tú Xương, làm để diễn nỗi uất ức, lo buồn trước cảnh mất nước. Tiếp theo là thơ của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Hoàng Trọng Mậu, sáng tác khi người Việt Nam đang sôi nổi tìm cách đánh đuổi giặc. Cuối cùng là thơ của Tản Ðà, Á Nam Trần Tuấn Khải, viết ra sau khi mọi nỗ lực kháng chiến đã thất bại, người yêu nước chỉ còn cách rất kín đáo bày tỏ lòng thiết tha với nước…

Suốt thời Pháp thuộc, trong làng thơ Việt Nam lúc nào cũng có tiếng “quốc”, khi to khi nhỏ nhưng nhất định không chịu im:

“Nhớ nước đau lòng con quốc quốc

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”!

Dân Thục rồi không bao giờ khôi phục được nước. Nhưng dân tộc Việt Nam đã lại một lần nữa vùng lên đánh bật quân xâm lược, đuổi Tây về… Pháp, như từng đuổi Ngô về Tàu!

Ngày nay sống trên đất nước độc lập, ai ơi chớ quên những tiếng quốc ngày xưa.

Nguyễn Ðình Chiu – “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”

Trước giặc Tây, chưa có giặc nào khó đánh như giặc Tây. Dữ như quân Mông Cổ, cũng chỉ dùng vũ khí đại khái như của quân ta. Ðằng này, “đạn nhỏ, đạn to”, “tàu thiếc, tàu đồng”, lợi hại quá thể! Biết thừa rằng thất thế, vậy mà “nghĩa sĩ” vẫn cứ “xông vào, liều mình như chẳng có”!

Văn hóa ta có truyền thống lính là dân.(2) Ðã bao lần người nông dân bỏ cày cuốc cầm gươm giáo đánh giặc và đánh được giặc. Nhưng lần này…

“Thác mà trả nước non rồi nợ”. Chết vì nước, đối với người Việt Nam còn chết nào bằng.

Bài văn tế của Nguyễn Ðình Chiểu nhiều câu cảm động, có thể xem như “cây nhang nghĩa khí thắp nên thơm” cháy mãi trên bàn thờ liệt sĩ.

———

Hỡi ôi!

Súng giặc đất rền; lòng dân trời tỏ.

Mười năm công vỡ ruộng, chưa chắc còn danh nổi tợ phao; một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ.

Nhớ linh xưa:

Cui cút làm ăn; toan lo nghèo khó.

Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung; chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.

Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm; tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.

Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa; mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.

Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan; ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.

Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu; hai vầng nhật nguyệt chói lòa, đâu dung lũ treo dê, bán chó.

Nào đợi ai đòi, ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình; chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.

Khá thương thay:

Vốn chẳng phải quân cơ, quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh; chẳng qua là dân ấp, dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ.

Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn; chín chục trận binh thư, không chờ bày bố.

Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu bầu ngòi; trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ.

Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia; gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ.

Chi nhọc quan quản gióng trống kì, trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không; nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.

Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh; bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc, tàu đồng súng nổ.

Ôi!

Những lăm lòng nghĩa lâu dùng; đâu biết xác phàm vội bỏ.

Một giấc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây; trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ.

Đoái sông Cần Giuộc cỏ cây mấy dặm sầu giăng; nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng lụy nhỏ.

Chẳng phải án cướp, án gian đày tới, mà vi binh đánh giặc cho cam tâm; vốn không giữ thành, giữ lũy bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số.

Nhưng nghĩ rằng:

Tấc đất ngọn rau ơn Chúa, tài bồi cho nước nhà ta; bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó.

Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương; vì ai xui đồn lũy tan tành, xiêu mưa ngã gió.

Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương xô bàn độc, thấy lại thêm buồn; sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh; hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.

Ôi thôi thôi!

Chùa Tân Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm; đồn Lang sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ.

Đau đớn bấy, mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều; não nùng thay, vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.

Ôi!

Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ.

Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm nên bốn phía mây đen; ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ.

Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen; thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.

Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia; sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.

Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân; cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ.

Hỡi ôi thương thay!

Có linh xin hưởng.

 

Phan Văn Trị – “Cảm tác”

“Giảng hòa” làm sao được, khi kẻ mạnh người yếu chênh lệch quá rõ ràng như Tây với ta hồi thế kỷ 19. Chỉ có mạnh lấn và lấn, yếu lùi và lùi, cho tới khi yếu không còn một chút chủ quyền nào trên đất của mình.

Nghĩ quả thật “ngậm ngùi hết nói” cho những “quan ta” như Phan Thanh Giản.

———

Tò te kèn thổi tiếng năm ba,
Nghe lọt vào tai dạ xót xa.
Uốn khúc sông Rồng mù mịt khói,
Vắng hoe thành Phụng ủ sầu hoa.(3)
Tan nhà căm nỗi câu li hận,
Cắt đất thương thay cuộc giảng hòa.
Gió bụi đòi cơn xiêu ngã cỏ,
Ngậm ngùi hết nói nỗi quan ta.

Nguyễn Văn Giai (?) – “Hà thành chính khí ca

Bài thơ này làm sau khi Pháp đánh chiếm Hà Nội lần thứ hai. Nội dung ca ngợi Hoàng Diệu và chê một số văn quan võ tướng. Trích sau đây là phần “chính khí ca” mà thôi.

Thơ kể chiến sự về chi tiết không sát sự thật. Quân ta chỉ có một số ít súng hỏa mai thô sơ, nạp đạn rất chậm, bắn từng viên và không chính xác. Còn các khẩu “thần công” thì bắn ra cục đá cục sắt chứ không phải đạn pháo nổ! “Bạch quỷ” thừa biết tình hình, làm gì có chuyện chúng “hồn lìa phách xiêu”! Rồi chuyện kho thuốc súng trong thành bốc cháy khiến quan quân hoảng sợ, đó không phải do nội công mà do kho bị quân Pháp pháo kích vào trúng…

Nhưng thơ diễn thành công cái tinh thần bất khuất của Hoàng Diệu.

———-

Một vừng chánh khí lưu hình,

Khoảng trong trời đất: nhật, tinh, sơn, hà.

Hạo nhiên ở tại lòng ta,

Tấc vuông son sắt hiện ra khi cùng.

Hơn thua theo vận truân phong,

Ngàn thu rạng tiếng anh hùng sử xanh.

Có quan tổng đốc Hà Ninh

Hiệu là Quang Viễn, trung trinh ai bằng.

Lâm nguy lý hiểm đã từng,

Vâng ra trọng trấn mới chừng ba năm.

Thôn Hồ dạ vẫn nhăm nhăm,

Ngoài tuy giao thiệp, trong chăm những là.

Vừa năm Nhâm Ngọ tháng ba,

Sang mai mồng tám, mới qua giờ thìn,

Biết cơ trước đã giữ gìn,

Hơn trăm vũ sĩ, vài nghìn tinh binh.

Tiên nghiêm sai đóng trên thành,

Thệ sư rót chén rượu quỳnh đầy vơi.

Văn quan vũ tướng nghe lời,

Ai ai xin quyết một bài tận trung.

Ra uy xuống lệnh vừa xong,

Bỗng nghe ngoài đã đùng đùng pháo ran.

Tiêm cừu ni gin xung quan,

Quyết rng chng để chi đàn chó dê.

Lửa phun súng phát bn b,

Khiến loài bch qu hn lìa phách xiêu.

Bắn ra nghe chết cũng nhiều,

Phố phường nghe thấy, tiếng reo ầm ầm!

Quan quân đắc chí bình tâm,

Cửa Ðông Cửa Bắc vẫn cầm vững binh.

Chém cha cái lũ hôi tanh,

Phen này quét sạch sành sanh mới là!

Không ngờ thất ý tại ta,

Rõ ràng thắng trạng thế mà thua cơ!

Nội công rắp những bao giờ,

Thấy kho thuốc cháy, ngọn cờ ngả theo.

Quan quân sợ chết thảy đều,

Cửa Tây, bạch quỷ đánh liều trèo lên.

Nào ai sức khỏe gan liền?

Nào ai gìn giữ vững bền ba quân?

Nào ai còn có kinh luân?

Nào ai nghĩ đến thánh quân trên đầu?

Một cơn gió thảm mưa sầu,

Nấu nung gan sắt, dãi dầu lòng son.

Chữ trung còn chút con con,

Quyết đem gửi cái tàn hồn gốc cây.

Trời cao biển rộng đất dày,

Núi Nùng sông Nhị chốn này làm ghi.

Thương thay trong buổi truân nguy,

Lòng riêng ai chẳng thương vì người trung.

Rủ nhau tiền góp của chung,

Rước người ra táng ở trong học đường.

Đau đớn nhẽ, ngẩn ngơ dường!

Tả tơi thành quách tồi tàn cỏ hoa.

 

Nguyễn Khuyến – “Hoài cổ”

Dĩ nhiên thực là “Nghĩ chuyện đời nay cũng nực cười”. Nguyễn Khuyến ức giặc Pháp bắt người Việt “khoét rỗng ruột gan” đất Việt cho chúng tha hồ chở về làm giàu nước chúng đó.

———-

Nghĩ chuyện đời xưa cũng nực cười,
Sự đời đến thế, thế thời thôi!
Rừng xanh núi đỏ hơn ngàn dặm,
Nước độc ma thiêng mấy vạn người.
Khoét rỗng ruột gan trời đất cả,
Phá tung phên giậu hạ di rồi.
Thôi thôi đến thế thời thôi nhỉ,
Mây trắng về đâu nước chảy xuôi.

 

Tú Xương – “Đêm dài”

“Sáng lòa” là cái sáng trăng đối với con mắt kẻ vừa sực tỉnh, chứ thực ra vẫn còn đêm. Mà đêm đây hẳn là đêm dài “đô hộ giặc Tây”.

Giữa những đêm hú hí với cô đầu là những đêm “ta” nằm nhà nhớ chuyện nước non…

Tục truyền khi ra Bắc kết nạp đồng chí, Phan Bội Châu có ghé Nam Ðịnh, có “đốt đuốc lên soi”, gõ đúng vào cửa căn nhà số 247 phố Hàng Nâu của ông Tú Vị Xuyên.

———–

Chợt giấc trông ra ngó sáng lòa
Ðêm sao đêm mãi thế ru mà
Lạnh lùng bốn bể ba phần tuyết
Xao xác năm canh một tiếng gà
Chim chóc hãy còn nương cửa tổ
Bướm ong chưa thấy lượn vườn hoa
Nào ai là kẻ tìm ta đó
Ðốt đuốc lên soi kẻo lẫn nhà!

 

Phan Bội Châu – “Bài ca chúc Tết thanh niên”

Ðọc bài ca chúc Tết của Ông già Bến Ngự dưới đây, thanh niên nào còn dám ngủ, dám ăn, dám chơi, dám mặc nữa!

Chắc chắn những lời “chúc” khi to khi nhỏ khi hở khi kín của Phan Bội Châu trong thời gian bị Pháp giam lỏng ở Huế có tác động đến một số thanh niên, có giúp giữ cháy trong lòng người Việt ngọn lửa ái quốc.

Ông chẳng sống đến ngày “vết nhơ nô lệ” được máu nóng xối rửa sạch. Thương ơi!

———

Dậy! Dậy! Dậy!
Bên án một tiếng gà vừa gáy,
Chim trên cây liền ngỏ ý chào mừng,
Xuân ơi xuân, xuân có biết cho chăng?
Thẹn cùng sông, buồn cùng núi, tủi cùng trăng,
Hai mươi năm lẻ đã từng bao chua với xót!

Trời đất may còn thân sống sót,
Tháng ngày khuây khỏa lũ đầu xanh.
Thưa các cô, các cậu, lại các anh,
Trời đã mới, người càng nên đổi mới.

Mở mắt thấy rõ ràng tân vận hội,
Ghé vai vào xốc vác cựu giang san.
Ði cho êm, đứng cho vững, trụ cho gan,
Dây đoàn thể quyết ghe phen thành nghiệp lại.

Ai hữu chí từ nay xin gắng gỏi,
Xếp bút nghiên mà tu dưỡng lấy tinh thần.
Ðừng ham chơi, đừng ham mặc, ham ăn,
Dựng gan óc lên đánh tan sắt lửa.

Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ,
Mới thế này là mới hỡi chư quân!
Chữ rằng: nhật nhật tân, hựu nhật tân!

 

Phan Chu Trinh – “Giai nhân kỳ ngộ chi ca”

Nguyễn Hiến Lê từng kêu gọi người Việt thôi cuồng tín như người Tây phương mà quay trở lại với tinh thần “bất đồng nhi hòa” của tổ tiên. Cái lối không đồng ý mà vẫn vui vẻ với nhau ấy cách nay non một trăm năm có hai nhân vật lịch sử đã nêu gương sáng.

Ai nấy đều biết tuy cùng yêu nước hết mình nhưng hai cụ Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh đã chọn hai con đường cứu nước trái ngược nhau. Người này chủ trương tạm thời bảo hoàng mà tập trung dùng võ lực đánh đuổi Pháp; người kia chủ trương bãi bỏ ngay chế độ quân chủ, cải cách xã hội, rồi mới tìm cách giành lại độc lập. Ý khác nhau như mặt trời mặt trăng mà hai cụ cứ có dịp gặp nhau là vui hơn hội.

Trong hồi ký Tự phán, Phan Bội Châu kể: “Cụ Tây Hồ tới Hương Cảng (…) thấy chúng tôi, chưa chào đã cười, tôi dậy bắt tay cụ, vui không thể nói được (…) Tôi với cụ ríu rít với nhau ở Quảng Ðông hơn 10 ngày (…) hàng ngày (…) bàn (…) việc nước (…) tôi (…) qua (…) Nhật Bản (…) cụ Tây Hồ cũng đi (…) tôi với cụ (…) ý kiến rất trái nhau (…) phản đối nhau (…) mà (…) vẫn ưa nhau. Cụ với tôi kề gối chung giường”.

Hai cụ Phan ý rất trái nhau mà chẳng những “hòa”, lại ríu rít với nhau, ưa nhau, thiết tưởng ấy chủ yếu là do: “Cụ với tôi vẫn đồng một mục đích, mà thủ đoạn thì khác nhau.” Phan Bội Châu muốn lợi dụng quân chủ, còn Phan Chu Trinh muốn lợi dụng phe xã hội của Pháp, nhưng cả hai đều nhằm khôi phục độc lập cho tổ quốc Việt Nam.

Liều chết cứu cho được nước, là do có niềm tin vào sự xứng đáng tồn tại của nước. Trong bài hát nói tam thủ dưới đây Phan Tây Hồ khẳng định:

“Hai ngàn vạn đồng bào sanh tụ,
Sử văn minh đem đọ, kém gì ai?”

Ðể câu chuyện văn minh ấy được tiếp tục, khi cần cụ không hề ngại rút gươm:

“Ðấng trượng phu một trường oanh liệt,
Rút gươm ra đôi mắt liếc nhìn thù.
Thề nhau hai chữ đồng cừu!”

Cùng một kẻ thù, nên mới kề gối chung giường mà cãi nhau đến sáng!

Bài hát nói này ra vẻ do một người xa quê nhớ nước ngồi ngẫm nghĩ rồi cất lời nói với chính mình, hơn là bài văn viết để vận động.

———-

 

I

Ta ngẫm nghĩ đôi câu chương chướng,
Muốn hai tay lôi bướng lão trời già,
Hỏi: “Lưới trời sao rách rưới lắm mà,
Một đời luống giúp tà mà hại chính?
Ðời sao lại có suy, có thịnh?
Người sao lại có dại có khôn?
Lan huệ sao ông làm cho héo cho don?
Gai góc sao ông lại thả khắp non khắp núi?
Bông hoa sao nỡ để mưa tàn gió lụi?
Bá tùng sao nỡ để tuyết dụi sương xô?
Hùm, beo, ó, là lũ hồ đồ,
Việc gì ông lại thêm vây, thêm cánh?
Làm cho chồn, cheo, chim, chuột không đường trốn tránh,
Mới sướng bụng ông sao?
Gì là sống? Gì là thác? Gì là nghèo? Gì là giàu?
Mơ màng trong một giấc chiêm bao,
Ông nói hết thì tôi xin thả!”.
Trăng sáng giữa trời soi khắp cả,
Gió xao mặt biển sóng lông tông.
Ðầu tàu, đêm vắng ngồi trông.

II

Ta nhớ đâu, nhớ đầu biển Á,
Muốn theo qua, sóng khỏa ngàn trùng,
Bốn ngàn năm còn dõi dấu Lạc Hồng,
Kìa biển, kìa núi, kìa sông, kìa đô ấp.
Từ Ðinh hoàng dựng cờ độc lập,
Ðến Nguyễn triều thâu thập cõi Nam Trung;
Trải xưa nay lắm sức anh hùng,
Liễu trôi máu vẽ nên màu cẩm tú.
Hai ngàn vạn đồng bào sanh tụ,
Sử văn minh đem đọ, kém gì ai?
Quyết thề lòng dựng lại cảnh Bồng Lai,
Chén rượu câu thi cười ha hả.
Trăng sáng giữa trời soi khắp cả,
Gió xao mặt nước sóng lông tông.
Ðầu tàu, đêm vắng ngồi trông.

II

Chánh, tự chủ dân ta dốc quyết,
Ðùm ruột gan xin kết cùng nhau.
Cởi trói dây, còn đợi lúc nào?
Hãy gắng sức anh hào tuấn kiệt!
Loạn lạc, lòng người ai cũng ghét,
Dối lừa thói tục, khuấy cho nhau.
Gươm tự do sẵn mấy lúc chùi lau,
Người trí thuật dễ hầu ai húng hiếp?
Ðấng trượng phu một trường oanh liệt,
Rút gươm ra đôi mắt liếc nhìn thù.
Thề nhau hai chữ đồng cừu!

 

Hoàng Trng Mu – “Ái quốc”

Việt Nam Quang Phục Hội thành lập năm 1912. Hoàng Trọng Mậu là Quân vụ Ủy viên. Hội chủ trương dùng vũ lực đánh đuổi giặc Pháp.

Than ôi, vũ lực nào! Phải mấy thập kỷ nữa, điều kiện thuận lợi mới đến để dân tộc Việt Nam có thể “kịch liệt bạo động”(4) với quân thù mà có hy vọng thắng.

Các liệt sĩ VNQPH hy sinh đau xót quá.

“Hồn ơi! Về với giang san.”

———-

Nay ta hát một thiên ái quốc
Yêu gì hơn yêu nước nhà ta
Trang nghiêm bốn mặt sơn hà
Ông cha ta để cho ta lọ vàng.

Trải mấy lớp tiền vương dựng mở
Bốn ngàn năm dãi gió dầm mưa
Biết bao công của người xưa
Gang sông, tấc núi, dạ dưa, ruột tằm.

Hào Ðại hải âm thầm trước mặt
Dải Cửu Long quanh quất miền tây
Một tòa san sát xinh thay
Bên kia Vân, Quảng, bên này Côn Lôn.

Vẻ gấm vóc nước non thêm đẹp
Rắp những mong cơ nghiệp dài lâu
Giống khôn há phải đàn trâu
Giang sơn nỡ để người đâu vẫy vùng!

Hai mươi triệu dân cùng của hết
Bốn mươi năm nước mất quyền không
Thương ôi! công nghiệp tổ tông
Nước tanh máu đỏ, non chồng thịt cao.

Non nước ấy biết bao máu mủ
Nỡ nào đem nuôi lũ sài lang
Cờ ba sắc, xứ Ðông Dương
Trông càng thêm nhục, nói càng thêm đau!

Nhục vì nước, mà đau người trước
Nông nỗi này, non nước cũng oan
Hồn ơi! Về với giang san
Muôn người muôn tiếng hát ran câu này

“Hợp muôn sức ra tay Quang Phục
Quyết có phen rửa nhục báo thù…”
Mấy câu ái quốc reo hò
Chữ đồng tâm ấy phải cho một lòng.

 

Tn Ðà – “Thề non nước”

Bài thơ nổi tiếng này làm năm 1920. Hai năm sau, nó được đặt vào trong ruột một cái truyện cũng lấy tên là Thề Non Nước.(5)

Truyện vừa giảng một nội dung của thơ, vừa rất kín đáo cho ta biết thơ còn một nội dung nữa. Thề Non Nước có đến hai ruột: “ruột vỏ” là nội dung phong tình quen thuộc, “ruột ruột” là lòng yêu nước của Tản Ðà. Ðọc đi đọc lại những vần “nước nước non non” ấy, rồi nhớ những bài như Vịnh Bức Ðịa Ðồ Rách v.v., ta không còn ngờ gì nữa, đích thế rồi.

Ðộ tám thập kỷ sau truyện Thề Non Nước, đạo diễn Tự Huy có đem truyện ra làm phim. Trong phim Núi Tương Tư, cái nội dung “bí mật” của bài thơ xưa rốt cuộc đã được “bật mí”.
——–

Nước non nặng một lời thề,
Nước đi, đi mãi, không về cùng non.
Nhớ lời “nguyện nước thề non”,
Nước đi chưa lại, non còn đứng không.
Non cao những ngóng cùng trông,
Suối khô giòng lệ chờ mong tháng ngày.
Xương mai một nắm hao gầy,
Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương.
Trời tây ngả bóng tà dương,
Càng phơi vẻ ngọc nét vàng phôi pha.
Non cao tuổi vẫn chưa già,
Non thời nhớ nước, nuớc mà quên non.
Dù cho sông cạn đá mòn,
Còn non còn nước hãy còn thề xưa.
Non cao đã biết hay chưa?
Nước đi ra bể lại mưa về nguồn.
Nước non hội ngộ còn luôn,
Bảo cho non biết chớ buồn làm chi.
Nước kia dù hãy còn đi,
Ngàn dâu xanh tốt non thì cứ vui.
Nghìn năm giao ước kết đôi,
Non non nước nước chưa nguôi lời thề.

Á Nam Trần Tun Khi – “Hai chữ nước nhà”

Khúc ngâm không biết xưa Á Nam Trần Tuấn Khải viết mấy hơi, mà giờ mình ngon trớn đọc một hơi từ đầu chí cuối. Ðọc xong, thấy thật to hai chữ NƯỚC NHÀ!

Chuyện Nguyễn Phi Khanh dặn con cũng lâu rồi, hẳn TTK chỉ mượn để nhắc thanh niên Việt Nam chớ quên nghĩa vụ đánh Pháp. Những thanh niên nào lỡ quên, đọc đến mấy câu:

“Sống như thế, sống đê, sống mạt
Sống làm chi thêm chật non sông!
Thà rằng chết quách cho xong
Cái thân cẩu trệ ai mong có mình!”

chắc sẽ giật nẩy mình mà vội vàng tìm cách theo chân “anh khóa xuống tàu”!(6)

———

Chốn Ải Bắc mây sầu ảm đạm
Cõi trời Nam gió thảm đìu hiu
Bốn bề hổ thét chim kêu
Ðoái nom phong cảnh như khêu bất bình

Hạt máu nóng thấm quanh hồn nước
Chút thân tàn lần bước dậm khơi
Trông con tầm tã châu rơi
Con ơi con nhớ lấy lời cha khuyên:

Giống Hồng Lạc hoàng thiên đã định
Mấy ngàn năm suy thịnh đổi thay
Trời Nam riêng một cõi này
Anh hùng, hiệp nữ xưa nay kém gì!

Than vận nước gặp khi biến đổi
Ðể quân Minh thừa hội xâm lăng
Bốn phương khói lửa bừng bừng
Xiết bao thảm họa xương rừng máu sông!

Nơi đô thị thành tung quách vỡ
Chốn dân gian bỏ vợ lìa con
Làm cho xiêu tán hao mòn
Lạ gì khác giống dễ còn thương đâu!

Thảm vong quốc kể sao cho xiết
Trông cơ đồ nhường xé tâm can
Ngậm ngùi đất khóc giời than
Thương tâm nòi giống lầm than nỗi này!

Khói Nùng Lĩnh như xây khối uất
Sóng Long Giang nhường vật cơn sầu
Con ơi! càng nói càng đau…
Lấy ai tế độ đàn sau đó mà?

Cha xót phận tuổi già sức yếu
Lỡ sa cơ đành chịu bó tay
Thân lươn bao quản vũng lầy
Giang sơn gánh vác sau này cậy con

Con nên nhớ tổ tông khi trước
Ðã từng phen vì nước gian lao
Bắc Nam bờ cõi phân mao (7)
Ngọn cờ độc lập máu đào còn dây

Kìa Trưng nữ ra tay buồm lái
Phận liễu bồ xoay với cuồng phong
Giết giặc nước, trả thù chồng
Nghìn thu tiếng nữ anh hùng còn ghi

Kìa Hưng Đạo gặp khi quốc biến
Vì giống nòi quyết chiến bao phen
Sông Bạch Đằng phá quân Nguyên
Gươm reo chính khí nước rền dư uy

Giở lịch sử gươm kia còn tỏ
Mở dư đồ đất nọ chưa tan
Giang san này vẫn giang san
Mà nay sẻ nghé tan đàn vì ai?

Con nay cũng một người trong nước
Phải nhắc câu “Gia, Quốc” đôi đường
Làm trai hồ thỉ bốn phương
Sao cho khỏi thẹn với gương Lạc Hồng

Thời thế có anh hùng là thế
Chữ vinh hoa sá kể làm chi!
Mấy trang hào kiệt xưa kia
Hy sinh thân thế cũng vì nước non

Con đương độ đầu xanh tuổi trẻ
Bước cạnh tranh há để nhường ai?
Phải nên thương lấy giống nòi
Đừng tham phú quí mà nguôi tấc lòng

Kiếp luồn cúi, đỉnh chung cũng nhục
Thân tự do chiên chúc (8) mà vinh
Con ơi nhớ đức sinh thành
Sao cho khỏi để ô danh với đời

Chớ lần lữa theo loài nô lệ
Bán tổ tiên kiếm kế sinh nhai
Đem thân đầy đọa tôi đòi
Nhục nhằn bêu riếu muôn đời hay chi?

Sống như thế, sống đê, sống mạt
Sống làm chi thêm chật non sông!
Thà rằng chết quách cho xong
Cái thân cẩu trệ ai mong có mình!

Huống con cũng học hành khôn biết
Làm giống người phải xét nông sâu
Tuồng chi gục mặt cúi đầu
Cam tâm làm kiếp ngựa trâu cho đành!

Nỗi tâm sự đinh ninh dường ấy
Cha khuyên con có bấy nhiêu lời
Con ơi, con phải là người
Thì con theo lấy những lời cha khuyên

Cha nay đã muôn nghìn bi thảm
Nói bao nhiêu tâm khảm càng đau!
Chân mây mặt cỏ rầu rầu
Càng trông cố quốc mạch sầu càng thương!

Lời cha dặn khắc xương để dạ
Mấy gian lao con chớ sai nguyền
Tuốt gươm thề với xương thiên
Phải đem tâm huyết mà đền cao sâu

Gan tráng sĩ vững sau như trước
Chí nam nhi lấy nước làm nhà
Tấm thân sẻ với san hà
Tượng đồng bia đá họa là cam công

Nữa mai mốt giết xong thù nghịch
Mũi long tuyền lau sạch máu tanh
Làm cho đất động trời kinh
Bấy giờ quốc hiển gia vinh có ngày!

Nghĩa vụ đó, con hay chăng tá?
Tính toán sao vẹn cả đôi đường
Cha dù đất khách gửi xương
Trông về cố quốc khỏi thương hồn già

Con ơi! hai chữ NƯỚC NHÀ…

__________

(1) Lời ca khúc Gia Tài Của Mẹ của Trịnh Công Sơn.

(2) Xem Dụng Võ Là Bất Thường của Ðào Duy Anh, trang gocnhin.net

(3) Sông Rồng: sông chảy qua Mỹ Tho. Trên sông có cù lao Rồng. Thành Phụng: thành Gia Ðịnh.

(4) Lời Phan Bội Châu trong hồi ký Tự phán.

(5) Xem Tuyển tập Tản Ðà, nxb. Hội Nhà Văn, VN, 2002, tr. 139.

(6) Xem bài Tiễn Chân Anh Khóa Xuống Tàu của ANTTK.

(7) Sách sử chép, những nơi giáp giới nước ta với nước Tàu thì ngọn cỏ chia lả ra hai bên. Nghĩa là nửa đường bên kia thì ngọn cỏ lả về Tàu, mà bên này thì ngọn cỏ lả về bên ta, cho nên gọi là phân mao; phân mao tức là chia ngọn cỏ vậy. (ANTTK)
(8) Chiên chúc: rau cháo. (ANTTK)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s