Thu Tứ – NGUYỄN KHUYẾN

Với những người yêu nước, chuyện nước non tất nhiên ảnh hưởng đến thái độ hưởng thụ đời sống. Nguyễn Công Trứ “chơi” hết sức vô tư, trong khi Nguyễn Khuyến lòng dạ nào mà “thùng thùng đôi tiếng trống”… Quốc sự canh cánh, nên trông thấy các con mình vui vẻ quá, cụ Tam Nguyên trách: “Sao con đàn hát vẫn say sưa?” (bài Ngày Xuân Dặn Các Con). Từ Nguyễn Khuyến về sau, người yêu nước có người vẫn chơi… cật lực đấy, như Tú Xương, như Tản Ðà, nhưng lòng họ không thực là vui vẻ đâu.

* * *

Khóc Dương Khuê

Thu vịnh

Trở về vườn cũ

Thu điếu

Bài di chúc

Bạn đến chơi nhà

Đống ông Cuội

Hội Tây

Tự trào

Anh giả điếc

Thu ẩm

Lụt hỏi thăm bạn

Hoài cổ

Một thoáng Xuân Hương!

Đĩ cầu Nôm

 

Hình như nhắc việc học hành thi cử của Nguyễn Khuyến, người ta hay nhớ cái danh Tam Nguyên mà ít nhớ rằng ông cũng lao đao trường ốc có hạng. Nguyễn Khuyến thi Hương rớt liên tiếp bốn khoa (1852, 1855, 1858, 1861), đến nỗi phải “nghĩ”:

“Nghĩ tôi lại gớm cái mình tôi,

Tuổi đã ba mươi kém một thôi…

… Bốn khoa hương thí không đâu cả,

Một mảnh vườn hoang bán sạch rồi.”

Mãi năm 1864 ông mới đỗ cử nhân. Tuy đỗ đầu thi Hương, nhưng vào thi Hội ông lại trượt liên tiếp ba khoa, đến năm 1871 mới đỗ thi Hội, thi Ðình (lại đỗ đầu).

Thi gần hai mươi năm mới xong “khoa”. Còn “hoạn”, tiếng rằng làm quan từ năm 1871 đến 1884, nhưng trong khoảng ấy Nguyễn Khuyến đã về quê cư tang mẹ mất 3 năm, mà khi tại chức thì hết hai phần ba thời gian làm học quan và sử quan chứ không phải làm quan cai trị.(*)

Ðời sống dĩ nhiên ảnh hưởng đến văn chương. Nguyễn Khuyến đỗ tuy muộn nhưng vẫn sớm hơn Nguyễn Công Trứ và khi xuất chính ông lại tương đối ít gặp cảnh bon chen, hẳn một phần do đó thơ ông ít bài than đời hơn thơ Nguyễn Công Trứ.

Hai Nguyễn tâm sự riêng khác, mà tâm sự về chuyện nước non cũng khác. Nguyễn Công Trứ làm quan vào thời đất nước còn hoàn toàn độc lập, nên phấn khởi, hào hứng. Trong khi Nguyễn Khuyến làm quan khi giặc Pháp đã bắt đầu tiến hành chiến tranh xâm lược, nên ông vừa căm tức giặc hà hiếp vừa chán nản trước sự bất lực của triều đình ta. Rồi sau khi nước mất, thì ông vừa hận giặc cướp tài nguyên bóc lột sức dân vừa “đau đớn lòng” trước “những điều trông thấy” sau “cuộc bể dâu”…

Với những người yêu nước, chuyện nước non tất nhiên ảnh hưởng đến thái độ hưởng thụ đời sống. Nguyễn Công Trứ “chơi” hết sức vô tư, trong khi Nguyễn Khuyến lòng dạ nào mà “thùng thùng đôi tiếng trống”… Quốc sự canh cánh, nên trông thấy các con mình vui vẻ quá, cụ Tam Nguyên trách: “Sao con đàn hát vẫn say sưa?” (bài Ngày Xuân Dặn Các Con). Từ Nguyễn Khuyến về sau, người yêu nước có người vẫn chơi… cật lực đấy, như Tú Xương, như Tản Ðà, nhưng lòng họ không thực là vui vẻ đâu.

Nguyễn Khuyến ít chơi nên trong thơ ông ít thấy cái chơi. Mặt khác, sau khi cáo quan trở lại Vườn Bùi, ông đã sống giữa quê hàng một phần tư thế kỷ nữa mới mất, nên trong thơ ông rất hay thấy quê. Thơ nôm trong mùa c đin, mt tài thơ ln bng v quê, y như th s xếp đặt ca hn nước để cái nơi sng chính ca bao nhiêu thế h người Vit nó được vinh danh đích đáng trong thơ Vit! Th nghĩ: v ni dung, nếu không có nhng bài thơ quê ca Nguyn Khuyến, thì văn hc ch nôm s thiếu sót đến chng nào!

Ngoài chứa hình ảnh quê, thơ Nguyễn Khuyến còn đậm đà màu sắc dân tộc ở khuynh hướng “Xuân Hương” lồ lộ trong một số bài làm từ trước khi Tam Nguyên trở về Yên Ðổ.

Ðầy một bụng chữ Tàu mà vẫn không mảy may nguôi lòng Việt là đặc điểm nổi bật của một nho ta. Nhưng thực ra, nó cũng là đặc điểm của hầu hết nho ta.

Khóc Dương Khuê

Bài Khóc Dương Khuê kết hợp một cái hay gặp với một cái ít gặp nơi thơ Nguyễn Khuyến.

Cái hay gặp là chuyện làm thơ chữ Hán rồi tự dịch ra chữ nôm. Cái ít gặp là thể ngâm, tức song thất lục bát.

Không biết người Tàu như có đọc đến bài “Vãn đồng niên Vân Ðình tiến sĩ Dương thượng thư” thì thấy thế nào, chứ người Việt nghe cụ Nghè Nguyễn ngâm nga khóc cụ Nghè Dương, tưởng có ai mà không buột miệng trầm trồ khúc ngâm hay đáo để!

———

 

Bác Dương thôi đã thôi rồi,
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta.

Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước,
Vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhau.
Kính yêu từ trước đến sau,
Trong khi gặp gỡ khác đâu duyên trời.

Cũng có lúc chơi nơi dặm khách,
Tiếng suối nghe róc rách lưng đèo.
Có khi từng gác cheo leo,
Thú vui con hát lựa chiều cầm xoang.

Cũng có lúc rượu ngon cùng nhắp,
Chén quỳnh tương ăm ắp bầu xuân.
Có khi bàn soạn câu văn,
Biết bao đông bích, điển phần trước sau.

Buổi dương cửu cùng nhau hoạn nạn,
Phận đẩu thăng chẳng dám than trời.
Bác già, tôi cũng già rồi,
Biết thôi, thôi thế thì thôi mới là!

Muốn đi lại tuổi già thêm nhác,
Trước ba năm gặp bác một lần.
Cầm tay hỏi hết xa gần,
Mừng rằng bác hãy tinh thần, chưa can.

Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác,
Tôi lại đau trước bác mấy ngày.
Làm sao bác vội về ngay,
Chợt nghe, tôi bỗng chân tay rụng rời.

Ai chẳng biết chán đời là phải,
Sao vội vàng đã mải lên tiên.
Rượu ngon không có bạn hiền,
Không mua không phải không tiền không mua.

Câu thơ nghĩ đắn đo không viết,
Viết đưa ai, ai biết mà đưa.
Giường kia treo những hững hờ,
Ðàn kia gẩy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn.

Bác chẳng ở, dẫu van chẳng ở,
Tôi tuy thương, lấy nhớ làm thương.
Tuổi già hạt lệ như sương,
Hơi đâu chuốc lấy hai hàng chứa chan.

Thu vịnh

Bài thơ thu này của Nguyễn Khuyến có đôi chỗ khó hiểu, may có Xuân Diệu đã tìm hiểu và giảng cho chúng ta.

Trời xanh ngắt là ban ngày, sao lại có trăng? Theo XD, đó là vì NK tổng hợp đêm ngày để khái quát cảnh thu. Cần trúc sao lại lơ phơ? Vì đó không phải cần câu, mà là “cây tre (…) còn non, ít lá, thanh mảnh (…) như cái cần câu”.(1)

Vẫn theo XD, trong ba bài thơ thu nổi tiếng của NK, bài Thu Vịnh “mang cái hồn của cảnh vật mùa thu hơn cả, cái thanh, cái trong, cái nhẹ, cái cao (…) Cái hồn (…) của cảnh thu (…) nằm ở trong bầu trời, ở trên trời (…) Trời thu rất xanh rất cao tỏa xuống cả cảnh vật”.

Tại sao Nguyễn Khuyến thẹn với Ðào Tiềm? Vì khi ấy ông chưa thôi làm quan, hay vì ông đã trót làm quan lâu hơn Ðào Tiềm?

———-

Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.
Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Ðào.

Trở về vườn cũ

Ðời làm quan của Nguyễn Khuyến tương đối ngắn: từ 1871 đến 1884, có 14 năm. Vậy khoảng thời gian bốn mươi năm trong bài thơ dưới đây không phải tính từ lúc ông xuất chính.(2)

“Trở về vườn cũ” diễn nôm “Bùi viên cựu trạch ca”. Cả bài thơ dịch lẫn bài thơ nguyên tác đều do Nguyễn Khuyến. Tam Nguyên Yên Ðổ nổi tiếng ưa làm thơ chữ Hán rồi dịch qua tiếng Việt (có lần nào ông làm ngược lại?).

Ông yêu tiếng Việt, cái ấy hiển nhiên. Còn những bài thơ chữ Hán, ông làm là để khỏi quên vốn liếng của một sĩ tử từng ba lần “đè đầu” thiên hạ đó chăng?

“Ngươi” tiếc chẳng gặp Lỗ hầu, thế là “ngươi” chê đương kim thánh thượng!

———-

Vườn Bùi chốn cũ!
Bốn mươi năm, lụ khụ lại về đây.
Trông ngoài sân đua nở mấy chồi cây,
Thú khâu hác lâm tuyền âu cũng thế!

Bành Trạch cầm xoang ngâm trước ghế,
Ôn công rượu nhạt chuốc chiều xuân.
Ngọn gió xuân ngảnh lại lệ đầm khăn,
Tính thương hải tang điền qua mấy lớp.

Ngươi chớ giận Lỗ hầu chẳng gặp,
Như lơ phơ tóc trắng lại làm chi?
Muốn về sao chẳng về đi!(3)


Thu điếu

Thơ nôm, ngay cả thơ nôm hay nhất, cũng không nhất thiết chứa những “hình ảnh nôm”. Trong Cung oán, trong Chinh ph, trong Kiu, đều không thấy quê hương Việt Nam đâu cả.

Trong khi hồi thế kỷ 15, khi thơ nôm còn mới đầu mùa, trong thơ Nguyễn Trãi đã xuất hiện những rau muống, mồng tơi, dọc mùng v.v.

Sở dĩ Quc âm thi tp chứa rau muống, chắc chắn ấy bởi tác giả nó đã sống rất gần rau muống, khi về Côn Sơn.

Cũng thế, chắc chắn nhờ Nguyễn Khuyến cáo quan trở lại Vườn Bùi, mà thi ca cổ điển ta mới bỗng có một loạt bài chứa đầy những hình ảnh quen thuộc quanh ta. Thơ nôm chín rộ, Nguyễn Khuyến về ở quê, đó là một trùng hợp tuyệt vời chứ không phải một sự bắt buộc phải xẩy ra đâu!


———-

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo.
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.
Tựa gối, buông cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

Bài di chúc

Bài thơ sau đây Nguyễn Khuyến “dịch” từ thơ chữ Hán của mình. Cái lối làm thơ chữ Hán rồi tự diễn nôm ấy đã có lần bàn rồi.(4)

Ðọc “di chúc” thấy hay, bỗng nhớ một lời khen viết đã lâu lắm. Hồi tiền chiến, Thùy Thiên bảo: “Văn ông Yên Ðổ dẫu hay cũng chỉ có cái giọng kiêu”(5).

Cụ Tam Nguyên có kiêu không, kiêu những chuyện gì, đọc kỹ lời dặn con ắt sẽ rõ. Nhưng tưởng văn ấy dẫu có kiêu thì cũng vẫn hay!

———-

Kém hai tuổi xuân đầy chín chục,
Số thầy sinh phải lúc dương cùng.(6)
Ðức thầy đã mỏng mòng mong,
Tuổi thầy lại thọ hơn ông cụ thầy.

Học chẳng có rằng hay chi cả,
Cưỡi đầu người kể đã ba phen.
Tuổi thầy tuổi của gia tiên,
Cho nên thầy được hưởng niên lâu ngày.

Ấy thuở trước ông mày cũng đỗ,
Hóa bây giờ cho bố làm nên.
Ơn vua chửa chút báo đền,
Cúi trông thẹn đất, ngửa lên thẹn trời.

Sống không để tiếng đời ta thán,
Chết lại về quê quán hương thôn.
Mới hay trăm sự vuông tròn,
Sống lâu đã trải, chết chôn chờ gì.

Ðồ khâm liệm chớ nề xấu tốt,
Kín chân tay đầu gót thì thôi.
Cỗ đừng to lắm con ơi,
Hễ ai chạy lại, khuyên mời người ăn.

Tế đừng có viết văn mà đọc,
Trướng đối đừng gấm vóc làm chi.
Minh tinh con cũng bỏ đi,
Mời quan đề chủ, con thì không nên.

Môn sinh chớ bỏ tiền đặt giấy,
Bạn của thầy cũng vậy mà thôi.
Khách quen chớ viết thiếp mời,
Ai đưa lễ phúng con thời chớ thu.

Chẳng qua nợ để cho người sống,
Chết đi rồi còn ngóng vào đâu.
Lại mang cái tiếng to đầu,
Khi nay bày biện, khi sau chê bàn.

Cờ biển của vua ban ngày trước,
Lúc đưa thầy, con rước đầu tiên.
Lại thuê một lũ thợ kèn,
Vừa đi vừa thổi, mỗi bên dăm thằng.

Việc tống táng lăng nhăng qua quít,
Cúng cho thầy một ít rượu hoa.
Ðề vào mấy chữ trong bia,
Rằng: “Quan nhà Nguyễn cáo về đã lâu”.


Bạn đến chơi nhà

Bài Bạn Ðến… của Nguyễn Khuyến làm ta nhớ bài Khách Chí của Ðỗ Phủ:

“Quanh nhà nam bắc lụt to,
Hôm hôm chỉ thấy đàn cò lại chơi.
Lối hoa chẳng quét vì ai,
Cửa bồng nay mới đón ngài mở ra.
Xuềnh xoàng mâm chén, chợ xa,
Có vò rượu cũ của nhà nấu thôi.
Nếu cho tiếp rượu cùng vui,
Gọi ông hàng xóm sang ngồi chén luôn.”

(Trần Trọng Kim dịch)

Hai bài đều hay, nhưng thơ Nguyễn hóm hỉnh, còn thơ Ðỗ thì không.

———-

Chẳng mấy khi nay bác tới nhà,
Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.
Ao sâu nước cả, khôn mò cá,
Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà.
Cải đã tàn cây, cà chửa nụ,
Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.
Ðầu trò tiếp khách, trầu không có,
Bác đến chơi đây, ta với ta!

Đống ông Cuội

Cái câu số mười!
Nhà nho “cưỡi đầu người kể đã ba phen”(7), nhà nho đã thồn đầy bụng mình bao nhiêu lời thánh, bao nhiêu chữ hiền, lại đi thơ thẩn bằng thứ lời không “thánh” chút nào, thứ chữ không “hiền” chút nào vậy sao?

Vậy thì sao?

Nguyễn Khuyến tam nguyên bất quá là Nguyễn Khuyến vỏ. Còn cái ông Nguyễn Khuyến ruột, ông ấy vẫn là một người Việt Nam chính cống. Xưa kia nếu thực là người Việt, không ai kiêng kỵ thứ lời ấy, chữ ấy đâu.

Ðối với chuyện trai gái ăn nằm, các cụ nho ta vốn vẫn giữ cái nhìn cởi mở, hồn nhiên, chứ không có cái lối nghiêm nghiêm trang trang, quay mặt nhắm mắt như các nho Tàu đâu.(8) Nho bên Tàu làm vô số thơ mà đố ai tìm được một bài có “âm hộ” hay “dương vật”. Nho bên ta làm ít thơ hơn mà “buội” hiện ra không phải chỉ một lần này.

Người Việt vốn ít lý luận lôi thôi, nhưng về riêng cái chuyện trai trai gái gái, tổ tiên ta có để lại lời:

“Ai dám bảo chữ dâm là bậy
Không có dâm sao có nẩy ra hiền”.

———-

Ðầu đường ngang có một chỗ lội
Có miếu ông Cuội cao vòi vọi
Ðàn bà đến đó vén quần lên
Chỗ thời đến háng, chỗ đến gối
Ông Cuội ngồi trông mỉm miệng cười
“Cái gì trông trắng như con cúi?”
Vội vàng khép nép đứng liền thưa
“Trót dại hở hang xin xá tội!”
Ông rằng: “Mày cũng chẳng tội gì,
Chỉ tội làm ông cứng con buội
Muốn tốt mày về bảo làng mày:
Ra đây ông cho giống ông Cuội.”
Cho nên làng ấy sinh ra người
Sinh ra rặt những thằng nói dối.

Hội Tây

Hội Thăng Bình là hội mừng ngày Cách Mạng Pháp 14-7. Hội ấy dĩ nhiên mới ra đời sau ngày nước Việt Nam bỗng có… mẹ (!!!).

Ngày kỷ niệm quan trọng ở nước mẹ, dân nước con cũng được tha hồ vui chơi. Dân, ở đâu cũng thế, đa số biết gì vinh nhục. Dân càng “vui thế bao nhiêu” thì cha mẹ dân như Nguyễn Khuyến càng thấy “nhục bấy nhiêu”.

“Bà quan tênh nghếch” hẳn là phu nhân của một quan “Ðại Pháp”, vì chỉ các bà “đầm xòe” mới có lối ngồi “tênh nghếch”…

———-

Kìa hội Thăng Bình tiếng pháo reo
Bao nhiêu cờ kéo với đèn treo
Bà quan tênh nghếch xem bơi trải
Thằng bé lom khom nghé hát chèo
Cậy sức cây đu nhiều chị nhún
Tham tiền cột mỡ lắm anh leo
Khen ai khéo vẽ trò vui thế
Vui thế bao nhiêu nhục bấy nhiêu.

Tự trào

“Bia xanh”, “bảng vàng”, “cưỡi đầu người kể đã ba phen”(9), sang để đâu cho hết!

“Cờ đang dở cuộc, không còn nước,
Bạc chửa thâu canh, đã chạy làng.”

Ý của hai cái câu này, có phải Nguyễn Khuyến đầu tiên đưa ra không nhỉ? Dù sao, sau NK thỉnh thoảng ta lại gặp nó ở chỗ nọ chỗ kia…

———

Ta cũng chẳng giàu, cũng chẳng sang,
Chẳng gầy chẳng béo, chỉ làng nhàng.
Cờ đang dở cuộc, không còn nước,
Bạc chửa thâu canh, đã chạy làng.
Mở miệng nói ra gàn bát sách,
Mềm môi chén mãi tít cung thang.
Nghĩ mình lại gớm cho mình nhỉ!
Thế cũng bia xanh, cũng bảng vàng!

Anh giả điếc

Dùng tục ngữ trong thơ, tại sao không? Thơ chuộng súc tích, mà tục ngữ thì rất súc tích.

Hơn nữa, cái câu tục ngữ rất Việt ấy nó lại giúp “chữa” bớt sự có mặt của hai câu tiếng Tàu trong bài thơ tiếng Việt.

“Anh giả điếc” tất nhiên không phải lười biếng như trâu. Chẳng qua trong buổi nước nhà mất độc lập, làm việc nhiều khi là làm những việc không ra gì, nên anh mới “khéo ngơ ngơ ngác ngác” để khỏi vấy tay…

———-

Trong thiên hạ có anh giả điếc,
Khéo ngơ ngơ ngác ngác, ngỡ là ngây!
Chẳng ai ngờ “sáng tai họ, điếc tai cày”,
Lối điếc ấy sau này em muốn học.

Tọa trung đàm tiếu, nhân như mộc,
Dạ lý phan viên, nhĩ tự hầu.(10)
Khi vườn sau, khi ao trước, khi điếu thuốc, khi miếng trầu;
Khi chè sen năm bảy chén, khi Kiều lẩy một đôi câu.

Tỉnh một chốc, lâu lâu rồi lại điếc
Ðiếc như thế ai không muốn điếc!
Ðiếc như anh dễ bắt chước ru mà
Hỏi anh, anh cứ ậm à!

Thu ẩm

Thu, ẩm đêm tốt, ẩm ngày cũng tốt. “Bán dạ tam bôi tửu”, rồi “bán nhật tam bôi tửu”. “Thu đêm chưa thỏa lại thu ngày”, cho nên mới trời “xanh ngắt” tiếp “đêm sâu”…

Rượu hay không bằng hay rượu. Nhưng có thực là “lão” rượu không hay? “Say nhè”, sao đóm lập lòe cũng thấy, khói phất phơ cũng thấy, bóng trăng loe dưới ao cũng thấy?!

Chữ hay (nên đỗ đầu ba lần), rượu hay (nên rượu mà vẫn tỉnh), thơ hay (ai cũng biết).

Ối, cụ Tam Nguyên Ba Hay!

———-

Năm gian nhà cỏ thấp le te,
Ngõ tối đêm sâu đóm lập lòe.
Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt,
Làn ao lóng lánh bóng trăng loe.
Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt?
Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe.
Rượu tiếng rằng hay, hay chả mấy,
Ðộ năm ba chén đã say nhè.

Lụt hỏi thăm bạn

“Bác Châu Cầu” là Bùi Văn Quế ở Hà Nam, đỗ cử nhân cùng khoa với Nguyễn Khuyến, làm quan đến tuần phủ, khi về nghỉ hưu lại kinh doanh nuôi lợn và nấu rượu.

Ðành “sĩ kiêm bách nghệ”, tức sĩ làm nghề gì cũng được, mà làm giàu cách chân chính thì Khổng tử không hề bài bác, nhưng liệu sống ở đời có phải tích cực đến thế này không?

Lụt lội “bác” phờ râu lo lợn lo nếp, còn “em” được thể nước trắng đồng, đưa luôn “chiếc lá” lên đồng mà “thung thăng”…

“Nên chăng nghĩ lại kẻo nhầm”(11), “bác” ơi.

———-

Ai lên nhắn hỏi bác Châu Cầu,
Lụt lội năm nay bác ở đâu?
Mấy ổ lợn con, rày lớn bé?
Vài gian nếp cái, ngập nông sâu?
Phận thua suy tính, càng thêm thiệt,
Tuổi cả chơi bời, họa sống lâu.
Em cũng chẳng no, mà chẳng đói:
Thung thăng chiếc lá, rượu lưng bầu.

Hoài cổ

Dĩ nhiên thực là “nghĩ chuyện đi nay cũng nực…  khóc”. Nguyễn Khuyến ức giặc Pháp bắt người Việt “khoét rỗng ruột gan” đất Việt cho chúng tha hồ chở về làm giàu nước chúng đó.

“Mây trắng về đâu…” nhắc “Bạch vân vô tận thì”. Vương Duy khi “qui ngọa Nam Sơn” cũng “bất đắc ý”…(12)

———

 

Nghĩ chuyện đời xưa cũng nực cười,
Sự đời đến thế, thế thời thôi!
Rừng xanh núi đỏ hơn ngàn dặm,
Nước độc ma thiêng mấy vạn người.
Khoét rỗng ruột gan trời đất cả,
Phá tung phên giậu hạ di rồi.
Thôi thôi đến thế thời thôi nhỉ,
Mây trắng về đâu nước chảy xuôi.

Một thoáng Xuân Hương!

“Trông mặt mà bắt hình dong” coi chừng sai bét.

Nhưng trường hợp Nguyễn Khuyến chắc bất cứ ai ngắm nghía bức chân dung phổ biến (13), ngắm đôi mắt như đang mỉm cười rất hóm hỉnh ấy, cũng đoán người trong ảnh có tính thích khôi hài, và đoán như thế là đúng phóc.

Ðại trí thức, quan lớn, mà thơ “bỡn cô tiểu ngủ ngày” v.v. tỉnh bơ. Hoan hô nhà nho dân tộc!

———

 

Ôm tiu, gối mõ ngáy khò khò,
Gió lọt phòng thiền mát mẻ cô.
Then cửa từ bi gài lỏng cánh,
Nén hương tế độ đốt đầy lò.
Cá khe lắng kệ, đầu hi hóp,
Chim núi nghe kinh, cổ gật gù.
Nhắn bảo chúng sinh như muốn độ,
Sẽ quì, sẽ niệm, sẽ “nam mô!” (Bỡn Cô Tiểu Ngủ Ngày)

Trai sao chẳng biết tính con cò
Mày hở hang chi nó mổ cho
Ðã cậy dày mu không khép kín
Cho nên dài mỏ chực ăn to
Thôi về bãi bể cho êm ái
Ðể mặc bên sông nó gật gù
Cò trắng dẫu khôn đành gác mỏ
Trai già chờ lúc lại phơi mu. (Cò Mổ Trai)

Con tạo ghen chi gái má hồng,
Mà đem nước đến vỗ tầm vông.
Gió lùa cửa cống bèo man mác,
Trăng xỏ buồng trai bóng phập phồng.
Những sợ anh kình rình dưới rốn,
Lại lo chú chuối lẩn bên hông.
Quản chi điểm phấn trang hồng nữa,
Chỉ biết nơi sâu với chốn nông. (Gái Góa Than Lụt)

Thu vén giang sơn một cắp tròn,
Nghìn thu sương tuyết vẫn không mòn.
Biết chăng chỉ có ông Hà bá,
Mỉm mép cười thầm với nước non. (Gái Rửa Bờ Sông)


Đĩ cầu Nôm

Tục truyền “con đĩ cầu Nôm” là cô Tư Hồng.(14)

“Đĩ mà có tàn, có tán, có hương án, có bàn độc”, trách sao cụ Tam Nguyên chẳng cao hứng “khá khen”.

Bụng đầy chữ nho, nhưng cụ xổ nôm thì “con đĩ” nào cũng chỉ có nước bưng tai!

———-

Thiên hạ bao giờ cho hết đĩ
Trời sinh ra cũng để mà chơi
Dễ mấy khi làm đĩ gặp thời
Chơi thủng trống, long dùi âu mới thích

Ðĩ bao tử càng chơi càng lịch
Tha hồ cho khúc khích chị em cười
Người ba đấng của ba loài
Nếu những như ai thì đĩ mốc

Ðĩ mà có tàn, có tán, có hương án, có bàn độc (15)
Khá khen thay làm đĩ có tông (16)
Khắp giang hồ chẳng chốn nào không
Suốt Nam, Bắc, Tây, Ðông đều biết tiếng

Ðĩ mười phương chơi cho đủ chín
Còn một phương để nhịn lấy chồng
Chém cha cái kiếp đào hồng (17)
Bạn với kẻ anh hùng cho đứng số

Vợ bợm, chồng quan, danh phận đó,
Mai sau ngày giỗ có văn nôm
Cha đời con đĩ cầu Nôm.

________________

(*) Theo Nguyễn Khuyến – tác phm, Hội Văn học Nghệ thuật Hà Nam Ninh, nxb. Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1984.

(1) Xuân Diệu, Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, nxb. Văn Học, VN, 1987.

(2) Nguyễn Khuyến – tác phm: “Theo gia phả chi thứ họ Nguyễn, năm 1843, ông thân sinh Nguyễn Khuyến mới đưa vợ con từ quê ngoại Hoàng Xá về xứ Vườn Bùi (thuộc làng Vị Hạ) ở ngôi từ đường do dân và học trò ở quê làm cho. Kể từ đó cho đến khi Nguyễn Khuyến cáo quan về (1884), nhà ông ở đấy đã bốn mươi năm có lẻ…” (“Xứ” ở dưới làng, có phải xứ là xóm?)

(3) Vườn Bùi: ở làng Vị Hạ, xã Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Khâu, hác, lâm, tuyền: gò, vũng, rừng, suối: cảnh ẩn dật. Bành Trạch: nơi Ðào Tiềm (TQ, đời Tấn) làm quan: chỉ Ðào Tiềm. Xoang: điệu hát. Cầm xoang: đàn hát. Ôn công: Tư Mã Quang (TQ, đời Bắc Tống), khi về ở ẩn ưa uống rượu giải sầu. Lỗ hầu: Lỗ Bình công, người Mạnh Tử muốn gặp để giúp mà không gặp được.

(4) Xem lời bàn bài Trở Về Vườn Cũ.
(5) Tạp chí Tri Tân (1941-1945), nxb. Hội Nhà Văn, VN, 1999, tr. 520.

(6) Nguyễn Khuyến thọ 75 tuổi. Xưa kia ta hay nói tăng tuổi thọ?
Dương cùng, tức dương cửu, chỉ vận hạn rủi ro.

(7) Xem Bài Di Chúc của Nguyễn Khuyến.
(8) Xem bài Có Thần Và Thần và bài Oai Như Gái Việt của TT.

(9) Xem bài Bài Di Chúc.

(10) Ngồi giữa chỗ người cười nói thì ngây như gỗ / Ban đêm leo tường lại nhanh như khỉ.

(11) Câu chót trong bài thơ hát nói Ðời Ðáng Chán của Tản Ðà.

(12) Xem bài Tống Biệt của Vương Duy.

(13) Bức chân dung trong đó Nguyễn Khuyến tay cầm chén rượu.

(14) Theo Nguyễn Khuyến – tác phm: “Tên thật là Trần Thị Lan quê (…) Hà Nam Ninh (…) bỏ nhà ra Hải Phòng (…) lấy một khách buôn giàu là chú Hồng. Tên này chết (…) lấy tên cố đạo phá giới là Croibier Hugust (…) (hình như do Hugust đóng quan tư mà) dân gọi ghép thị là cô Tư Hồng. Nhờ uy thế chồng, Tư Hồng được thầu phá nốt những mảng tường thành Hà Nội lấy gạch xây nhà cho thuê (…) trở nên giàu có. Nhân Trung kỳ có lụt, Tư Hồng buôn gạo chở lậu thuế vào bán, bị bắt, liền nói dối là đem phát chẩn. Do đó thị không những không bị tội, mà còn được thực dân đề nghị triều Nguyễn phong cho thị hàm “Tứ phẩm cung nhân”, và cho cả bố thị hàm “Hàn lâm thị độc”. Tư Hồng về làng ăn khao linh đình, có người mừng đôi câu đối: “Một đạo sắc phong hàm cụ lớn / Trăm năm danh giá của bà to””.

(15) Phương ngôn có câu “Ðĩ tàn đĩ tán, có hương án thờ vua”, chỉ bọn đĩ điếm nhiều thế lực.

(16) Có nòi.

(17) Kiếp trăng hoa.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s