GS Tôn thất Trình – Hiểu biết qua về hai cơ quan kinh tế, tài chánh: Qủy Tiền tệ Quốc Tế và Ngân Hàng Thế Giới

Nhóm G-20 ( quốc gia ) họp thượng đỉnh ở Los Cabos, Mexicô – Mễ Tây Cơ  các ngày 18- 19 tháng sáu : chưa thấy các nhà lảnh đạo thế giới ra thông cáo gì quan trọng về cam kết của họ tái tạo hình dạng  của những cơ chế tỉ như Ngân Hàng Thế giới- World Bank và Qủy Tiền Tệ  Quốc Tế – International Monetary Fund , IMF,  phản ảnh những thay đổi lớn lao trên cán cân quyền lợi  kinh tế thế giới ngày nay.  Những tuyên bố như vậy, trước đây đã được cam kết rất nhiều ở mọi  hội họp G- 20,  kể từ buổi họp đầu tiên tại Hoa Thịnh Đốn  năm 2008.

Khi Đại Trì Trệ (giảm bớt) Great Recession vang rền, đụng vào những quốc gia xưa cũ, rất giàu có ở Âu Châu và Bắc Mỹ mạnh mẽ hơn  là các quốc gia mới phần nào giàu có  các nền kinh tế  Á Châu và Châu Mỹ La Tinh, trật tự truyền thống quản trị  tài chánh tòan cầu  đã tỏ ra mỗi ngày mỗi  bị tước vỏ, cọ sờn. Chính vì  kéo chân lê thê  thiễn cận ở Hoa Kỳ và Âu Châu mà  mục đích này đã không thực hiện được.  Dù mọi chuyện  nói cần cải cách, các quốc gia đã phát triễn vẫn còn nắm chặc một uy quyền bỏ phiếu quá chênh lệch bên trong đại sảnh Ngân Hàng Thế Giới và IMF.  Hoa Kỳ vẫn còn quyền phủ quyết – veto trên những  quyết định chánh yếu  hai cơ chế này làm ra.  Điểm khôi hài  là  bằng cách níu chặc những đặc quyền này, Hoa Kỳ và Âu Châu làm nản trí các quốc gia khác  muốn góp thêm phần vào các cơ chế đa quốc gia; đồng thời làm  chúng ít hửu hiệu hơn, có thể nhờ các quốcgia khác giúp đở đúng vào thời gian các nền kinh tế thế giới giàu có ngừng trệ.

Năm 1947, Hoa Kỳ dẫn đạo, tạo ra Ngân Hàng Thế Giới và IMF cũng như Thỏa Hiệp Tổng Quát  về Thuế Xuất Nhập Khẩu ( Hải Quan ) – General Agreement on Tariffs and Trade, tiền thân của Tổ chức Thương Mãi Thế giới- World Trade Organisation. Từ năm 1945 đến năm 1975,  trung bình  thuế nhập khẩu Hoa Kỳ trên hàng hóa phải nộp thuế  rớt xuống gần 30% , chỉ còn khỏang 8%.  Mọi khía cạnh đa quốc gia hào phóng này  bắt nguồn từ nhận thức là một nền kinh tế tòan cầu vạm vỡ, chỗ dựa cho những cơ chế mạnh mẽ hợp tác quốc tế,  cũng nhằm vào quyền lợi lâu dài của Hoa Kỳ .

Tầm quan trọng của chủ nghĩa đa quốc gia cho Hoa Kỳ  ngày nay  to lớn hơn nhiều, so với cách đây 60 năm.  Xuất khẩu so với thành phần  sản lượng Hoa Kỳ đã leo thang từ 5% đến 13 %  từ năm 1960 đến năm 2010.  Cứu nguy năm 2008  của Nhóm Quốc tế Hoa Kỳ  là một nghiên cứu ca( trường hợp ) riêng rẽ về tính cách liên kết  của những thị trường tài chánh cận đại.  Trong số  170 tỉ  đô la Mỹ của các người đóng thuế  sử dụng để cứu sống công ty bảo kê ( hiểm ) khổng lồ, khoảng 37 tỉ  mau lẹ chuyễn qua 5  đối giá ngọai quốc là Société Générale –Pháp,  Deutsche Bank –Đức , Barclays – Anh và UBS – Thụy sĩ .

Hoa Kỳ và Âu Châu  không còn ngự trị kinh tế thế giới nữa. Từ 1990 đến 2010,  phần phối hợp tổng sản lượng nội địa  của hai miền lục địa này rớt từ 52% xuống chỉ còn 42%, theo sách  Nhật thực –Eclipse của Arvind Subramanian.  Phần các quốc gia đã phát triễn ở  thương mãi tòan cầu  cũng rơi từ 31 % xuống còn 20 % ở  thập niên vừa qua.  Và  nay cả hai miền là những nơi nhập khẩu thực sự- net importers  tư bản. Năm 1950, riêng Hoa Kỳ  đã chiếm 1/3 xuất khẩu thực sự  tư bản tòan cầu. Ngày nay, Hoa Kỳ vay mượn  nặng nề từ Trung Quốc, trong khi Âu Châu vay IMF nặng nề. Từ  2007, IMF đã  cam kết hơn 300 tỉ đô la Mỹ  tiền cho vay, đa số chảy vào Âu Châu: Hy Lạp , Bồ Đào Nha  và Ái Nhĩ Lan- Ireland  là ba quốc gia vay nợ nhiều nhất.

Nay các quốc gia vùng euro, xử dụng tiềm năng được vay mượn của thùng tiền bạc  đầy tràn  từ IMF như thể là tấm chăn an ninh cho các nhà đầu tư. Tuồng như  chính Hiệp Hội Âu Châu sẽ có được đa số  tiền mặt  ( song song với các chánh sách mới )  cần thiết,  để tránh tan vỡ  tiền tệ hiệp hội, thế nhưng IMF  thêm nhiều tài nguyên hơn  có thể  cọng thêm an ninh hơn nữa.

Các quốc gia đã mở mang  và đặc biệt là Hoa Kỳ, cần có các cơ chế  đa quốc gia, không chỉ để giúp họ đi ra khỏi bấn lọan hiện thời, mà còn  bảo đảm là tòan cầu hóa  tiếp tục trên căn bản  công bằng.  Hãy kể một thí dụ, dẫn dắt  hổ trợ quốc tế  hầu thuyết phục Trung Quốc cho phép tiền nhân dân tệ (đồng  yuan – viên )  cao giá hơn, cần phải có một IMF quyền hạn tăng cường thêm.  Càng mất địa vị  như thể là một siêu cường  kinh tế duy nhất, Hoa Kỳ càng ôm chồm  chủ nghĩa đa quốc gia – multilateralism.

Dù tất cả mọi chuyện này, Hoa Kỳ và Âu Châu  tiếp tục đứng trên con đường cố gắng cũng cố   tính cách hợp pháp và quyền hạn của những cơ chế  tòan cầu,  họ đã  quyết tâm  tạo dựng lên. Từ 2008, khi G- 20 lần đầu tiên kêu gọi  những cố gắng tăng thêm ảnh hưởng  các quốc gia đang mở mang ( còn chậm tiến ), theo dõi tiến triễn đã tỏ ra rất thê lương. Năm ngóai, chúng ta đã thấy  một  bà Pháp thay thế một  ông Pháp ở tư cách  đứng đầu  lảnh đạo IMF  và một ông Hoa Kỳ thay thế một ông Hoa Kỳ khác  đứng đầu lảnh đạo Ngân Hàng Thế Giới,  tiếp tục truyền thống kể từ khi hai cơ chế được thành lập.  Christine Lagarde và Jim Kim rất có thể là những thí sinh  mạnh mẽ nhất được các quốc gia  liên hệ đề cử. Nhưng cả hai nhận được chức vụ, chủ yếu vì Lagarde là dân Âu Châu và Kim là dân Hoa Kỳ.  Không tăng thêm gì tính các hợp pháp cả.

Vậy chớ kiểm sóat bỏ phiếu ra sao đây ? Ở phiên họp IMF tháng tư 2012, các  quốc gia tặng dữ  từ Nhật, Hàn Quốc ( Nam Hàn), Ấn Độ  Saudi Arabia và Trung Quốc đến nhiều quốc gia khác ,đồng ý  cho IMF vay thêm 430 tỉ , hầu giúp  chống trả khủng hỏang đồng euro.  Tổ chức đã lựa chọn vay mượn thêm, thay vì tăng quota  đóng góp( tương đương với cổ phần )  với lý do đơn giản  là quota  làm ra căn bản  quyền bỏ phiếu của ban giám đốc điều hành. Các quốc gia đang trổi dậy  và các quốc gia sản xuất dầu lữa có đủ tiền mặt để cam kết  và muốn đóng vai trò lớn hơn ở IMF, nhưng Âu Châu và Hoa Kỳ không muốn rời bỏ các cổ phần bỏ phiếu của mình .

Tính không muốn cho các quốc gia khác nhiều ghế hơn ở bàn hội  họp, thảy đều làm thêm chóang váng khi bạn xét đến điểm  Hoa Kỳ và Âu Châu trước đây đã  hứa  sẽ làm.  Ở  hội họp thượng đỉnh Seoul năm 2010,  nhóm G- 20  đã đồng ý   thực hiện một “ duyệt xét tòan diện “  về công thức quota ở IMF, hệ thống quyết định cổ phần bỏ phiếu ở cơ chế.  Theo luật lệ hiện hành, IMF  qui định là mỗi quốc gia hội viên, một chia phần cổ đông căn cứ  phần nào trên căn bản  sức mạnh của quốc gia ở nền kinh tế tòan cầu.  Kích thước quota   sai khiến  cổ phần bỏ phiếu của quốc gia ở ban giám đốc điều khiển cơ chế.  Hoa Kỳ có 16.75 % cổ phần  bỏ phiếu , giúp cho Hoa Kỳ quyền phủ quyết trên  mọi quyết định chánh IMF,  đòi hỏi một siêu đa số – super majority  là 85 %.

Cải cách Seoul  đã kêu gọi tăng gấp đôi các tài nguyên IMF  và chuyễn gánh nặng tài trợ  qua các cường quốc đang trổi dậy tỉ như Brasil, Nga,  Ấn Độ và Trung Quốc , như  thế có nghĩa là di dịch  quyền hạn bỏ phiếu qua  cho các quốc gia BRICS.  Cách xếp đặt mới  sẽ không đòi hỏi  tăng thêm tài trợ của Hoa Kỳ( tài nguyên đã cho IMF vay mượn sẽ được chuyễn hóa thành các cổ phần quota )  và Hoa Kỳ cũng sẽ giữ lại quyền phúc quyết.  Nhưng chánh quyền Obama  cũng chưa  đệ trình luật pháp này cho Quốc Hội Hoa Kỳ chuẩn y.

Thành quả  là làm tiếp tục mãi mãi một  hệ thống lỗi thời đáng nực cười. Theo xếp đặt hiện thời, Hiệp hội Âu Châu dân số chỉ là 7%  dân số thế giới và khỏang 20 % GDP thế giới, nhưng lại có được 1/3  quota IMF  và như thế  kiểm sóat  một tỉ lệ ghế tương tự ở ban gíam đốc điều hành IMF.  Ngay cả khi  các cải cách  phát họa ở Seoul được thực thi, các cổ phần bỏ phiếu cũng sẽ  quá nghiêng lệch về phía Hoa Kỳ và Âu Châu.  Tổng thể các quốc gia BRICS sẽ có 14 %   quyền bỏ phiếu  ở ban giám đốc IMF , so với  29 % của EU ( European Union – Hiệp Hội Âu Châu ), dù rằng theo các đo lường GDP  kiểm tóan khả năng mua nhiều hơn theo tiền bạc mình ở các nước đang mở mang, các nền kinh tế BRICS thật ra lớn hơn nhiều lắm . Chiến lược đà điểu què quặt  của các nước đã mở mang quá yếu để cam kết thêm nhiều tài nguyên, và quá lo sợ  phải rời  bỏ phiếu không còn có thể  kéo dài hơn nữa. Các quốc gia BRICS  nay đặc thù liên kết trả lời những kêu gọi  vay mượn của IMF với tiến  bộ  về cải cách. Tổng trưởng Tài chánh Ấn Độ Pranab Mukherjee, tuyên bố  là Ấn Độ sẽ không góp tiền bạc cho bức tường lữa  đồng eurô mới , cho đến khi nào các chức quyền Hoa Kỳ và EU  đồng ý  cải cách quota  xa hơn nữa . Tổng trưởng tài chánh  Brasil nói: chúng tôi quyết định góp tiền tùy theo mức hòan tất  cải cách quota IMF, để cho  các quốc gia đang trổi dậy có nhiều đại diện hơn .

Không phải chỉ ở IMF  là nơi  Hoa Kỳ cố tâm  duy trì tình trạng chủ nhà, trong khi đóng góp  ít hơn là cổ phần tài nguyên.  Năm 2010,  Hoa Kỳ chỉ cam kết  có 12.1 %  tổng thể qũy cho vay nhẹ lãi – soft loan  Ngân Hàng Thế Giới, Hội Phát triễn Quốc tế –  International  Development Asociation . Vương Quốc Anh – UK đóng góp 12 % , và Nhật  10.9 %.  Canada với một nền kinh tế  chừng 1/9 Hoa Kỳ (  còn nhỏ hơn tiểu bang California ) đóng  4.1 % , tương đương đóng góp ba lần lớn hơn , chiếu theo GDP.  Đó là chưa kể ra  các điều đình đa quốc gia về giảm thiểu  các khí  nhà kiếng toàn cầu, nơi mà Hoa Kỳ đã cho thấy  sức mạnh lảnh đạo thế giới thường liên kết với  San Marino và Brunei.

Các nhà lảnh đạo ở các quốc gia đã mở mang càng chờ đợi  cải cách các cơ chế  quốc tế,  thì lại càng sẽ thấy  những thay đổi này áp đặt trên họ. Sinh cường khả năng IMF giải đáp khủng hỏang đồng eurô  và xa hơn, chẳng hạn,  sẽ  đòi hỏi xét lại nghiêm khắc  hệ thống quota  qũy tiền tệ này.  Một duyệt xét như thế phải  để ý tốt đẹp hơn đến  cân lượng và  các quyền hạn của những quốc gia   nghèo nhất thế giới, nghe cho được tiếng nói các quốc gia này.  Điều này có thể lột bỏ  hết quyền phúc quyết của  Hoa Kỳ, ngay bây giờ hay  sắp tới.  Tốt nhất là IMF  cần tìm đường ngăn ngừa một sụp đổ  đồng eurô, bằng cách vay mượn đủ tiền theo  hệ thống quota xưa cũ  và họat động cùng  1 ngàn tỉ đô la Mỹ đang tới  của Cơ chế  Ổn định Âu Châu- European Stability Mechanism.  Đây là một trò chơi chọi Gà , cũng ngu xuẩn như  là tranh cải  phía trần mối nợ liên bang Hoa Kỳ, liên can đến  cùng một  cách diễn kịch các cá tính trên xi nê.

Đối với Âu Châu,  bỏ đi  vài  quyền hạn ở ban giám đốc  IMF   để giúp  cứu trợ đồng euro là một cuộc mua bán rẽ tiền  rỏ rệt.  Ca này  cũng minh bạch cho  cả Hoa Kỳ.  Có thể là đe dọa mất địa vị  ngự trị kinh tế thế giới làm cho các nhà làm chánh sách Hoa Kỳ quá sợ hải  để dấn thân vào các  xây dựng các cơ chế tòan cầu . Nhưng chỉ  chia sẽ một phần nhỏ hơn GDP  thế giới không đe dọa gì các hiệu năng kinh tế dài hạn hay đời sống Hoa Kỳ.  Mặt khác, thất bại  cải cách quản trị   tài chánh thế giới  sẽ đe dọa không những  chỉ phục hồi ở Hoa Kỳ  mà cả khắp thế giới. Đây là lúc Hoa Kỳ trở lại làm những quyết định táo bạo  của thập niên 1940 , và nhận thức là, hơn bao giờ hết, những gì tốt  cho phần còn lại của thế giới cũng tốt cho Tây Phương nữa đó !

( chiếu theo Charles  Kenny, tuần san Bloomberg Businessweek ngày  18 tháng sáu –  24 tháng sáu 2012 )

( Irvine, Nam Ca Li  ngày 23 tháng 6 năm 2012 )

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s