Hà Văn Thùy: Tìm Lại Cội Nguồn Văn Hóa Việt – Đoạn V

Ðến thời Hùng Vương, xã hội Việt Nam tổ chức nhà nước dưới hình thức liên bộ lạc. Cả nước chia ra 15 bộ lạc do các lạc hầu, lạc tướng dẫn dắt mà vua Hùng ở vị thế đứng đầu liên minh các bộ lạc. Liên minh các bộ lạc của vua Hùng có luật pháp thống nhất. Tuy nay không còn văn bản nào ghi chép các điều luật đó, chỉ biết, sau khi chiếm lại được Giao Chỉ từ Hai Bà Trưng, Mã Viện tâu với vua Hán là luật Giao Chỉ có 10 điều khác luật nhà Hán cần phải bãi bỏ. Ngoài luật pháp, nhà nước của vua Hùng còn thống nhất ở tâm linh đó là tục thờ vị tổ chung là Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân. Chính vị tổ chung này đã góp phần quan trọng gắn kết các bộ lạc người Việt với nhau.

Ở dưới bộ lạc là đơn vị dân cư cuối cùng: làng chạ. Làng chạ gồm những người gần gũi về huyết thống sống quần tụ với nhau. Trong cộng đồng làng chạ dần hình thành khế ước cộng đồng, hoàn chỉnh dần và trở thành hương ước sau này. Làng chạ là một cộng đồng nông nghiệp tương đối khép kín. Ðiều này làm cho xã hội có xu hương bảo thủ kiểu dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn nhưng mặt khác, nó lại giúp cho việc bảo tồn những sắc thái văn hóa dân tộc trước sự đô hộ lâu dài của ngoại bang. Nhờ vậy, sau nghìn năm mất nước, dân tộc Việt vẫn giữ được bản sắc văn hóa của mình.

Trong văn hóa phi vật thể của người Việt có những tục lệ sau:

Tục xăm mình. Ðại Việt sử ký toàn thư viết: dân xuống sông hồ đánh cá, thường bị thuồng luồng làm hại, tâu với vua. Hùng Vương bảo: thuồng luồng là giống ưa vật giống mình, ghét vật khác mình, vậy hãy lấy mực vẽ vào người cho giống hình nó, thuồng luồng tưởng là họ hàng nên không làm hại. Tục xăm mình có từ đó.

Ðúng là người Việt có tục xăm mình nhưng quy công cho vua Hùng có lẽ không thỏa đáng. Tục này là của những người đánh cá, do sự ngẫu nhiên nào đó thấy những người có vết chàm vết bớt trên người ít bị cá sấu hại (?), người ta bắt chước vẽ hình cá sấu lên người. Dần dần cá sấu trở thành vật tổ, tôn giáo thờ “tô tem” ra đời và giao long, con cá sấu trong các sông rạch đầm lầy trở thành vật tổ của người đánh cá rồi được hình tượng hóa thành con rồng.

Tục xăm mình vì vậy không chỉ của người Việt mà là của cộng đồng cư dân Ðông Nam Á cộng cư với nhau trên vùng đất nhiều sông hồ Hainanland, Sundaland sống bằng nghề đánh cá. Khi chia tay nhau để lên Bắc hay xuống Nam, những tộc người Ðông Nam Á này mang theo đến vùng đất mới khiến cho tục xăm mình phổ biến từ lưu vực sông Hoàng Hà tới tận những hòn đảo xa ngoài khơi Thái Bình Dương, Ấn Ðộ Dương.

Tục ăn trầu cũng hình thành từ rất sớm. Trầu cay, cau chát, vôi nồng tạo sức ấm nóng cho những người mò tôm bắt cá hay cày cấy ngoài đồng xa. Cùng với tục ăn trầu là tục nhuộm răng đen, giữ cho bộ răng chắc khỏe và cũng làm nên cái đẹp của phụ nữ trong quan niệm thẩm mỹ thời đó. Cùng với tục ăn trầu, Truyện Trầu cau cũng không phải là sản phẩm riêng của người Việt mà của chung Ðông Nam Á. Tích Sơn Tinh, Thủy Tinh và Trầu Cau của ta nói về hai người cùng yêu một cô gái với nhiều khúc mắc éo le tương tự như tích Kulabob và Manup của các bộ lạc Nam Ðảo. S. Oppenheimer kể rằng, chuyện tích này rất dài, người ta kể cả ngày, thỉnh thoảng người kể phải ngừng lại để ăn trầu.

Trong cổ tích của người New Guinea, Kulabob được xem là thủy tổ của người nói tiếng Nam Ðảo. Manup là anh, còn em là Kulabob đôn hậu tài ba đã chế ra thuật xăm mình, biết đóng tàu đi biển, lái thuyền đánh cá rất giỏi giang. Một hôm đi săn, Kulabob bắn lạc một mũi tên chạm khắc tinh vi. Lúc đi tìm mũi tên, Kulabob bị chị dâu (vợ Manup) dụ. Cô này giấu mũi tên và nằn nì Kulabob xăm một hình đẹp trên chỗ kín của mình. Kulabob lúc đầu không muốn nhưng rồi cũng phải nghe theo. Hai người ân ái với nhau. Khi người anh khám phá chuyện ngoại tình, đi tìm giết em mình. Hai anh em đánh nhau dữ dội bằng mọi cách kể cả pháp thuật nhưng không phân thắng bại. Cuối cùng để tránh huynh đệ tương tàn, Kulabob làm một chiếc thuyền to bỏ đi về hướng biển cả, chở theo người, cây cối, thú vật và đồ đạc, lập thành các nhóm dân hải đảo Thái Bình Dương. Kulabob là cổ tích gốc của các sắc dân Ðông Nam Á có liên hệ huyết thống. Ði xa nữa, S. Oppenheimer cho rằng cơn đại hồng thủy 8000 năm trước đã đưa người Ðông Nam Á sang tận Trung Ðông và con thuyền Kulabob biến thành thuyền Noah trong kinh Thánh đạo Thiên chúa.

Như vậy là, vào những thế kỷ trước Công nguyên, xã hội Việt Nam đang ở trong một nền văn minh nông nghiệp phát triển. Nhiều sách cổ Trung Quốc ghi lại điều này.

Các sách như Giao Châu ký, Ngô lục địa lý chí, Nam phương thảo mộc trạng… đều ghi chép: “Dân Lạc Việt trồng lúa mà ăn, dùng lá trà làm thức uống.”… “Họ biết uống nước bằng lỗ mũi…”; “Nuôi tằm mà dệt vải…”; “Dùng đất sét đào sâu trong đất, thái mỏng, phơi khô làm thức ăn quý để đi hỏi vợ…”; “Dùng đá màu làm men gốm…”; “Dùng mu rùa mà bói việc tương lai…”; “Họ dùng một khúc tre dài chừng hơn một thước, một đầu có trụ cao làm tay cầm, có dây buộc vào trụ nối lại đàng kia làm đàn gọi là độc huyền cầm…”; “Họ đem tính tình các con vật mà so sánh với người, rồi họ truyền tụng rằng, ngày thứ nhất trời sinh con chuột, ngày thứ hai sinh con trâu, ngày thứ ba sinh con cọp (truyện thần thoại của người Dao, gốc tích của 12 con giáp). Họ biết tìm hiểu các thức ăn nóng mát (thuyết âm dương) để trị bệnh, dùng kim đâm vào da thịt lấy máu để trị bệnh, lấy đá hơ nóng áp vào da thịt để trị bệnh.” Khi một môn đệ đi đến đất Việt, xin Ðức Khổng Tử chỉ dạy, ngài nói: “Người Bách Việt miền nam có lối sống, tiếng nói, phong tục, tập quán, thức ăn uống riêng…”; “dân Bách Việt chuyên làm ruộng lúa mà ăn, không như chúng ta trồng kê và lúa mì. Họ uống nước bằng thứ lá cây hái trong rừng gọi là trà.” Sách Hậu Hán thư quyển 14 viết: “Dân Giao Chỉ biết nhiều nghề thủ công, luyện đúc đồng và sắt…” Sách Cổ kim đồ thư chép: “Mã Viện tâu vua, Giao Chỉ ép mía làm đường phèn: Giao Chỉ có cây mía ngọt. Ðem ép lấy nước rồi làm đường phèn.” “Giao chỉ làm giấy mật hương: bằng lá và vỏ cây mật hương (cây dó) trồng ở Giao Chỉ; giấy mềm, dai, thơm, ngâm nước không bở không nát.” (Nguyễn Thị Thanh. bđd)

Chúng ta biết, người Hán có gốc từ Mông Cổ du mục nên nhà làm theo hình tròn gọi là lều. Trong khi đó người Việt làm nhà sàn hình chữ nhật bằng tranh tre, có mái cong mà mô hình còn thấy trong mộ táng thuộc văn hóa Ðông Sơn 2000 năm TCN. Khi định cư ở Trung Nguyên, dân Hán đã theo mô thức nhà của người Việt.

Khi tìm thấy một số gạch có hoa văn, nhiều học giả Pháp cho đó là hàng nhập về để lát bàn thờ nhưng thực ra đó là gạch lát nền nhà của người Việt thời Lý, Trần tìm thấy tại nhà của Hưng Ðạo vương ở Vạn Kiếp và nay càng thấy nhiều trong khi khai quật Hoàng thành Thăng Long. Một thí dụ khá khôi hài là hơn 50 năm trước, khi Bảo tàng Istanbul Thổ Nhĩ Kỳ trưng bày chiếc bình gốm Hoa Lam cổ (được bảo hiểm 1.000.000 USD) người Tàu và người Nhật đến xem có phải của họ không. Nhưng khi thấy ghi trên bình Thái Hòa bát niên… Bùi Thị Hí bút (niên hiệu Lê Nhân tông, năm 1450) người Tàu bèn nói: “Của một ông thầy Tàu qua rồi làm chơi”(!) Ðến khi phát hiện ra lò gốm men lam Chu Ðậu (Hải Dương) thế kỷ XV với rất nhiều hiện vật thì các “thầy” đành chào… thua một người đàn bà Việt Nam!

CHƯƠNG V

VĂN HÓA VIỆT TRÊN LƯU VỰC HOÀNG HÀ, DƯƠNG TỬ

 “Ban đầu Viêm tộc theo sông Dương Tử vào khai thác vùng Trường Giang là các tỉnh:  Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tây,  Giang Tô,  An Huy, Chiết Giang rồi lần theo bình nguyên Hoa Bắc lên khai thác vùng sáu tỉnh của Hoàng Hà: Hà Nam, Hà Bắc, Sơn Tây, Sơn Ðông, Thiểm Tây, Cam Túc. Phía Nam thì tới Việt Giang ngũ tỉnh: Vân Nam, Quý Châu, Quảng Tây, Quảng Ðông, Phúc Kiến. Theo Chu Cốc Thành trong “Trung Quốc dân tộc sử” và một số sử gia khác thì “Bách Việt đã có mặt ở khắp nước Trung Hoa cổ đại trước khi các dòng tộc khác tràn vào.” (32) Những dòng trên là bức tranh quen thuộc mà các sử gia mô tả con đường người Việt vào mở mang vùng đất ngày nay có tên là Trung Quốc. Con đường đó do sử gia E. Aymonier vạch ra vào những năm đầu của thế kỷ trước và nhanh chóng trở thành kinh điển trong các sách sử không những của Việt Nam mà của cả những sử gia Trung Quốc. Các đại học danh tiếng nước Mỹ chép theo. Nhưng thời gian cho thấy sự thật lịch sử đã không diễn ra như vậy bởi lẽ người Bách Việt không phải từ ngọn nguồn sông Dương Tử đi xuống mà ngược lại, từ Ðông Nam Á đi lên.

Con đường người Bách Việt lên phương Bắc có lẽ diễn ra như sau:

Ðặt chân trước tiên lên thềm Biển Đông của Việt Nam 60.000-70.000 năm trước, hai đại chủng Mongoloid và Australoid dừng lại kiếm ăn rồi chung đụng hòa huyết với nhau sinh ra bốn chủng người Việt cổ: Indonesian, Melanesian, Vedoid và Negritoid, thuộc loại hình Australoid. Khi nhân số tăng lên, những đoàn người chia tay nhau xuống phía Nam tới châu Úc và những hòn đảo ngoài khơi. Có đoàn sang phía Tây tới  Mianma và Ấn Độ. Những người lên phía Bắc vượt qua địa giới Ðông Nam Á, tới Nam Trung Quốc. Không thể đi xa hơn vì trước mặt họ là bức thành băng hà đóng chặt. Một thời gian đợi chờ đằng đẵng. Phải tới 40.000 năm trước, khi khí hậu được cải thiện, những đoàn người chờ đợi từ lâu đồng hành tiến lên. Từ phía bắc Ðông Nam Á, người tiền sử  theo khả năng của mình tiến vào lưu vực sông Dương Tử. Có lẽ do địa hình khá bằng phẳng và môi trường sống thuận lợi nên số người đi theo phía duyên hải đông hơn và tỏa ra: Quảng Ðông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Hồ Nam, Hồ Bắc, Giang Tây, Giang Tô, Chiết Giang. Trong khi đó những đoàn khác từ phía Tây Bắc lần ngược lên ngọn nguồn tới Vân Nam, Tứ Xuyên. Một bộ phận nhanh chân hơn thì lên tiếp miền lục tỉnh Hoàng Hà: Hà Nam, Hà Bắc, Sơn Tây, Sơn Ðông, Thiểm Tây, Cam Túc. Phần đông dừng lại trên lục địa mênh mông này. Nhưng một số người không bằng lòng như vậy. Theo bản năng kiếm tìm điều mới mẻ, bản năng khám phá thiên nhiên và cũng có thể một cái gì đó như sứ mạng sai khiến, có những lớp người đi tiếp lên phía Bắc, vượt qua Siberia, qua eo biển Bering lúc này là đất liền để khám phá cho nhân loại một châu lục mới: châu Mỹ. Với thời gian, họ trở thành người da đỏ Indien, người Maya… Khác ta về màu da nhưng từ khi chưa được công nghệ genes soi tỏ, ta cũng nhận ra họ gần gũi mình qua những trang sách của Lévi Strauss: “Những quan sát xã hội học ở sắc dân Caduveo sống tại Tây Bắc Canada cho thấy ở họ có nhiều yếu tố giống người Trung Hoa cổ đại như vai trò quan trọng của phụ nữ hay là việc chú ý đến sự quân bình giữa các nguyên lý khác nhau… Cũng như dân mạn Nam Trung Quốc lại có những nét giống kỳ lạ với một vài sắc dân bên Mỹ (33). Người Trung Hoa cổ đại, dân mạn Nam Trung Quốc là ai nếu không phải người Bách Việt? Như vậy, người Bách Việt đã mang theo văn minh văn hóa Việt đến châu Mỹ!

Khi đã nhìn nhận hành trình như vậy của người Bách Việt hay người Ðông Nam Á cổ, một câu hỏi sẽ đến: Người Bách Việt đã làm được những gì trong thời gian đằng đẵng sống ở phương Bắc?

Rõ ràng là những đoàn người đầu tiên ra đi là những cư dân sống bằng săn bắt hái lượm. Họ du cư trên những con đường vạn dặm: sống trong những hang động gặp trên đường, săn bắt thú, tát cá, gặp gỡ, yêu nhau rồi sinh con đẻ cái. Khi cái ăn khó kiếm, họ lại ra đi. Nhờ trời khi đó rừng còn hoang sơ, sản vật tự nhiên còn nhiều nên con người sống được. Suốt ngày lo kiếm ăn trong cuộc đời vô định, sự sáng tạo lớn nhất của họ chỉ có thể là làm ra những cái rìu bằng đá. Rồi từ rìu làm ra cung nỏ. Một bước nữa là biết lấy dây rừng bện lại để làm lưới đánh cá… Có lẽ 30.000 năm con người đã đi từ Nam lên Bắc trong cuộc sống đơn điệu và chậm chạp như vậy. Chỉ đến khoảng 15.000 năm về trước, khi từ trung tâm Hòa Bình kỹ thuật trồng lúa nước cùng thuần dưỡng những loài gia súc như gà, chó, lợn được truyền tới. Cây lúa nước làm cuộc cách mạng vĩ đại đối với cuộc sống người tiền sử. Lần đầu tiên con người không phải tuốt lúa hoang, lúa ma đem về nghiền rồi nấu chín trong những ống tre. Lần đầu tiên con người không còn phải ngửa tay lượm những quà tặng của thiên nhiên mà tự nuôi sống bằng hạt gạo do chính tay mình trồng cấy. Lần đầu tiên con người nhận ra: hạt lúa gieo xuống đất, chỉ cần chăm sóc thì đến tháng đến ngày nó sẽ cho bông vàng hạt mẩy! Có cấy có trông, có trồng có ăn… cuộc sống ấm no thực sự trong tay mình, không phải trông chờ thiên nhiên bố thí! Con người thấy sức mạnh của mình và giác ngộ: Ta đứng cao hơn tự nhiên! Cây lúa nước, hạt gạo mang đến sự đổi đời! Do phải bỏ công chặt cây, chuyển đá, đắp bờ tạo ra những khoảnh ruộng, con người không dễ dàng bỏ đất mà đi. Cuộc sống định cư bắt đầu. Do sống định cư mà con người rời khỏi hang đá, làm những căn nhà ngày một tiện nghi hơn để ở. Cũng do rảnh rỗi hơn nên con người có thời gian, có tâm trí để mơ mộng để hát ca. Nhạc rồi thơ ca nảy sinh từ đấy. Từ khi gieo hạt giống xuống đất là lúc con người bắt đầu trông trời trông đất trông mây! Chính từ cái việc trông này của văn minh nông nghiệp mà nảy sinh những kinh nghiệm về dự báo thời tiết, về quy luật vận hành của mặt Trời, mặt Trăng cùng các ngôi sao. Những tri thức về thiên văn được tích tụ, từ đó lịch pháp ra đời. Lương thực dồi dào, gà, chó, lợn, trâu bò được nuôi, cuộc sống sung túc hơn. Phú quý sinh lễ nghĩa: con người đối xử với nhau và với thiên nhiên thân ái hơn tốt đẹp hơn!

Nói có sách, mách có chứng, xin bạn đọc vui lòng thưởng thức một đoạn văn của tác giả Nguyễn Quang Trọng, một người Việt sống ở nước ngoài nhưng rất tâm huyết với cội nguồn dân tộc:

“Số chỗ có di tích lúa tìm thấy dọc theo nam sông Dương Tử không những nhiều hơn mà còn rất xưa. Vết tích bữa cơm tiền sử nấu với gạo từ lúa mọc hoang xưa nhất thế giới cách nay 13000 năm được một nhóm khảo cổ Mỹ-Trung Hoa tìm thấy trong hang Diaotonghuan phía nam sông Dương Tử (bắc tỉnh Giang Tây). Cư dân sống trong vùng này biết thử nghiệm các giống lúa và cách trồng trong thời gian dài tiếp theo đó. Ðiều này được nhóm khảo cổ chứng minh qua sự tăng độ lớn phytolith của lúa (phần thực vật hóa thạch, tồn tại nhờ giầu chất silic) lắng trong những lớp trầm tích theo thời gian. Tin này đã được đăng trên báo khoa học hàng đầu thế giới Science năm 1998. Các nhà khoa học nghiên cứu về phytolith này đã chứng minh rằng từ 9000 năm trước dân ở vùng này đã ăn nhiều lúa trồng hơn lúa hoang. Nhóm cư dân bản địa này cũng bắt đầu làm đồ gốm thô xốp bằng đất trộn trấu. Kinh nghiệm về trồng lúa tích tụ tại đây trong mấy nghìn năm đã đưa đến nghề trồng lúa trong toàn vùng nam Dương Tử. Di tích thứ hai, 9000 năm trước là Pentou, gần hồ Ðộng Ðình. Hơn bốn mươi chỗ có di tích lúa cổ hàng ngàn năm đã được tìm thấy ở nam Trường Giang. Di tích văn hóa Hemudu cho thấy văn minh lúa nước trong vùng lên đến trình độ rất cao vào 7000 năm trước. Hemudu là một làng vài trăm người sống trên nhà sàn trong vùng đầm lầy ở cửa sông Tiền Ðường. Dân Hemudu đã trồng lúa, ăn cơm, để lại lớp rơm và trấu dày. Văn hóa Hemudu xưa 7000 năm,  có nhiều điểm gần gũi với văn hóa Phùng Nguyên-Ðông Sơn vốn là văn hóa trẻ hơn nhiều (sau hơn 3000 năm). Cư dân vùng nam Trường Giang lúc ấy có lẽ gần với cư dân Bắc Việt về mặt chủng tộc và văn hóa hơn dân cư Bắc Trung Hoa. Khuôn mặt đắp từ sọ người Hemudu trưng bày ở Bảo tàng Hemudu cho thấy họ giống người thuộc chủng Nam Mongolic tức là chủng của người Việt Nam từ thời Ðông Sơn về sau. Sau văn hóa Hemudu, hàng loạt văn hóa lúa nước khác đã sinh ra dọc Trường Giang khoảng 4000 năm trước như Liangzhu, Majiabin, Quinshanyang, Qujialing, Daxi, Songze, Dadunze. (34)”

Thật lạ kỳ, những cọng rơm, những vỏ trấu, những hạt thóc thành than người xưa vô tình để lại đã nói với ta biết bao điều. Nhờ đó mà thời gian xa xôi những nghìn những vạn năm không còn là khoảng tối mênh mông thẳm sâu câm lặng vô hồn mà trở nên gần gũi ấm áp.

Sau lúa nước, người Bách Việt mang theo văn minh đồ đồng tới vùng đất mới.

Luật sư Cung Ðình Thanh trong một chuyên khảo công phu đăng trên tập san Tư tưởng (Australia) viết:

“Khảo sát văn hóa đồng cổ trên khắp đất Trung Hoa, các nhà khoa học thấy có 4 vùng khác nhau: vùng Hoa Nam, vùng Ðông Nam, vùng Tây Nam và vùng phía Bắc.

Ðồ đồng Hoa Nam tìm được ở di chỉ Hải Môn Khẩu có tuổi 1130 năm TCN, cùng thời với đồ đồng Gò Bông Việt Nam, ở Vạn Gia Bá khoảng 760 +/- 130 năm TCN. Người Trung Quốc gọi là đồ đồng cuối thời nhà Thương. Trong thành phần đồng ở đây cũng có chì nên rất gần với đồ đồng Bắc Việt Nam. Căn cứ vào nguồn gốc chủ nhân và lịch sử, chúng ta thấy chúng thuộc cùng một văn hóa Ðông Sơn.

Vùng thứ nhì thuộc trung tâm của nước Trung Quốc ngày nay ra đến bờ biển phía Ðông của các tỉnh Hồ Nam, Hồ Bắc, phía tây tỉnh Tứ Xuyên đến Giang Nam, Phúc Kiến, Chiết Giang thuộc vùng các nước Việt, Ngô, Sở thời trước. Nước Sở là nước lớn thời Xuân Thu-Chiến Quốc. Sở không công nhận nhà Chu, lập quốc gia độc lập, có cương vực rất rộng, phía tây ăn vào tỉnh Tứ Xuyên, phía bắc chiếm phần lớn tỉnh Hồ Bắc, phía Nam chiếm trọn tỉnh Hồ Nam. Là một trong số các nước Bách Việt, Sở thôn tính nhiều tộc Bách Việt nhỏ khác nên khi bị nhà Tần chiếm, Sở đã kéo theo nhiều tộc Bách Việt vào lãnh thổ của Tần. Văn hóa đồ đồng của nước Sở rất rực rỡ. Tiêu biểu là cái đỉnh bằng đồng nặng đến 400 kg, chứng tỏ nghề đúc đồng rất tiến bộ. Năm 1963 các nhà khảo cổ Trung Quốc đào được ở Hồ Bắc rồi bên hồ Ðộng Ðình thuộc Hồ Nam nhiều hiện vật đồng gọi là thuộc đời nhà Thương. Thực ra đó là đồ đồng nước Sở thuộc dân Bách Việt. Trong một ngôi mộ ở Trường Sa tỉnh Hồ Nam năm 1974 đã đào được chiếc dao găm đồng hình người, tay chống nạnh, đeo vòng, đầu đội mũ. Loại dao này được giới khảo cổ xếp vào loại hình đồ đồng Ðông Sơn (Trịnh Sinh. Khảo cổ học 1997). Tại Chiết Giang là địa bàn nước Việt thời Câu Tiễn, người ta cũng đào được những rìu xéo mang phong cách Ðông Sơn, là loại rìu có đôi giao long quấn vào nhau, trên cán có bốn người đang chèo thuyền. Nhờ những phát hiện này, giới khảo cổ đã có thể đi đến khẳng định những dao găm tìm được ở Bắc Kinh, Hồ Nam là cùng nguồn gốc với những dao đào được ở Sơn Tây Việt Nam. Năm 1996 người ta đào được chiếc trống đồng ở khu mộ cổ Thượng Mã Sơn huyện An Cát tỉnh Chiết Giang, chiếc trống giống với trống Lãng Ngâm khai quật năm 1973 tại Gia Lương tỉnh Bắc Ninh hay nhiều trống nhỏ hơn tìm được ở Gia Lâm và các nơi khác bên sông Hồng, sông Mã.

Vùng văn hóa đồng thứ ba là khu vực Tứ Xuyên, thời Tam Quốc gọi là Ích Châu, Ba Thục. Nước Thục nằm trên ngã ba đường nối với Bắc Trung Quốc, một nhánh rẽ sang phía Tây để tiếp xúc với phương Tây, phía Nam dẫn về cái nôi văn hóa Hòa Bình (có thể từ con đường này người Mongoloid cổ đã làm cuộc thiên cư lên phương bắc thành người Mông Cổ phương Bắc. HVT). Nhưng rõ ràng, từ đây người Hòa Bình mở nhiều đợt lên phía bắc, vượt núi Ngũ Lĩnh vào lưu vực sông Hoài góp phần tạo dựng nên văn hóa Ngưỡng Thiều. Theo sử sách thì nước Thục được thành lập vào năm 1122 tới năm 122 TCN bị Tần diệt. Năm 1986 người ta tìm được ở Sanxingdui (gò Ba Sao) tỉnh Tứ Xuyên hơn 800 hiện vật trong đó có nhiều đầu người và mặt nạ tuyệt xảo bằng đồng, nổi bật là bức tượng đồng to bằng người thật, cao 1,72 m. Tượng có mắt to và xếch, mũi lớn, lông mày rậm, miệng thật rộng, không thuộc chân dung điển hình của người Hán. Trống đồng nước Thục không mang sắc thái Trung Quốc. Giới khảo cổ Trung Quốc gọi là cổ vật thuộc nhóm dân Ba Thục và xếp chúng vào thời kỳ cuối đời Thương. Tuy nhiên người ta biết rằng nước Thục có từ khoảng 4700 năm trước, sớm hơn đời Thương nhiều. Giới khảo cổ cũng phát hiện ở Tây Nam Thành Ðô ngôi đền thuộc cùng nền văn hóa, có tuổi từ 3000 đến 4700 năm trước. Chủ nhân nước Thục là dân cư nông nghiệp, trồng lúa, đánh cá ở nhà sàn, sử dụng những loại rìu có vai là công cụ đặc trưng của văn hóa Hòa Bình.

Khu vực thứ tư bao gồm vùng Anyang (An Dương) và các tỉnh Sơn Tây, Thiểm Tây. Ðồ đồng vùng này, theo học giả Anderson, có niên đại 1300 năm TCN. Niên đại này muộn nhiều so với đồ đồng Phùng Nguyên sớm (1850 năm TCN) nhưng sớm hơn đồ đồng sớm nhất tìm thấy ở miền sông Dương Tử khoảng 200 năm. Nét đặc sắc là có chì trong hợp kim đồng trong các dụng cụ tìm thấy ở Hsiao Tun, di chỉ có tuổi sớm nhất.

Ðánh giá về đồ đồng của người Hoa, các học giả trước đây cho là đã du nhập từ phương Tây sang nhưng hoàn hảo không kém đồ đồng bất cứ nơi nào trên thế giới. Nghệ nhân đời Thương đã hoàn chỉnh kỹ thuật mà họ học được.

Gần đây người ta cho rằng kỹ thuật đồng người Hoa gần với kỹ thuật Ðông Nam Á hơn là phương Tây (Noel Barnard 1978). Ðiều này phản ánh sự thật là khi chiếm đất của người Bách Việt, người Hoa đã sử dụng nghệ nhân cùng công nghệ đồng cũng như nhiều tiến bộ kỹ thuật khác của dân Viêm Việt.

Một điều kiện làm cho văn hóa đồng thau phát triển rực rỡ tại Bắc Việt Nam và vùng Hoa Nam là do ở đây có nhiều mỏ đồng, chì, thiếc. Trên phần đất của Việt Nam là các mỏ vùng Hưng Hóa, Tuyên Quang, Lào Cai, Bắc Giang, Sơn La, Cao Bằng và Thanh Hóa. Thiếc ở Thái Nguyên, Tuyên Quang, Cao Bằng. Chì ở Thái Nguyên. Mỏ đồng lớn nhất là mỏ Na Ngọ ở Tụ Long mỗi năm sản xuất khoảng 225 tấn. Phía nam Trung Hoa có nhiều mỏ ở Quảng Ðông, Quảng Tây, Vân Nam (35).”

Có một điều khiến ta không thể không suy nghĩ: văn minh sắt đến ngay sau văn minh đồng. Vậy mà trong những di chỉ Bách Việt, từ Ðông Nam Á đến Trung Quốc số lượng đồ sắt lại quá ít, chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ. Ngay cả ở thời Hùng Vương, khi mà kỹ thuật đồng được đẩy đến độ tuyệt vời tinh xảo thì đồ sắt cũng không được coi trọng, trong khi ai cũng biết được ưu thế hơn hẳn của đồ sắt. Khác với dân Bách Việt, người Hoa Hán phát triển mạnh loại vật liệu mới này để đến thời Triệu Ðà, trở thành vũ khi cấm vận của Lữ hậu chống lại nước Việt. Phải chăng đó là biểu hiện của tính cách Việt, sự hạn chế của văn minh nông nghiệp coi trọng tinh thần coi nhẹ vật chất, sau thời kỳ năng động sáng tạo đã chuyển sang tự mãn bảo thủ? Trong khi dụng công đưa nghệ thuật đồng lên đến tuyệt mỹ của văn hóa tinh thần, của vật thờ thì lại coi nhẹ công dụng hơn hẳn của sắt? Phải chăng đó là dấu hiệu cho thấy văn minh nông nghiệp để mất vị trí tiên phong của mình?

Trong khi người Bách Việt hình như tỏ ra thỏa mãn với nền văn minh nông nghiệp, ung dung tự tại với cuộc sống điền viên tự cấp tự túc no đủ thì biến cố lớn xảy đến: từ phía Bắc sông Hoàng, những người Mông Cổ du mục tràn xuống. Với sức mạnh vũ bão của đoàn quân được tổ chức chặt chẽ, vũ khí tốt, tinh thần chiến đấu cao và rất quen trận mạc, trận quyết chiến Trác Lộc nổ ra. Ðế Lai tử trận, người Mông Cổ chiến thắng đã nhanh chóng chiếm sáu tỉnh phía Nam sông Hà. Họ Hiên Viên phỏng theo sinh hoạt của Viêm tộc mà tổ chức đất nước: chia sáu tỉnh Hoàng Hà thành 9 châu, chọn 4 bộ lạc hùng mạnh là Tứ nhạc để làm chỗ dựa. Viêm tộc một phần bị giết, một phần làm nô lệ, phần còn lại thì sống dưới sự giám sát của Mông tộc. Người bản địa có nước da ngăm đen trong khi người Mông Cổ vốn da sáng hơn, lại sống trong xứ lạnh nên da càng trắng. Để phân biệt, kẻ xâm lăng gọi người bản địa là dân đen (lê dân). Từ này lúc đầu chỉ có ý phân biệt về màu da nhưng sau chuyển sang nghĩa kẻ dưới, thấp kém.

Sau khoảng 1- 200 năm, biến cố lịch sử lớn đã chín muồi:  người Mông Cổ biến mất khỏi vũ đài, nhường chỗ cho hậu duệ là những con cháu lai mang bộ genes Mogoloid phương Nam. Những nhóm được lai giống đầu tiên – con cháu trực hệ của kẻ xâm lăng – thay cha ông mình thống trị đất nước. Người bị trị chính là những đồng chủng và một phần dân đen (Việt) bản địa. Dân Viêm tộc không cam tâm chịu sự đô hộ, lâu lâu lại nổi lên như vào cuối đời Thiếu Hạo, mãi tới Chuyên Húc mới dẹp yên được. Cuối đời Ðế Cốc dân Miêu Việt lại vùng lên khiến Ðế Chí mất chín năm không thu phục nổi phải nhờ vua Nghiêu mới thắng trận ở Ðan Thủy. Khi vua Nghiêu nhường ngôi cho vua Thuấn, nhiều dân Hoa tộc không phục vì Thuấn người Nam Man, Viêm tộc lại thừa cơ nổi lên trong đó ông Cổn là một trong những lãnh tụ. Vua Thuấn phải dùng giải pháp mạnh, đày số lớn Viêm Việt ra phía tây huyện Ðôn Hoàng, miền địa đầu của Trung Hoa với Tân Cương. Phần bị phân tán thành nhiều bộ lạc nhỏ, phần bị đồng hóa, từ đấy Viêm tộc không còn nổi dậy nữa. Điều này cũng có nghĩa là quá trình Mongoloid phương Nam hoá đã hoàn thành về cơ bản.

Sau chiến thắng Viêm Việt, Hiên Viên được tôn làm vua, gọi là Hoàng đế. Hậu duệ của Hoàng đế là dân lai thuộc chủng Mongoloid phương Nam, đến bây giờ có thể gọi bằng thuật ngữ quen thuộc là Hán tộc. Hán tộc nhận tất cả các phát minh của Viêm tộc làm của mình. Sử Trung Hoa gọi Hoàng đế là người phát minh ra thiên văn, âm nhạc, quần áo, nhà cửa, giao thông, hôn sự, y thuật, nuôi tằm, võ bị, chính trị..

Hoàng đế truyền bảy đời tới vua Thuấn 2697-2205 TCN

Nhà Hạ vua Ðại Vũ truyền 17 đời tới vua Kiệt 2205- 1783 TCN

Nhà Thương: Vua Thành Thang truyền 28 đời tới vua Trụ 1783-1134 TCN

Nhà Chu: truyền 37 đời tới Ðông Chu 1134-247 TCN.

Từ ngày lục tỉnh mạn nam Hoàng Hà bị chiếm, số phận các nước bị gọi là tứ hung bên ngoài luôn bị đe dọa. Sau này Ðông Di (Sơn Ðông) bị nước Tề đồng hóa. Bắc Ðịch (Sơn Tây, Hà Bắc)  bị các nước Tấn, Yên kiêm tính. Riêng Tây Nhung trở lại sống du mục. Do sự tranh chấp trong khu vực, Tây Nhung đã chiếm được đất Quan Trung dựng lên nước Tần, gốc nông nghiệp Viêm tộc nhưng theo đời sống du mục đã trở nên hung hãn.  Còn Nam Man ở mạn Trường Giang bị người Hoa chèn ép nên di cư lần xuống phía nam. Sang đầu công nguyên chia làm 6 bộ lạc là Lang Khung, Thi Lăng, Ðàng Ðạm, Việt Tích, Mông Tuấn, Mông Xá. Những khi Trung Hoa có biến, họ thường vào quấy phá như hồi Hán Mạt, Ngũ Hồ, Tàn Ðường… Vua Ðường Huyền Tôn phải cắt đất để mua lòng họ. Năm Khai Nguyên thứ 26 (738) phong cho Bì Lai Cap làm Vân Nam vương đóng đô ở Côn Minh. Từ đấy họ dọc ngang năm tỉnh Việt Giang, nước ta cũng chịu một phần cướp phá cho đến năm 866 Cao Biền mới dẹp yên.

Viêm tộc ở các tỉnh lưu vực sông Trường Giang mà người Hán gọi chung là Ðông Nam man thì khai thác vùng hồ Ðộng Ðình, Bành Lãi. Khoảng năm 2897 TCN tù trưởng các bộ lạc Bách Việt ở đây xưng là Kinh Dương Vương, lấy Thần Nông làm tổ. Họ Mễ là họ rất lớn của nước Việt cũng như nước Sở sau này gọi là Hùng Vương. Ở khu vực này dân Bách Việt lập ra ba nước Sở, Ngô, Việt cùng một nguồn gốc tổ tiên xưa nhưng vì ý thức quốc gia chưa đủ mạnh nên ba nước đánh nhau liên miên và tiêu diệt lẫn nhau. (36).

Qua biến động lịch sử kể trên, có thể rút ra nguyên nhân thất bại của Bách Việt:

– Sống rải rác khắp 18 tỉnh, dân cư thưa thớt, không thể chống đoàn quân du mục tập trung hùng mạnh.

– Bách Việt còn trong tình trạng bộ lạc hay thị tộc, chưa có ý thức quốc gia nên thường xung đột nhau.

– Viêm tộc làm nông nghiệp định cư sớm nên khả năng võ bị kém.

Từ những nguyên nhân dẫn đến thất bại của người Bách Việt, ta có thể nói rằng, thời thế đã đổi thay: từ phương thức sống từng bộ lạc phân tán hay những liên minh bộ lạc lỏng lẻo, nhân loại bước vào giai đoạn mới, hình thành những quốc gia. Nhiều thế lực nổi lên tranh giành nhằm thâu tóm đất đai, nhân số dựng nên những quốc gia làm tăng quyền lực của giai cấp lãnh đạo đồng thời cũng đưa lại cho dân chúng điều kiện sống mới, văn minh hơn. Trong cuộc tranh đấu này, văn minh nông nghiệp đã thua sức mạnh của văn minh du mục. Và khi thâu tóm được tiềm năng dồi dào của văn minh nông nghiệp về nhân lực, về kinh tế và văn hóa, nền văn minh du mục vốn năng động và được tổ chức tốt đã đẩy lịch sử tiến lên một bước mới. Trung Quốc trở thành động lực mới thúc đẩy nền văn minh trong vùng vào thời gian giữa thiên niên kỷ thứ II trước Công nguyên.

Hôm nay, vào những năm đầu của thiên niên kỷ thứ III, nhìn về hàng vạn năm trước, ta thử xem ngoài những chiếc rìu bằng đá cuội, cây lúa nước và văn minh đồng, người Bách Việt để lại những gì cho văn hóa nhân loại?

Cùng với những văn hóa vật thể kể trên, trong hàng vạn năm duy trì một xã hội nông nghiệp ổn định, người Bách Việt cũng sáng tạo nên nền văn hóa phi vật thể phong phú.

– Người Việt ưa hát múa, sáng tác nhiều ca dao, dân ca sau này được sưu tập cho vào kinh Thi.

– Âm nhạc phát triển với bát âm, ngũ cung. Có nhiều loại đàn độc đáo như đàn đá, khèn bầu, đàn bầu. Sau này được tập hợp thành kinh Nhạc.

– Nhiều tục thờ cúng và lễ hội dân gian: thờ trời đất, ông bà tổ tiên, thờ thần lúa, hội mùa, hội xuân.

– Người già được tôn trọng, là vốn quý tích lũy nhiều kinh nghiệm, là sự minh triết của cộng đồng.

– Tích lũy nhiều kinh nghiệm về thời tiết về cây trồng mà bà Nữ Oa là bậc thầy có tài đội đá vá trời (cách nói hình tượng của việc quan sát nắm vững thời tiết), những kinh nghiệm về đối xử với thiên nhiên, với hàng xóm láng giềng. Từ những vết chân chim in trên phù sa, cha ông ta làm ra chữ viết: chữ kết nút, chữ hình con nòng nọc (chữ Khoa đẩu), chữ hình ngọn lửa (Hỏa tự), chữ tượng hình, tiền thân của chữ vuông ngày nay bà dùng mu rùa bói toán….

Có lẽ dấu ấn văn hóa sâu sắc nhất mà cộng đồng Bách Việt để lại trên nước Trung Hoa cổ cũng như toàn bộ Ðông Á là nếp sống hài hòa giữa con người với nhau và với thiên nhiên. Người Việt cổ quan niệm thiên nhiên là vật thể sống, có linh hồn nên cần được tôn trọng: địa linh nhân kiệt. Cuộc sống là sự hài hòa, quân bình giữa những nguyên lý khác nhau: giữa sáng và tối, nóng và lạnh, giữa lý và tình vì thế những biểu hiện cực đoan bị tiết chế: không ai nắm tay đến tối gối đầu đến sáng! Không ai giầu ba họ không ai khó ba đời! Trí khôn của cộng đồng là trí khôn tập thể: khôn độc không bằng ngốc đàn. Tuy vậy vai trò cá nhân cũng được đánh giá cao: một người lo bằng kho người làm. Trong cộng đồng, vai trò quan trọng của người cha, người đàn ông được khẳng định đồng thời vai trò người đàn bà, người mẹ được coi trọng: của chồng công vợ! Mối quan hệ tuyệt đẹp: người đàn bà nhu thuận tỏ ra nhún nhường giữ vị trí thứ nhì trong khi đó thì đàn ông biết điều trân trọng đóng góp của người vợ, người đàn bà cho gia đình và xã hội. Không chỉ thế, trong xã hội nông nghiệp Việt cổ thì vai trò đàn bà còn được đề cao hơn lệnh ông không bằng cồng bà. Từ những quan hệ cụ thể trong gia đình thôn xóm mở ra tình đồng bào bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn. Bản sắc của văn hóa này, học giả Kim Ðịnh gọi rất chính xác là Việt nho. Việt nho là một tinh chất văn hóa đã làm nên bản sắc văn hóa Á Ðông. Sau này thời thế đổi thay nhưng người ta vẫn tìm được dấu tích của văn hóa đó khắp Ðông Á: Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật bản, Việt Nam. Ðiều thú vị là nhiều nhà xã hội học cũng tìm ra vết tích của Việt nho ở những sắc dân bản địa châu Mỹ như trong tài liệu của Lévi Strauss mà Kim Ðịnh đã dẫn.

Những đặc trưng văn hóa tinh thần của người tiền sử Ðông Nam Á được khái quát trong những điểm sau:

– Quan niệm nhân chủ: con người tồn tại trong mối tương quan giữa Thiên-Ðịa-Nhân. Trong đó Nhân là trung tâm, là chủ. Cái gì vừa lòng người cũng vừa lòng Trời. Trong quan hệ nhân chủ đó, người đàn bà được tôn trọng. Một trong những vị vua huyền thoại có nhiều công tích là Nữ Oa. Sau này còn có tục thờ đạo Mẫu.

– Quan niệm thái hòa: cuộc sống do nhiều nhân tố nhiều nguyên lý tạo nên, và chỉ tồn tại trong sự hài hòa giữa các nguyên lý đó vì vậy cuộc sống là sự thái hòa.

–  Coi trọng tâm linh: Người Việt cổ cho rằng con người có linh hồn. Do sống gắn bó với thiên nhiên, nên cũng coi thiên nhiên như vật thể sống, có linh hồn. Từ đó người Việt sống cùng cuộc sống hiện thực còn có thế giới tâm linh. Tục thờ phổ biến là thờ tổ tiên ông bà cha mẹ. Người Việt có tín ngưỡng đa thần: thờ bất cứ vật gì có thể tác họa cũng như tạo phúc cho mình.

Khi kẻ xâm lấn tràn tới, thành phần quý tộc tinh hoa của các bộ tộc Việt bỏ chạy về Nam, một bộ phận bất hợp tác thì vào rừng lẩn trốn thành người thiểu số còn đại đa số dân Việt thích ứng với cuộc sống mới. Cuộc săn đuổi và trốn chạy diễn ra dài dài trong lịch sử, kể đến nhiều nghìn năm. Do số dân quá ít, khi đối mặt với kẻ chiến bại đông đảo, kẻ chiến thắng Mông Cổ đã áp dụng thái độ ứng xử khôn ngoan với tộc người Miêu này. Khác với người Arian du mục khi chinh phục Ấn Ðộ đã áp chế người bản địa Dravidians bằng chế độ nô lệ hà khắc để lại những di họa lâu dài, người du mục Mông Cổ  giữ vai trò lãnh đạo và chuyển sang làm thương nghiệp, công nghiệp còn để cho người Miêu Việt làm công việc nặng nhọc là trồng trọt, chăn nuôi và đi lính. Lúc đầu choáng ngợp trước cuộc sống sung túc và văn hóa khác lạ của dân nông nghiệp, người du mục không chú ý lắm đến các vị thần, đến tín ngưỡng bản địa. Nhưng rất nhanh chóng, cộng đồng dân cư bản địa quá đông đúc đã đồng hóa kẻ xâm lăng, cả về huyết thống cả về văn hóa. Những thủ lĩnh Mông Cổ từ bỏ vật tổ truyền thống là con cọp trắng để nhận vật tổ của người Miêu Việt là con rồng làm vật tổ của mình, nhận những ông vua thời Tam hoàng, không chỉ nhân vật chính thống Hoàng đế mà cả Toại Nhân, Phục Hy, Thần Nông làm tổ. Người Mông Cổ và sau này hậu duệ của họ là người Hoa Hạ, đã kế thừa hầu hết nền văn hóa phi vật thể của Việt tộc.
  
  Trước hết là tiếp thu ngôn ngữ Việt.
Trong cuốn sách Vịnh Bắc Việt, tác giả Vũ Hữu San dẫn tài liệu của nhà địa lý kiêm toán học Buckminster Fuller cho rằng, có thể tìm ra nguồn gốc các nền văn minh căn cứ vào tỷ lệ thuận giữa trình độ văn hóa, di dân và mật độ nhân số. Từ lý thuyết đó, ông lập Dymaxion World Maps (Bản đồ động thái thế giới). Từ bản đồ của mình, B. Fuller đưa ra giả thuyết: vào thiên niên kỷ IV-III TCN, duyên hải Ðông và Ðông Nam Á chỉ chiếm 5% diện tích thế giới nhưng có tới 54% nhân loại đang sống. Dựa vào sự tính toán của ông, có thể suy ra, vào thời đó, người Việt có thể chiếm 65% nhân số thế giới.(37) Trong cộng đồng Ðông Á, người Việt là cư dân có nhân số lớn nhất, giữ vai trò lãnh đạo về văn hoá và ngôn ngữ.

Những phát hiện khảo cổ gần đây cho thấy:

– Năm 1999, khai quật 24 ngôi mộ cổ làng Giả Hồ thuộc tỉnh Hà Nam, di chỉ có tuổi 6.600 đến 6200 năm TCN, tiến sĩ Garman Harbottle thuộc Phòng thí nghiệm Quốc gia Brookhaven, New York, Hoa Kỳ cùng nhóm khảo cổ Trường Đại học Khoa học và công nghệ tỉnh An Huy, Trung Quốc xác định được 11 ký hiệu đặc biệt được khắc trên mai rùa. Harbottle cho biết: Điều rất có ý nghĩa là những ký hiệu trên có sự gần gũi với chữ Trung Quốc cổ. Trong những ký hiệu đó có cả biểu tượng về “mắt’ và “cửa sổ”,  số Tám và 20, tương đồng với những ký tự được sử dụng hàng nghìn năm sau vào thời nhà Thương (1700 đến 1100 TCN). Chúng sớm hơn những ký tự được phát hiện tại Mesopotamia hơn 2000 năm.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s