Hà Văn Thùy: Tìm Lại Cội Nguồn Văn Hóa Việt – Đoạn IV

PHẦN HAI
CỘI NGUỒN VĂN HÓA VIỆT NAM
Tìm nguồn gốc tổ tiên là việc vô cùng khó khăn vì thế 2000 năm nay chúng ta không làm nổi. Nhưng suy cho cùng, đó cũng chỉ là công việc của khoa học tự nhiên. Khi khoa học tiến bộ, sáng tạo những phương pháp và công cụ thích hợp, chúng ta cũng hoàn thành công việc mà hàng nghìn năm đành bất lực.

Nhưng tìm cội nguồn văn hóa của dân tộc lại là chuyện khác. Ðó không phải là sản phẩm của tự nhiên nên không thể có “công nghệ gene” thần kỳ nào giúp ta cả. Thêm vào đó, yêu cái đẹp, cái tiện ích là thuộc tính chung của con người. Trong quá trình sống gần hay xa nhau, con người luôn mượn của nhau những cái hay, cái đẹp, cái tiện ích mà mình chưa có. Vì vậy văn hóa các dân tộc hòa vào nhau như nước sông hòa vào nước biển… Tuy nhiên, chỉ duy nhất văn hóa còn lại như một gia tài cuối cùng xác nhận sự có mặt của một dân tộc giữa cộng đồng nhân loại. Vì vậy, dù khó đến mấy cũng phải tìm ra cội nguồn văn hóa của dân tộc Việt. Với dân tộc Việt, do số phận nghiệt ngã của mình, hơn một nghìn năm bị ngoại thuộc, không chỉ văn hóa vật chất bị phá, bị cướp mang đi mà văn hóa tinh thần, văn hóa phi vật thể cũng bị hủy hoại, cướp bóc hoặc bị đánh tráo… Giờ chính là lúc, từ trong gia tài bề bộn ấy cần tìm ra cái nào thực sự của mình, cái nào bị đánh cắp, cái nào người ta gán cho mình. Ðiều đó đánh dấu sự trưởng thành về văn hóa. Chỉ khi nào biết mình là ai, chúng ta mới biết mình cần đi tới đâu!

Ðó là công việc vô cùng khó khăn đòi hỏi tấm lòng, trí tuệ và công sức của cả dân tộc.
Rất may là, lúc này đây, việc tìm ra cội nguồn của tổ tiên giúp chúng ta những chỉ dẫn cần thiết để tìm ra cội nguồn văn hóa dân tộc.

*

*      *

   Cho đến nay do bài học từ những học giả Pháp và Trung Hoa, người Việt vẫn đinh ninh rằng, cha ông ta là một đám Tàu lai, bị chính người Tàu xua đuổi từ phía Nam Trung Quốc chạy xuống xâm chiếm đất này, chèn ép thậm chí tiêu diệt người bản địa, lập nên nhà nước Văn Lang… Mặc nhiên, trong tâm tưởng người Việt, nhất là trí thức, mang mặc cảm nặng nề: chúng ta là đám thực dân chiếm đoạt của người bản địa từ lãnh thổ đến lịch sử. Khi giới khảo cổ tìm thấy dưới lòng đất những nền văn hóa xưa rực rỡ, chúng ta cũng vui mừng, cũng tự hào nhưng thế giới cũng như chúng ta biết rằng đó là niềm tự hào vay mượn…

Nay ta biết rằng, tổ tiên ta chính là những người đặt chân trước hết lên Ðông Nam Á, sau đó tiến lên mở mang miền đất mênh mông của nước Trung Hoa, có những người sang chinh phục châu Mỹ. Sau đó, do sự biến chuyển của lịch sử, tổ tiên ta lại trở về mái nhà xưa cùng những người anh em bà con đồng tộc của mình xây dựng nhà nước đầu tiên trên đất nước này. Sự hiểu biết đó cho phép chúng ta tự tin và tự hào chính đáng về tổ tiên về đất nước của mình.

CHƯƠNG IV

 

VĂN HÓA TIỀN SỬ CỦA NGƯỜI VIỆT

 

    Từ những khai quật khảo cổ học, chúng ta biết rằng khoảng 300.000 năm về trước, người cổ đã có mặt trên đất nước ta. Khí hậu nóng và ẩm nhiệt đới không giữ được hài cốt họ nhưng những di vật để lại nơi mái đá Núi Ðọ cho biết trình độ Người vượn Việt Nam ở vào sơ kỳ đồ Ðá cũ. Sau đó là thời kỳ dài tăm tối. Khảo cổ học cho thấy, giống Người đứng thẳng Homo erectus tứ 1,8 triệu năm trước đã từ châu Phi di cư sang châu Á và có mặt từ Indonesia (người Java) tới Việt Nam (Người Núi Đọ), Trung Quốc (người Bắc Kinh). Khoảng 250000 năm trước, họ di cư sang châu Âu và 24000 năm trước bị tuyệt chủng trên đất Israel dưới tên người Neanderthal.

Rồi trên đất cổ Phú Thọ chúng ta phát hiện văn hóa Sơn Vi với công cụ sơ kỳ Ðá Mới là những hòn cuội được ghè đẽo. Di chỉ Thẩm Khuyên có tuổi 32.000 năm thuộc nền văn hóa này. Khảo cổ học Việt Nam nhận định đó là văn hóa đá cuội sớm nhất ở Việt Nam.

Tiếp đó là văn hóa Hòa Bình xuất hiện khoảng 18.000 năm trước.

Trong những nền văn hóa từng có mặt trên đất Việt Nam, văn hóa Hòa Bình có vị trí đặc biệt, được khoa học khảo cổ thế giới xác nhận là trung tâm nông nghiệp và công nghiệp đá cổ nhất thế giới. Trước đây thế giới cho rằng trung tâm nông nghiệp cổ nhất là ở Lưỡng Hà có tuổi C14 là 7000 năm. Nhưng khi phát hiện ra 10.000 năm tuổi của động thực vật được thuần dưỡng tại Hòa Bình thì thế giới chấn động và tâm phục khẩu phục thừa nhận vai trò mở đầu của văn hóa Hòa Bình. Tháng Giêng năm 1932, Hội nghị Khảo cổ học Quốc tế về tiền sử Viễn Ðông họp tại Hà Nội xác nhận: “Văn hóa Hòa Bình là trung tâm phát minh nông nghiệp và sản xuất nông nghiệp cùng chăn nuôi gia súc đầu tiên trên thế giới. Trung tâm nông nghiệp Hòa Bình có trước vùng Lưỡng Hà 3000 năm.” (Encyclopédia d’Archeologie)

Một phẩm chất nổi trội của văn hóa Hòa Bình là kỹ thuật chế tác đá cuội. Ðá cuội là loại đá cực rắn, nên việc ghè mài chúng rất khó khăn nhưng lại cần thiết cho việc chế tạo những dụng cụ khác như cầy, cuốc, thuổng… bằng đá, những thứ “máy cái” như thường nói sau này. Người Hòa Bình là cư dân dẫn đầu thế giới phát minh ra kỹ thuật này và sản phẩm của Hòa Bình được xuất khẩu đi nhiều nơi. Hòa Bình còn là nơi sớm nhất trên thế giới biết thuần dưỡng cây trồng và vật nuôi. Từ đây, lần đầu tiên trên thế giới cây lúa nước và khoai sọ ra đời.

Học giả Hoa Kỳ W.G. Solheim II,  Jorhman, Trương Quang Trực (Trung Quốc)  và học giả Nga N. Vavilow thừa nhận: “Ðông Nam Á mà chủ đạo là Việt Nam đã có một nền văn hóa tiền sử phát triển rất sớm, tiên tiến và nhanh chóng, sáng tạo và sống động chưa từng thấy ở nơi nào trên thế giới.”(25)

Học giả Hoa Kỳ C. Sauer viết trong cuốn Ðồng quê: “Ðúng là nông nghiệp đã tiến triển qua hai giai đoạn mà giai đoạn đầu là văn hóa Hòa Bình. Lúa nước đã được trồng cùng lúc với khoai sọ.”(26)

Dường như thấy chưa đủ, ông viết tiếp trong cuốn Cội nguồn nông nghiệp và sự phát tán: Tôi đã chứng minh Ðông Nam Á là cái nôi của nền nông nghiệp cổ nhất. Và tôi cũng chứng minh rằng văn hóa nông nghiệp có nguồn gốc gắn liền với đánh cá bằng lưới ở xứ này. Tôi cũng chứng minh rằng những động vật gia súc xưa nhất bắt nguồn từ Ðông Nam Á, và đây là trung tâm quan trọng của thế giới về kỹ thuật trồng trọt và thuần dưỡng cây trồng bằng cách tái sinh sản thực vật.” (27)

Và đây là ý kiến của ông W.G. Solheim II viết năm 1967:

“Tôi cho rằng khi chúng ta nghiên cứu lại nhiều cứ liệu ở lục địa Ðông Nam Á, chúng ta hoàn toàn có thể phát hiện ra rằng việc thuần dưỡng cây trồng đầu tiên trên thế giới đã được dân cư Hòa Bình (Việt Nam) thực hiện trong khoảng 10.000 năm TCN…”

“Rằng văn hóa Hòa Bình là văn hóa bản địa không hề chịu ảnh hưởng của bên ngoài, đưa tới văn hóa Bắc Sơn.”

“Rằng miền Bắc và miền Trung lục địa Ðông Nam Á có những nền văn hóa tiến bộ mà trong đó đã có sự phát triển của dụng cụ đá mài nhẵn đầu tiên của châu Á, nếu không nói là đầu tiên của thế giới và gốm đã được phát minh…”

“Rằng không chỉ là sự thuần hóa thực vật đầu tiên như ông Sauer đã gợi ý và chứng minh mà thôi, mà còn đi xa hơn, nơi đây đã cung cấp tư tưởng về nông nghiệp cho phương Tây. Và sau này một số cây đã được truyền đến Ấn Ðộ và châu Phi. Và Ðông Nam Á còn tiếp tục là một khu vực tiên tiến ở Viễn Ðông cho đến khi Trung Quốc thay thế xung lực này vào nửa đầu thiên niên kỷ thứ 2 TCN, tức khoảng 1500 năm TCN.”(28)

Bốn năm sau, tháng 3/1971 vị giáo sư Ðại học Hawaii này từ những khảo sát ở Thái Lan lại cho in một công trình quan trọng dưới nhan đề Ánh sáng mới dọi vào vùng bị lãng quên:

“Trong mục đích tìm về thời tiền sử ở Ðông Nam Á, chúng tôi cho rằng văn minh Ðông Nam Á phải được trải rộng ra tới những khu vực có các nền văn hóa liên hệ. Từ ngữ tiền sử Ðông Nam Á mà tôi sử dụng chứa đựng hai phần. Phần thứ nhất hay là phần đất chính Ðông Nam Á được trải dài từ rặng núi Tần Lĩnh phía bắc sông Hoàng Hà của Trung Hoa cho tới Singapore và từ miền Ðông Hải tiến về phía tây tới Miến Ðiện, vào tận Assam của Ấn Ðộ. Phần khác được gọi là quần đảo Ðông Nam Á đánh một vòng cung từ quần đảo Andaman ở nam Miến Ðiện tới Ðài Loan bao gồm Indonesia và Philippine.”

“Những chứng cứ từ những địa điểm khảo cổ trong vùng Ðông bắc và Tây bắc Thái Lan, với những phụ họa từ những khai quật ở Ðài Loan, Bắc và Nam Việt Nam, Mã Lai, Philippine và ngay cả từ bắc Australia cho thấy những di tích của những dân tộc đã trồng cây, chế tạo đồ đá, đồ gốm hàng ngàn năm trước các dân tộc sống ở vùng Cận Ðông, Ấn Ðộ và Trung Quốc.”

“Trong một địa điểm khai quật ở bắc Thái Lan, các nhà khảo cổ đã tìm thấy đồng được đúc trong những khuôn đôi vào khoảng từ 2300 đến hơn 3000 năm TCN. Ðó là những chứng cứ cụ thể cho thấy việc đúc đồng ở đây đã có trước cả Trung Hoa hay Ấn Ðộ cũng như vùng Cận Ðông mà tới bây giờ các chuyên gia vẫn còn tin là nơi luyện đồng đầu tiên trên thế giới.”

“Có người hỏi rằng, nếu sự việc này quá quan trọng đến như vậy tại sao vai trò vùng Ðông Nam Á chưa từng được biết đến? Lý do rất đơn giản là rất ít cuộc khai quật khảo cổ được tiến hành trước năm 1950. Các viên chức thuộc địa ít chú ý tới chuyện này. Thêm nữa, những kết quả khảo cổ tìm được đã bị diễn dịch theo giả thuyết văn hóa được phát triển theo chiều hướng đông tiến hoặc nam tiến. Những học giả này cho rằng nền văn minh nhân loại bắt đầu từ vùng Cận Ðông lan ra Ai Cập, tiếp theo là Hy Lạp và La Mã. Nền văn minh cũng đông tiến tới Ấn Ðộ và Trung Hoa. Ðông Nam Á vì quá xa nên chỉ tiếp nhận văn minh sau các vùng trên. Khi phát hiện rằng văn hóa của các nước Ðông Nam Á giống với Trung Hoa và Ấn Ðộ, người châu Âu cho rằng văn hóa hai nước này đã ảnh hưởng đến vùng Ðông Nam Á.”

Wilhem Solheim II viết tiếp:

“Tôi nghĩ rằng những đồ đá sắc cạnh có sớm nhất tìm thấy ở miền Bắc châu Úc 20.000 năm TCN có nguồn gốc thuộc Hòa Bình.”

“Tôi đồng ý với Sauer là những người dân thuộc nền văn hóa Hòa Bình là những người đầu tiên trên thế giới đã thuần hóa cây cỏ ở một nơi nào đó trong vùng Ðông Nam Á. Việc này cũng chẳng làm tôi ngạc nhiên nếu sự thuần hóa này bắt đầu sớm nhất khoảng 15.000 năm trước Công nguyên.”

“Thuyết cho rằng tiền sử Ðông Nam Á đã di chuyển từ phương Bắc xuống, mang theo những tiến triển quan trọng về nghệ thuật. Tôi thấy rằng văn hóa Sơ kỳ Ðá mới (Proto-Neolithic) phía Bắc Trung Hoa gọi là văn minh Yangshao (Ngưỡng Thiều) đã do trình độ thấp văn hóa Hòa Bình phát triển lên từ miền Bắc Nam Á vào khoảng kỷ nguyên thứ VI hay V  TCN.”

“Tôi cho rằng, văn hóa sau này được gọi là Lungshan (Long Sơn) mà người ta xưa nay vẫn cho là nó xuất phát ở Yangshao phía Bắc Trung Hoa rồi mới bành trướng sang phía Ðông và Ðông Nam, thì thực ra cả hai nền văn hóa ấy đều phát triển từ căn bản Hòa Bình.”

“Việc dùng thuyền độc mộc có lẽ đã được sử dụng trên các dòng sông nhỏ ở Ðông Nam Á từ lâu, trước kỷ nguyên thứ V TCN. Tôi tin rằng việc di chuyển bằng thuyền ra ngoài biển bắt đầu khoảng 4000 năm TCN, tình cờ đã đi đến Ðài Loan và Nhật Bản đem theo nghề trồng khoai sọ và có lẽ các hoa màu khác.”

“Dân tộc Ðông Nam Á cũng đã di chuyển sang phía tây, đạt tới Madagascar có lẽ vào khoảng 2000 năm TCN. Có lẽ họ đã cống hiến một số cây thuần dưỡng cho nền kinh tế miền Ðông châu Phi.”

“Vào khoảng thời gian ấy có sự tiếp xúc đầu tiên giữa Việt Nam và Ðịa Trung Hải có lẽ qua đường biển. Một số đồ đồng ít thông dụng xác chứng nguồn gốc Ðịa Trung Hải cũng đã tìm thấy ở địa điểm Ðông Sơn.”(29)

Ðể giúp bạn đọc một chút thư giãn, chúng tôi xin chép lại đây đoạn văn mô tả việc làm thuyền độc mộc của người xưa:

“Thoạt tiên người thợ làm thuyền chọn cây sao có kích thước lý tưởng, đường kính từ 80-100cm. Phải là cây đứng trên đất bằng vì tán lá cân đối, cấu trúc gỗ đẹp. Hạ cây đổ, người thợ cả quyết định chặt ngọn, lột vỏ. Từ hai đầu phẳng, chừa ra 50 cm mỗi đầu, đẽo hai mũi thuyền xẻ theo hình lá mây hay đuôi cá. Tiếp đó chặt và tách bỏ 4/10 đường kính thân cây, giữ lại phần sẽ làm khoang thuyền bằng cách chặt vát và tách bằng nêm. Người xưa có lẽ đã dùng loại đục nêm giống những chiếc đục đá ở Bảo tàng Côn Ðảo, giống cách tách gỗ của người da đỏ châu Mỹ.

Lăn nghiêng cây qua, úp lại, kê rồi đẽo phần mạn, phần đáy cho cân đối. Sau đó trở lại kê bằng để đẽo lòng thuyền.

Người thợ cả dùng một cây đinh mồi là cật tre già nướng qua lửa cho thật cứng, dài bằng bề ngang hai ngón tay trỏ và giữa, đóng cách đều khoảng nửa gang tay (10 cm) theo những đường ngang. Mỗi hàng đinh như vậy lại cách nhau khoảng 60-80 cm. Lưu ý là mọi mũi đinh đều hướng vào tâm thân cây. Ðóng rồi thì rút đinh ra. Sau đó đóng những chốt như đinh bằng chính gỗ sao vừa moi ra, thui qua lửa, có đường kính và chiều dài bằng nhau. Những đinh này để làm cỡ khi đẽo bên trong thuyền cho được mỏng đều. Thực chất đó là cách đo ngầm bên trong lòng thuyền.

Việc lấy gỗ từ lòng thân cây thường không dùng rìu mà dùng một công cụ giống như xẻng đào lỗ, máng hơi cong, mặt phẳng, cán tròn dài khoảng 1,2 m để đục chọt ngang và đào tung gỗ bằng loại cuốc đặc biệt giống chiếc cuốc đá Khánh Hòa, cho phép gọt từng lát mỏng đều.

Bí quyết thứ hai của người Mạ và J’ro là nong rộng lòng thuyền. Ðây là kinh nghiệm truyền thống tích lũy từ lâu đời. Những cây đường kính 1 met, người ta có thể căng rộng ra đến 1,5 m.

Công việc này đồng bào Mạ gọi là đố thuyền. Lúc này gỗ còn tươi, chứa nhiều nước nên cũng có thể hiểu như việc hấp hay luộc gỗ cho mềm để dễ kéo căng ra. Họ nâng thuyền lên dàn cao khoảng 1 met, đốt lửa bên dưới, cử hai người trông coi lửa và quan sát thuyền. Người thợ cả chịu trách nhiệm về sự cân xứng của con thuyền. Thuyền được úp xuống, từ đầu tới đuôi được chia làm 4 đoạn, đặt 3 miếng sáp ong rú lớn cỡ 4 ngón tay ở 3 vị trí trên bụng thuyền. Người giữ lửa chú ý quan sát độ nóng chảy của sáp để điều chỉnh nhiệt độ cho nóng đều và tránh ngọn lửa bắt lên cháy thuyền.

Những người khác dùng cây chuẩn bị sẵn để găng, để uốn mạn thuyền. Họ cột hai cây vào phía trong và phía ngoài mạn rồi dùng lực kéo cho mạn thuyền dãn dần ra. Người thợ cả ngắm để chỉnh mức kéo cho đều. Khi đạt yêu cầu thì dùng cây găng lại.

Khi thuyền hoàn thành, người ta giữ từ 4 đến 6 cây găng vừa làm xương cho thuyền vững vừa dùng để ngồi. Bằng cách này, người ta làm được những con thuyền độc mộc dài 7-8 m rộng 1,3-1,5 m. Cũng có những chiếc rộng đến 2,5 m. Thuyền độc mộc có thể chở được 2 trâu cày, người chăn trâu và cày bừa, khối lượng tới 3 tấn qua sông. (30)”

Trước đây giới khảo cổ vẫn quan niệm là văn hóa Hòa Bình không có đồ gốm, trong khi đồ gốm nổi tiếng Lapita tìm thấy ở nhiều đảo ngoài khơi Ðông Nam Á, có 3500 tuổi. Nhưng  mới đây đã chứng minh được, gốm cổ nhất tìm được ở Việt Nam là gốm Hang Ðắng, tiếp đó là gốm tìm được ở bờ biển Hạ Long, Cái Bèo, Ða Bút, Quỳnh Văn, đến Bàu Tró, Sa Huỳnh… Gốm Lapita có nguồn gốc từ gốm trong hang động ở Thường Xuân, Thanh Hóa, Quỳ Châu (Nghệ An)…là con đẻ của gốm Ða Bút, Quỳnh Văn, Bàu Tró.(31)

Tiếp theo văn hóa Hòa Bình là văn hóa Bắc Sơn mà chủ nhân thuộc về nhóm Indonesian và Melanesian có tuổi từ 8000 đến 6000 năm TCN.

Sau đó là thời đại Đồ đồng bắt đầu từ Phùng Nguyên 4000 năm TCN, trải qua Ðồng Ðậu, Gò Mun… làm nên văn hóa Ðông Sơn vào khoảng 2000 đến năm 111 TCN. Ðây là thời kỳ phát triển rực rỡ của đồ đồng mà tiêu biểu là linh khí của người Việt: trống đồng. Trống đồng tìm thấy trên địa bàn rộng lớn gồm lục địa Ðông Nam Á, từ Tứ Xuyên cho đến Malacca. Niên đại đồ đồng sớm nhất tìm được ở Phùng Nguyên là năm 1850 TCN. Còn đồ đồng tìm được ở Hải Môn Khẩu ở miền Nam Trung Hoa có tuổi 1130 TCN. Ðiều này có thể giải thích là nghề đúc đồng đã từ Ðông Sơn đi lên.

Một đặc điểm là đồ đồng Ðông Sơn rất giống với những đồ bằng đá bằng gốm của Phùng Nguyên, cả về hình dáng lẫn hoa văn: rìu đá hình chữ nhật của Phùng Nguyên trông tương tự những lưỡi rìu bằng đồng thau của văn hóa Ðông Sơn. Những mũi tên đồng Cổ Loa không khác tên bằng đá thời Phùng Nguyên. Kết cấu và hoa văn của thạp đồng Ðào Thịnh hay Hợp Minh tìm được tại vùng đất Phong Châu tuy tinh tế hơn nhưng cũng cùng kiểu dáng và hoa văn trên các thạp gốm thời kỳ Phùng Nguyên.

Khi phân tích thành phần hợp kim trên đồ đồng Phùng Nguyên, các nhà khảo cổ học Việt nam cho thấy: mẫu vật cổ nhất tìm được ở Gò Bông có niên đại 1850 TCN là đồng thau, tức đồng có pha thiếc. Tại Việt Nam cũng như di chỉ Hải Môn khẩu bên sông Dương Tử đều không tìm thấy những vật dụng bằng đồng nguyên chất, tức đồng đỏ. Ðến văn hóa Ðồng Ðậu ở di chỉ Vườn Chuối, kỹ thuật đồng, ngoài thiếc có thêm antimoine. Từ Ðông Sơn về sau, chì được pha thêm làm cho đồ đồng trở nên dai bền hơn. Văn hóa đồng thau đến giai đoạn Ðông Sơn muộn phát triển tới đỉnh cao, làm ra những vật dụng có độ thẩm mỹ tinh tế. Ngày nay, dù nhiều cố gắng nhưng những thợ lành nghề nhất cũng không làm nổi những chiếc trống tinh xảo như thế.

Giáo sư Trung Quốc Lân Thuần Thanh xác nhận: “Bắt đầu khởi đúc trống đồng là ở Trung Quốc Bách Việt mà Hoa Trung là địa khu từ xa xưa của dân Bách Việt. Trống đồng nhiều nhất ở huyện Hưng Văn tỉnh Tứ Xuyên, còn ở bán đảo Ðông Dương thì trống đồng Lạc Việt ở miền Bắc và miền Trung là có tiếng hơn cả. F. Heger gọi trống đồng Lạc Việt thuộc hạng thứ nhất.” (Nguyễn Ðăng Thục bđd). Theo học giả này thì khởi đúc trống đồng là ở Trung Quốc Bách Việt. Ðiều đó chỉ đúng một nửa: Trống đồng ở Trung Nguyên do người Việt đúc. Nhưng khởi đúc thì phải từ Ðông Sơn. Trống Ðông Sơn có trước trống Hưng Văn mà phẩm chất vượt trội.

Không phải ngẫu nhiên mà thời Ðông Sơn trùng với thời lập nước Văn Lang. Nhiều tài liệu nói rằng, vào cuối thiên niên kỷ thứ II tức khoảng sau 1500 năm TCN do sự dồn ép của người Hán, nhiều tộc người trong cư dân Bách Việt sống ở lưu vực sông Dương Tử rời bỏ vùng cư trú trở lại Ðông Nam Á. Người Mianma tìm về đất Mianma, người Thái trở về đất Thái và người Việt về với đất Việt… Từ những kinh nghiệm thu lượm được ở phía Bắc, những người trở về nói với đồng bào mình rằng: thời thế đã thay đổi. Bên cạnh chúng ta đang hình thành những nhà nước hùng mạnh và thiện chiến. Không chỉ xua đuổi chúng tôi mà được thể, họ sẽ tràn xuống chiếm đất của chúng ta. Ðể sống còn, chúng ta không thể duy trì tình trạng bộ lạc mà phải liên kết các bộ lạc lại xây dựng thành nhà nước thống nhất, phải có quân đội, phải rèn vũ khí… Có lẽ các nước Miến, Thái, Việt, Lào, Miên cổ đã được hình thành như thế. Có thể ông W.G Solheim II đúng phần nào khi nói: “Và Ðông Nam Á còn tiếp tục là một khu vực tiên tiến ở Viễn Ðông cho đến khi Trung Quốc thay thế xung lực này vào nửa đầu thiên niên kỷ thứ 2 TCN, tức khoảng 1500 năm TCN.” Nhưng sự thực là, trong khi Trung Quốc chiếm thế thượng phong tạo dựng nền văn hóa mới thì không phải văn hóa Ðông Nam Á lụi tàn. Khi xây dựng được quốc gia trên đất hương hỏa của mình, kết hợp kinh nghiệm tại chỗ cùng với sự khôn ngoan của những người trở về, các tộc người Ðông Nam Á đã đẩy văn minh Ðông Nam Á lên giai đoạn rực rỡ mới, đó là văn hóa đồng thau thời Ðông Sơn. Trống đồng Ðông Sơn lan tỏa ra các hòn đảo ngoài khơi, sang đất Thái Lan. Người Thái Lan cũng làm nên văn hóa đồng đặc sắc của mình. Tại nước Thục phương Bắc cũng có văn hóa đồng thau tinh xảo và sớm hơn cả đồng nhà Thương của người Hán.

Trong 3 cái mốc tạo nên văn minh nhân loại: phát minh ra lúa nước, kỹ thuật hàng hải và xây dựng đô thị thì tổ tiên người Ðông Nam Á, trong đó có Việt Nam chúng ta đã là người đầu tiên sáng tạo ra lúa nước. Tổ tiên ta cũng rất sớm chế ra thuyền vượt biển đi lại trong vùng và giao thương với thế giới.

Vào cuối thời Ðông Sơn, trong sự phát triển chung của khu vực, người Âu Lạc xây dựng thành quách đầu tiên tại bộ Vũ Ninh, sau gọi là thành Cổ Loa. Thành này do tướng quân Cao Lỗ theo sự chỉ đạo của An Dương Vương xây dựng. Ta biết rằng năm 257 TCN, Thục Phán được nước của vua Hùng Duệ vương. Chỉ năm sau ông chủ trương dời đô về Vũ Ninh. Phải nói đây là tư tưởng cách tân rất táo bạo của Thục Phán. Ðiều này chứng tỏ ông có tầm nhìn chiến lược rất xa. Tầm nhìn này phải chăng có được một phần nhờ ông là dòng dõi của nước Thục, một quốc gia mạnh, có nền văn hóa cao lại có nhiều kinh nghiệm trong cuộc chống chọi với nhà Tần? Vì vậy ngay khi lên nắm quyền, chàng trai mới ngoài hai mươi tuổi nhận ra kinh đô Văn Lang của các vua Hùng là sản phẩm của cuộc sống bộ lạc nông nghiệp ổn định, thanh bình, giống như một cái làng, một “chạ cả” vừa không đủ khả năng lãnh đạo đất nước lúc này đã rộng lớn, vừa không thể chống chọi trước sức tấn công của kẻ thù. Chàng nhận ra rằng dời đô là công việc đầu tiên phải làm. Vũ Ninh lúc đó là trung tâm của Âu Lạc mà vùng đông dân hơn, đô hội hơn là Kẻ Dâu nhưng không thể chọn nơi đó đóng đô vì đất hẹp, sông nhỏ không thích hợp cho một kinh đô lớn. Việc chọn Kẻ Lũ (Cổ Loa) là hoàn toàn chính xác.

Trong việc đắp thành, điều khiến ta quan tâm là chọn kiểu thức xây thành. Ở phương Bắc, người thời Chiến Quốc đã xây rất nhiều thành. Các thành của họ đều hình vuông hay hình chữ nhật. Dùng lao động đông đảo và nhiều vật liệu, họ bạt đồi lấp hồ ao để đắp những tòa thành vuông. Trong khi đó, Thục vương dựa trên thực tế mặt bằng của vị trí xây thành đã cho nối những quả đồi thấp ở gần nhau lại, không theo hình dạng nhất định, tạo ra hai vòng thành hình trái lê gần khép nhau ở phía nam. Vòng thành ngoài có chu vi 8000 m, chiều cao trung bình 3-4 m, chân thành rộng 10-12 m. Vòng thành trong chu vi 6500m, cao từ 6-12 m, mặt thành rộng 10 m, chân thành rộng 20m. Cả hai vòng thành chung một cửa Nam. Cách làm này tận dụng tối ưu địa hình nên đạt hiệu quả cao về thời gian, nhân lực cùng vật liệu. Mỗi vòng thành đều có hào sâu ở ngoài, tiếp đó là bãi cắm chông và trồng tre gai, bên trong là lũy cao. Do lũy rất cao nên người Hán gọi là thành Côn Lôn. Tận dụng lợi thế của thiên nhiên là Ðầm Cả và những nhánh của sông Hoàng, trong và ngoài thành còn có đường thủy giúp giao thông thuận tiện và thủy binh tiến lui linh hoạt. Do phải đắp thành qua những đầm hồ nên xử lý móng là vấn đề kỹ thuật quan trọng bậc nhất. Lúc đầu vì chưa đủ kinh nghiệm nên nhiều đoạn thành bị đổ, sau đó học được kỹ thuật cắm kè, dùng gạch ngói vỡ và đá làm móng nên việc xây thành được thuận lợi.

Thực tế cho thấy công hiệu của thành Cổ Loa: Nhâm Ngao nhiều lần tấn công phá thành nhưng đều thất bại. Như vậy là trong việc xây thành lũy đầu tiên của mình, người Việt đã tỏ ra sáng tạo độc đáo. Do vị trí như vậy mà một nghìn năm sau, khi chiến thắng quân Nam Hán, Ngô Quyền chọn Cổ Loa làm nơi đóng đô đầu tiên của nhà nước tự chủ.

Nhân đây xin bàn đôi lời về tòa thành này.
Hồi nhỏ chúng tôi được học: “Thành có hình xoắn ốc nên gọi là thành Cổ Loa.” Rồi quá nhiều lần đọc đâu đó: “Loa Thành là biểu hiện trí tuệ độc đáo tuyệt vời của người Việt về mặt khoa học quân sự mà không nơi nào trên thế giới có được!” Nghe vậy thì biết vậy nào dám cãi, tuy cũng hơi ớn cái giọng vỗ ngực tự phụ kiểu phường tuồng!

Nhưng rồi một lúc nào đó chúng tôi giật mình tự hỏi: Người ta đánh nhau thế nào trong cái thành hình xoắn ốc như vậy? Và nhận ra, chẳng cần hiểu biết lắm về quân sự, cũng thấy được là, chỉ cần tạo một cửa mở, quân địch sẽ như nước lũ ào theo đường xoắn ốc vào chém tướng bắt vua, vì không còn vật gì ngăn giặc! Tường thành lúc này lại trở nên vật cản không cho quân từ ngoài vào cứu! Như vậy, thành hình ốc chẳng phải sáng kiến hay ho gì về khoa học quân sự mà kỳ thực là một cái bẫy tai họa!

Nghi ngờ ưu thế quân sự của Loa Thành dẫn chúng tôi tới nghi ngờ sự tồn tại của một tòa thành hình xoắn ốc. Ðiều này buộc chúng tôi tìm hiểu về cấu trúc của Loa Thành.

Ðược biết, vào những năm 60 thế kỷ trước, Trường Ðại học Tổng hợp Hà Nội khảo sát di tích thành Cổ Loa và công bố những số liệu sau:

Trên hiện trạng di tích, thành có 3 vòng:

– Vòng ngoài hình dạng không cố định, chu vi 8000 m

– Vòng giữa hình dạng không cố định, khuôn theo vòng ngoài, chu vi 6500 m

– Vòng trong hình chữ nhật, chu vi 1650m.

Mỗi vòng thành đều có 3 lớp: hào sâu ở ngoài, lớp rào gai hay chông ở giữa và bên trong là thành đất. Vòng thành ngoài và vòng thành giữa không có hình dạng nhất định, gần như quả lê, phình to mạn bắc, thu hẹp dần về phía nam rồi nối liền nhau, chừa một khoảng trống làm cửa Nam. Vòng thành trong hình chữ nhật, trên mặt thành có 12 ụ lửa (hỏa hồi).

Căn cứ đặc điểm các vòng thành, các nhà khảo cổ kết luận:

– Vòng thành ngoài và giữa do An Dương Vương đắp.

– Vòng thành trong (Thành Nội ) được gọi là Kiển Thành do Mã Viện xây sau khi dẹp xong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng.

Như vậy là trong vòng 300 năm từ khi xây dựng cho đến khi khởi nghĩa Hai Bà Trưng thất bại, thành Cổ Loa do An Dương Vương đắp chỉ có hai vòng thành, mỗi vòng gồm ba lớp. Hai vòng thành này cách biệt. Không hề có việc các vòng thành cuộn hình xoắn ốc.

Sau năm 43, Mã Viện cho đắp thành nội hình chữ nhật ở vị trí trung tâm vòng thành giữa, gọi là Kiển thành (thành hình tổ kén). Thành nội cũng có 3 lớp và cũng cách biệt với hai vòng thành bên ngoài. Như vậy, thành Cổ Loa thời Mã Viện có 3 vòng thành cách biệt, thuộc loại hình thành lũy cổ điển, về nguyên lý kiến trúc không có gì khác so với những thành lũy có trước nó.

Từ phân tích trên cho thấy thành Cổ Loa thời An Dương Vương là một thành lũy bình thường không hề có hình xoắn ốc! Vì vậy không thể nói Thành có hình xoắn ốc nên gọi là thành Cổ Loa! Và lẽ đương nhiên, nếu nhìn ra vẻ có hình xoắn ốc thì chính là do Mã Viện xây Thành Nội mà có chứ không phải sáng tạo của An Dương Vương!

Vậy tên Thành Cổ Loa từ đâu ra?

Cuốn sách đầu tiên nói đến thành của An Dương Vương là Nam Việt chí của Thẩm Hoài Viễn thế kỷ thứ 5. Nhưng sách đã mất, người tra cứu chỉ gặp từng đoạn trong những sách khác, đoạn sau do sách Cựu Ðường thư dẫn lại : “An Dương Vương cai trị Giao Chỉ. Thành có 9 vòng, chu vi 9 dặm.”

Tùy thư ghi: “Lý Phật Tử đóng đô ở Việt vương cổ thành.”

An Nam chí lược của Lê Tắc thế kỷ XIV viết: “Thành Việt vương tục gọi là thành Khả Lũ.”

Tới thế kỷ XV, An Nam chí nguyên của Cao Hùng Trưng người đời Minh viết: “Việt vương thành ở huyện Ðông Ngạn, còn gọi là Loa thành.”  “Có tên Loa Thành vì thành ấy quanh co như hình con ốc.”

Phân tích những lời dẫn trên ta thấy:

1- Nam Việt chí viết không chính xác, đã gộp cả Kiển Thành của Mã Viện vào thành cũ của An Dương Vương. Từ đấy các sách khác viết sai theo.

2- An Nam chí nguyên nói: có tên Loa Thành vì thành ấy quanh co như hình con ốc.  Nếu dựa vào hình dạng bên ngoài của thành thì sự ví von của An Nam chí nguyên có thể chấp nhận. Nhưng cách ví von này không có nghĩa An Nam chí nguyên bảo rằng thành có hình xoắn ốc. Cách giải thích “thành có hình xoắn ốc nên gọi là Loa Thành” là sự hiểu lầm ý của sách An Nam chí nguyên.

Thử giải thích tên Loa Thành:

Chúng tôi đoán rằng cái chạ mà An Dương Vương chọn định đô vốn có tên Việt là Kẻ Lủ (có nghĩa là Người Ốc), vì đấy là vùng nhiều ao đầm có lắm ốc. Trong thời Âu Lạc được thay bằng Thành Chủ nhưng Kẻ Lủ vẫn sống trong ký ức người dân. Khi Mã Viện tới, lấy lại tên gọi thời Tần là Thành Côn Lôn. Mỗi khi một thế lực cai trị đến đóng, thành lại được đặt tên cho phù hợp. Ðến thế kỷ XIV, vào thời Lý Phật Tử, thành được lấy theo tên nôm Kẻ Lủ nhưng chuyển sang tên chữ là Khả Lũ. Thời Lý Phật Tử quá ngắn, sau đó thành bị bỏ hoang phế, người dân lại gọi theo tên cũ Kẻ Lủ. Sang thế kỷ XV, Kẻ Lủ được chuyển sang âm Hán Việt là Cổ Loa. Những người làm sách đến thăm thành cũ, theo tên địa phương gọi là Thành Cổ Loa, rồi từ đó chuyển sang Loa Thành.

Tác giả An Nam chí lược, cũng như các tác giả trước đó thấy tòa thành cổ có 3 vòng gồm 9 lớp nhưng không biết vòng Kiển Thành do Mã Viện đắp nên gộp tất cả vào cho An Dương Vương. Nhìn hình dạng bề ngoài tòa thành và nghe tên thành là Cổ Loa rồi vì từ tố loa-ốc đã suy đoán là thành quanh co như con ốc nên gọi là Loa Thành.

Kết quả là từ cuốn sách này làm cho người sau lầm tưởng thành được kiến trúc hình xoắn ốc. Rồi nhân đó những người hoang tưởng cho là biểu hiện trí tuệ độc đáo tuyệt vời của người Việt về mặt khoa học quân sự mà không nơi nào trên thế giới có được!

Họ không biết rằng, thành của An Dương Vương chỉ có 2 vòng, 6 lớp nên không có hình xoáy ốc. Hình xoáy ốc nếu có lại là kết quả việc làm vô tình của Mã Viện!

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s