Khải Nguyên – NHỮNG NẺO ĐƯỜNG QUÊ VIỆT (tiếp theo)

Chuyến tham quan – du lịch từ Hải Phòng qua miền Trung, lên Đà Lạt vào Nam Bộ đến tận Hà Tiên, ngót một tháng trời.

Cảm tưởng lạ mà quen, quen mà lạ và lạ nhiều hơn:

Ngôi mộ tác giả Truyện Kiều nay không “cùng thập loại chúng sinh nằm kề” nữa và đã có “cành để gọi tiếng chim”. Khu lưu niệm Nguyễn Du: nhà thờ họ, nhà ở đều bằng gạch kiểu cổ đơn sơ, cũ kĩ và trống trơ, hoang vắng; nhà trưng bày nghèo hiện vật; một khu vườn rộng với tường bao quanh có dấu bàn tay người chăm sóc, tuy quạnh quẽ. Hình như một số câu thơ ghi bằng chữ quốc ngữ, để thuyết trình, sai. “Thiên hạ thuỳ nhân khấp Tố Như“; nếu tôi không nhầm thì “hà nhân” chứ không phải “thuỳ nhân”, đã “thuỳ” thì chẳng cần thêm “nhân” nữa. “Nghêu ngao vui thú sơn hà / Mai là bạn cũ, hạc là người quen“, tôi đọc ở đâu đó “yên hà” thay vì “sơn hà”. Tôi nêu thắc mắc, cô thuyết minh có vẻ muốn nghe ra, nhưng một anh cũng còn trẻ chừng là cấp trên của cô gạt đi, tỏ ý không có gì phải nghi vấn ở đây nữa cả. Đường từ khu lưu niệm ra mộ thi hào đi tắt qua một thửa khoai lang. Mấy người có tuổi cố tránh khỏi dẫm vào luống trong khi những cô cậu thanh niên thì cứ đạp bừa đi.

Cầu Hiền Lương mới xây, hiện đại. Giá cái cầu cũ từng là nỗi nhức nhối của dân ta suốt hai mươi năm vẫn được giữ lại như một hiện vật bảo tàng! Cột cờ của chế độ Sài Gòn ở bờ nam được bảo lưu. Còn ở bờ bắc, cột cờ kiêu hãnh trong bom đạn ngày nào giờ chắc hoá thân vào khối tượng đài xi măng lưu niệm. Xe không dừng, chỉ nghe nói, biết thế. Hơi ngùi ngùi. Nếu cột cờ bờ bắc còn, hẳn tượng đài lưu niệm nói được nhiều hơn.

Huế lạ đi rất nhiều. Năm 1979, tôi gặp một Huế tĩnh lặng. Ngày ấy đang kì nghỉ hè, vắng bóng dáng học trò, Huế như thiu thiu trong nắng nồng. Rất ít xe ôtô, kể cả trên đường số Một băng qua thành phố. Đường ra Cửa Thuận cả buổi mới có một chuyến xe. Hiếm người đi dạo, hiếm các hàng bán rong. Đứng trên tầng thượng khách sạn Hương Giang sát bờ nam con sông làm duyên cho xứ Huế trông ra mặt nước trải ra man mác hai chiều, những con thuyền thơ mộng trong văn, thơ, nhạc, họa biến đâu trong niềm cổ tích? Cầu Tràng Tiền khuyết vòm cung trên hai nhịp gần bờ nam nom vẫn dễ thương trong cái dáng trầm mặc của nó. Buổi tối, tôi lững thững ra đó đi từng bước nhẹ mường tượng bóng nữ sinh áo tím thướt tha từng quấy rầy ước mơ của gã học sinh quê mùa chưa một lần biết Huế mà mê đọc “Huế, một buổi chiều” của Lưu Trọng Lư. Tôi đã mượn xe đi một vòng Vĩ  Dạ những mong chớp được một hình ảnh sau “lá trúc che ngang”. Chỉ thấy một thôn quê tươi lành mà kiêu sa ngầm. Huế ngày ấy dù sao cũng đã đáp ứng phần nào Huế trong trí tưởng tượng của tôi. Bây giờ dường như là một Huế khác. Rất nhiều xe cộ; rất nhiều người. Khó mà tìm được một quãng vắng, không gian hoặc thời gian, nơi phố xá như ngày ấy. Đêm đến, hai bên bờ sông Hương chạy qua hai đầu cầu Tràng Tiền và Phú Xuân biến thành bãi nhậu, ăn và uống. Cầu Tràng Tiền đã được sửa lại toàn vẹn, đẹp lên, song kém thơ mộng đi, hẳn không do tự thân nó. Ngày trước, tôi có thể đứng trên cầu một mình trong đêm mà ngắm, mà nghĩ. Bây giờ, muốn vậy e phải chờ lúc nửa đêm về sáng, mà vị tất. Sự ồn ã, xô bồ cũng đã lan đến thành phố thơ mộng này. Muốn thưởng thức những món ăn dân dã mà thanh lịch phải biết nơi và biết lúc. Một “thất ý” nho nhỏ: Bốn người đi ăn bún bò Huế song gặp phải tiệm “Huế dổm” hay sao ấy chẳng ra mùi vị Huế; phải trả năm nghìn đồng một bát, một cô bán tạp hoá người gốc Hà Nội biết chuyện bảo: “Bọn em ăn, chỉ phải trả ba nghìn rưỡi thôi”. Đêm nằm trong nhà nghỉ lắng tiếng rao quà đêm mà không thấy. Sông Hương giờ hiếm bóng cô gái đứng chèo thuyền, thay vào đấy là tiếng máy nổ làm xao động cái uể oải của dòng sông nổi tiếng, cả tai tiếng. Trong thành cổ thêm một số công trình trùng tu. Điện Thái Hoà nom như mới. Còn nhiều hoang phế, điêu tàn. Lắm cảnh nghịch mắt. Cảnh chụp ảnh vua giả, hoàng hậu giả, bi trong hài. Thuê áo mão, hia hốt ở các đoàn tuồng, cải lương mà đóng bộ để chụp có khi xôm hơn và hợp hơn. Lăng Tự Đức, trong nhà thuỷ tạ cạnh hồ sen, một “vua” và một “hoàng hậu” béo ú “thảnh thơi” nằm trên sập ngự xưa, thấy khách tham quan vào chỉ người đàn ông nhổm dậy một chốc. Cũng ở lăng này, trong nhà bia, bọn người ở đâu tới không biết ngang nhiên đánh bạc cãi nhau ỏm tỏi át cả lời thuyết minh. Bia thì nước mưa dột ăn mòn đá vôi loang lổ; e rằng ít lâu nữa hết cả chữ. Có lẽ hiếm có nước nào mà việc quản lí các di tích lịch sử, các di tích văn hoá quá “dễ dãi” như ở nước ta lúc này! Nhà cụ Phan Bội Châu xưa, cột kèo mọt bày cả ra; đồ gỗ, đồ tre đan hỏng vứt vạ vật. Sực nhớ câu thơ “rỏ máu” của cụ: Những tưởng anh em vầy bốn biển / Nào ngờ trăng gió nhốt ba gian. Cảnh này, trăng gió “nhốt” vào đâu? Nhà lưu niệm “ông già bến Ngự” xây tử tế nhưng nội dung hơi “khiêm tốn”. Nổi nhất vẫn là tượng chân dung nhà chí sĩ bằng đồng, rất to, công trình nghệ thuật của chính người Huế, đúc xong đầu năm 1975, đúc xong thì Huế được giải phóng, mãi hơn mười năm sau mới có bệ để đặt lên [Nghe nói giám đốc sở Văn hoá tỉnh hồi đó là Trần H. bảo: chưa xây tượng cụ Hồ, sao đã đặt tượng cụ Phan? (!)].

Nha Trang, vỉa hè khá sạch và thoáng. Bãi biển phía nam lộn xộn những rác. Bà bán giải khát, một cán bộ công đoàn về hưu, mắt trước mắt sau dòm chừng để… chạy khi có bóng công an (Tuy vậy, bà ta vẫn còn giọng và dáng “cán bộ” lắm). Bà ta nói: “Cấm bán hàng để qui hoạch, nhưng hơn một năm rồi vẫn chẳng thấy động tĩnh. Chúng tôi mấy lần làm đơn đề nghị trong khi chờ đợi hãy tạm cho phép chúng tôi kiếm ăn nhưng không được chấp nhận”. Nha Trang còn nhiều tiềm năng du lịch cảnh quan, sinh thái, du hí,… nơi biển, đảo, núi, di tích, chưa khai thác bao nhiêu.

Đà Lạt, những nơi hồi nào bị cấm vào để dành cho các vị quan to, -kể cả của chế độ mới, thì nay được là “điểm du lịch” như Dinh 2 (Palace 2), vườn hoa T.L.X (có lẽ nên tìm cho vườn hoa này một cái tên thích hợp hơn), vv… thêm các công trình nhân tạo ở các thắng cảnh. Song, có nơi hơi lạm dụng át mất vẻ thiên nhiên như ở thác Cam Li. Phân ngựa rải khắp đồi kề Thung-lũng-tình-yêu. Bên hồ Xuân Hương, ngoài phân ngựa, còn thêm rác và mùi khai ngự trị. Đường phố được nâng cấp. Các khách sạn được chỉnh trang hoặc làm mới. Thật tiếc! bãi cỏ thơ mộng bên hồ Xuân Hương bị thôn tính vào khuôn viên khách sạn Pa-la-xơ! Đà Lạt giờ đông hơn, ồn hơn, xô bồ hơn, và nóng hơn, có lẽ do rừng bị phá nhiều và người đông lên. Một ngôi chùa khá lớn, nghe gọi là chùa Tàu, vừa xây mới tinh trên đất Việt Nam mà không có qua một chữ Việt nào. Cũng vậy, biển hiệu của một số văn phòng đại diện hoặc trụ sở của người nước ngoài! Nhớ xa hơn, tại khu triển lãm Giảng Võ năm 1995, các gian hàng nước ngoài cũng chẳng trưng một chữ Việt nào, kể cả các bảng giới thiệu hàng họ. Các nhà chức trách nước mình “dễ tính” thật! Cũng chẳng biết nói sao. Ngay của mình tại sân bóng chuyền Phan Đình Phùng, thành phố Hồ Chí Minh, chẳng lù lù ở bảng ghi điểm hai chữ “locaux” và “visiteurs” đó sao! Động trời hơn, và lố bịch, ông chủ tịch thành phố Hải Phòng thay mặt chính quyền sở tại lên chào mừng một cuộc thi đấu quốc tế đã dõng dạc đọc diễn văn bằng tiếng… Anh, và “chiếu có” đồng bào mình cho phiên dịch ra tiếng Việt tại chỗ, khiến một bà khách người Úc ngồi cạnh đấy cứ giương mắt ra nhìn, lạ lẫm và nghi hoặc, như thấy một vật lạ, chắc không phải chỉ vì phải nghe một thứ tiếng Anh “Việt-nam-midơ”. Hành động “dũng cảm” này còn được vị chủ tịch kia “tái diễn” ở một cuộc khác, lần này bằng tiếng Pháp. Ai dám bảo “vị” kém tiếng mẹ đẻ? Và sao lại nỡ trách người nước ngoài sống và làm ăn trên đất Việt Nam không tôn trọng chữ Việt!

Đà Nẵng. Ngũ Hành Sơn trở nên “đông vui”, dưới chân núi đã là phố xá sầm uất, phố “đồ đá mĩ nghệ”. Các lối lên xuống được tu sửa thoáng đãng, dễ đi, nhưng giảm vẻ cổ kính và mất không gian cổ tích. Lối thoát “huyền thoại” của dũng sĩ Phan Hành Sơn hồi đánh Mĩ bị rác lấp. Đường vào hang có pho tượng Phật cao bốn mét sặc mùi khai nồng, không chỉ là tội của những khách tham quan thiếu văn hoá!.

Hội An không như hình dung qua báo và truyền hình. Phố cổ phải nhìn kĩ mới thấy, do nắng nóng một phần, phần chính là do cuộc sống bon chen, xô bồ làm mờ đi, che đi. Đường gỗ qua chùa Cầu cấm xe máy mà xe máy cứ phóng ào qua. Ở xứ mình, cấm suông chẳng bao giờ có hiệu quả. Người hướng dẫn tự hào nói: “Hội An chúng tôi không có các người ăn xin quấy nhiễu du khách”. Có lẽ đúng thế thật, không như ở Ngũ Hành Sơn, ở phà Gianh,… nhan nhản kẻ ăn mày.

Thành phố Hồ Chí Minh. Dinh Thống Nhất, bố trí tham quan hợp lí hơn và “nghiêm” hơn trước đây. Không có cái cảnh khách tham quan ngồi lên ghế, lên nệm nghỉ hoặc để chụp ảnh, như ở Dinh 2 – Đà Lạt chẳng hạn. Cô gái thuyết minh suôn sẻ hơn, nhưng cũng lạnh lùng hơn. Có điều lạ là nếu trước đây chỉ nói trống trơn “Thiệu”, “Hương” thì nay một điều “tổng thống Nguyễn Văn Thiệu”, hai điều “tổng thống Nguyễn Văn Thiệu”, luôn luôn “nơi đây tổng thống Nguyễn Văn Thiệu (họp, tiếp khách,..vv…)”. Làm như nơi đây chỉ dành riêng cho tổng thống Thiệu. Chốn này đã trải qua ba đời tổng thống của chính quyền Sài Gòn, dẫu Nguyễn Văn Thiệu ở lâu nhất. Sao không nói “tổng thống chính quyền cũ”, thậm chí “tổng thống Việt Nam cộng hoà” cũng được đi, mà cứ phải như là độc tôn Nguyễn Văn Thiệu? Cũng trong “ngôn từ và ngôn phong” có những câu thuyết minh như: “Vùng da cam là vùng cộng sản chiếm”. Tưởng chừng đang dự buổi họp báo của chế độ Sài Gòn xưa. Phải chăng là do xu hướng “sửa sai” quá đà từ “tả” sang “hữu”, hay một thứ “thời thượng”? Khi tôi đang viết những dòng này thì một đứa cháu vừa từ thành phố Hồ Chí Minh ra kể rằng sáng hôm 04/8/1996 cháu được nghe thuyết minh ở phòng trình quốc thư trong dinh Thống Nhất rằng “Phòng trình quốc thư nay đã chuyển ra Hà Nội”(!). Rõ ràng đây là chuyện nhận thức, không đơn thuần là kiến thức.

Sau ngày giải phóng miền Nam mấy năm, tôi đến thành phố này cảm thấy bỡ ngỡ và e ngại, chẳng phải vì vẻ hoa lệ mà vì “thành kiến” đối với đô thị tạm bị chiếm cũ. Buổi tối, không dám đi xa một mình; đi dạo chỉ quanh quẩn khu vực chợ Bến Thành. Ra công viên, dưới ánh đèn điện sáng như ban ngày mà thấy cô gái nào có vẻ quá tự nhiên là lánh đi sợ đụng phải gái làm tiền. Ngày ấy, thành phố chưa nhiều xe cộ lắm, nhất là ban đêm; cũng ít người đi trên hè phố. Tối đến trên các đường chính ra bến Bạch Đằng dòng xe đạp tuôn nườm nượp; người ta ra đấy hóng mát, có cả những người từ Chợ Lớn đến. Hỏi đường, gặp người dân được chỉ dẫn tận tình, rất dễ thương nếu là thanh niên hay trẻ em; nếu vớ phải một “ông” công an thì bạn sẽ được nhận những lời nghiêm nghị, lạnh lùng, có khi xách mé, cùng vẻ mặt tỏ ra “oai” và “uy” của anh ta. Muốn dạo phố tiện nhất là thuê xích lô; rẻ, phục vụ cẩn thẩn và hoà nhã. Đi xe buýt cũng tiện, ít phải chen lấn, nhưng có thể bị cướp giật, người của khách sạn dặn phòng xa thế. Sài Gòn, Chợ Lớn ngày ấy giá sinh hoạt không đắt đỏ. Nhưng sờ vào “tiệm” là có chuyện. Hôm ấy, tôi thử mò vào một tiệm cơm Tàu. Chọn từ thực đơn món rẻ nhất: cơm đĩa 90đ (cơm mậu dịch gần đó chỉ 10đ, ăn tốt). Khi ăn, gọi thêm tí chanh, tí hành, tí giấy lau; lúc trả tiền 115đ! Về “khoe” với bạn đồng hành: mới nếm sơ mùi Tầu Chợ Lớn mà tốn gấp mười một lần bữa ăn thông thường! Khách sạn Hướng Dương chúng tôi ngụ hình như là khách sạn “tiếp quản”; trừ lãnh đạo, những người phục vụ là “người cũ”. Chúng tôi đưa quần áo nhờ là, trả tiền thì giám đốc bảo thôi. Chị phụ trách nhân viên nói: “Chúng em có khuyên là nên thu tiền để khỏi ảnh hưởng đến thu nhập của khách sạn nhưng chị giám đốc không nghe”. Dễ dãi, khách thích đấy, nhưng là cách làm ăn tuỳ tiện của thời bao cấp, khó mà phất lên. Tuy nhiên, chưa tai hại bằng các kiểu xả láng và kiếm chác của mấy vị giám đốc thời mở cửa. Năm 1984, thành phố không thay đổi nhiều, có hơi “tã” đi. Lần này, thấy thành phố sôi động hẳn, đông chật, quay cuồng nhịp làm ăn, hối hả nhịp sống. Xe cộ nhiều, đặc biệt là xe máy. Đi trên đường cảm thấy rõ sự ô nhiễm không khí. Xe buýt không được ưa chuộng như ở những thành phố Âu Châu dù họ có cả xe điện ngầm, không kéo dược nhiều khách như trước kia, kể cả những xe “đời mới” có trang bị máy thu hình cho khách xem (vì vậy người ta thu gấp đôi giá tiền qui định một cách tự nhiên chăng?). Đi xe xích lô cũng không còn rẻ, tuy có sự cạnh tranh của xe “ôm”. Những người lái các phương tiện này giờ cũng đã pha tạp, ít chân chất, nhiều láu cá, nhất là những người nói giọng Bắc. Không đâu trên đất nước ta nhà riêng đúng là “khép kín” như ở thành phố này. Tôi tìm nhà một ông bạn, đến đúng trước cửa, hỏi một bà từ nhà sát bên cạnh đi ra, bà ta nói không biết là ai ở đó cả; gia dình ở cạnh nhau đã lâu đấy!

Vùng địa đạo Củ Chi, nhà khách, nhà bán đồ lưu niệm,… khang trang, đường sá láng nhựa, cây cối sum suê. Hơi tiếc cái khung cảnh và cái không khí Củ Chi những năm đầu sau giải phóng. Hồi đó du khách dễ cảm nhận hơn cái khốc liệt của chiến tranh, cái gian nan của những người bám trụ, do đó dễ thấm hơn cái giá của chiến thắng.

Cái đập vào mắt nhất trên đồng đất Củ Chi là ngôi đền nơi bến Dược. Gọi “đền” rất đúng tên vì đó là nơi thờ các liệt sĩ của thành phố Hồ Chí Minh và của các địa phương khác hi sinh trên đất thành phố. Một ngôi đền nguy nga và một cái tháp cao nhiều tầng. Chỉ riêng việc khắc tên 41.484 liệt sĩ trên đá lát tường quanh phòng đã khá công phu (dự kiến có thể đến năm mươi nghìn). Duy, nhìn ngoài hơi loè loẹt, không hợp mấy với một nơi tưởng niệm. Con số trên chắc là nhỏ so với con số tử vong trong chiến tranh ở thành phố này.

Cao Lãnh, Đồng Tháp. Mộ cụ phó bảng Sắc dưới cái vòm bê tông mang hình cánh hoa sen với chín đầu rồng (cửu long). Dấu tích cuộc đấu tranh của đồng bào Cao Lãnh “dưới trào Mĩ ngụy” để bảo tồn ngôi mộ nay chỉ lưu lại được trong mấy tấm ảnh. Một khuôn viên khá rộng, một công trình khá bề thế. Để tưởng niệm một thầy lang từng có ơn nghĩa với người dân trong vùng thì hơi qui mô quá, ngay cả giả sử là lăng mộ một danh nhân. Còn để tưởng niệm thân sinh cụ Hồ thì có nên làm một thứ “thái miếu”?

Đến tham quan một số nơi di tích lịch sử, tôi nảy ra ý nghĩ dở hơi: có phải sự trùng tu hoặc tôn tạo thiên về hiện đại hoá làm khô không khí hoài niệm cần thiết cho mỗi cuộc viếng thăm? Nhưng nếu dể tàn tạ như ngôi nhà cũ của “ông già bến Ngự” hay tiêu sơ như cụm nhà lưu niệm tác giả Truyện Kiều thì lại dễ gây nên nỗi ngậm ngùi.

Long Xuyên, cù lao Mĩ Hoà Hưng sầm uất màu xanh vườn, và thanh bình. Đến thăm quê hương cố chủ tịch nước Tôn Đức Thắng trước hết được hưởng cái thú đi thuyền máy trên dòng sông Hậu hào phóng không gian và gió lành. Cũng là loại nhà khá giả của nông thôn Việt Nam tồn lại từ thế kỉ trước, nhưng nhà cũ của gia đình cụ Tôn bề thế và khang trang hơn các nhà cổ trong khu lưu niệm Nguyễn Du, dẫu cụ Nguyễn và cha anh cụ đều là quan to. Có lẽ một bên phản ánh phần nào cái trù phú của châu thổ sông Cửu Long, một bên mang dấu ấn đất nghèo Nghệ Tĩnh.

Cần Thơ như là một thành phố mới đối với tôi so với hơn mười năm về trước. Một thành phố trực thuộc tỉnh song phố xá rộng rãi mặt bằng và phong quang hơn nội thành Hải Phòng, một thành phố trực thuộc trung ương. Viện bảo tàng quân khu Chín gây ngỡ ngàng về tầm một bảo tàng địa phương (ở nước ta). Một số thiếu sót không nên có: bản đồ và bản đồ nổi quân khu ở tầng dưới không có đảo Phú Quốc; chân dung Trương Định để tóc ốp gáy như thanh niên ngày nay… Giải khát ở đất Tây Đô giữa một miệt vườn bao la mà chẳng có một thứ nước quả tươi nào, chỉ toàn những Cola, 7Up, La Vie,…!

Châu Đốc, đền bà chúa Xứ núi Sam. Một tín ngưỡng lạ xen và hoà vào dòng tín ngưỡng pha tạp của một bộ phận cộng đồng Việt – Phật giáo. Người tham quan và hành lễ từ xa đến nườm nượp. Họ đến với bà Chúa mà hình như chẳng hề nghĩ thật ra mình lễ ai, vì tín ngưỡng gì. Một số không nhiều có ghé qua lăng Thoại Ngọc hầu gần đấy. Rất ít người tìm đến di tích cuộc chiến đấu kì lạ của du kích núi Sam. (Mà người ta có lẽ lo tôn tạo khu vực đền bà Chúa cho to đẹp hơn là bảo tồn di tích núi Sam kháng chiến. Đền bà chúa Xứ tôi được xem nhiều trên báo, trên truyền hình; mà chỉ mới đọc được một bài báo nói về di tích du-kích-chiến núi Sam!).

Hòn Đất, Kiên Giang. Tìm đến mộ chị Sứ (cái tên trong tiểu thuyết đã nổi tiếng hơn tên thật ngoài đời) thật gian nan, không chỉ vì đường quá xấu và lắm ngả, mà trước hết thiếu những tấm biển chỉ đường ở những nơi cần thiết. Nơi đây lẽ ra phải là nơi hút khách du lịch trong và ngoài nước. Hang Hòn với những vết dạn bom còn hằn trên đá; con suối cứu tinh và cạm bẫy; nơi hành hình người nữ du kích anh hùng; quần thể núi giữa đồng bằng; một vùng biển đẹp kề đó tạo cảnh cho một ngôi chùa cổ.

Đường đất Kiên Giang – Cần Thơ dằng dặc, hai bên đường, trừ các điểm thị tứ, chỉ thấy những nhà tranh thấp nhỏ như đã mọc lên từ hàng nghìn năm nay và rất nhiều trẻ con sàn sàn tuổi nhau đứng nhìn chiếc xe, một mẩu vẩy của văn minh, lướt qua. Bức tranh sống động của hai bạn đồng hành: nghèo đói và đông con.

Tham quan và hiểu biết

Đi tham quan, một phần quan trọng là để học hỏi. Song tham quan theo lối “cưỡi ngựa xem hoa” mà thiếu những hiểu biết nhất định, chẳng riêng tri thức, thì “tham quan” không ra ngoài hai chữ “đi chơi”. Có những người già ham tìm hiểu chăm chú nghe thuyết minh, trong khi những người khác, trước hết là lớp trẻ, điều quan tâm hàng đầu là chụp ảnh. Phong cảnh cũng chỉ ngó qua. Di tích lại càng ngó qua hơn, nếu đó là di tích kháng chiến, di tích cách mạng thì… Trong đoàn có một anh chừng chưa tới ba mươi tuổi, bà mẹ cùng đi với anh khoe là “ngoan nhất nhà”. Đến điểm tham quan nào anh ta cũng chen đi trước, xô lấn bất kì ai, nghiêng nghé nom dòm, chọn nơi chụp ảnh, xéo lên cây cỏ, lên hoa, vứt bừa đầu thuốc lá; chen vào trước lại tranh ra trước, bỏ lại đằng sau lời thuyết minh cho đám người lớn tuổi. Mấy người trẻ khác trong đoàn không “năng nổ” đến mức như vậy nhưng cũng cùng “xu hướng”.

Có những vị quá tự tin thích giải thích mỗi khi có dịp. Đại loại như một vị đáng kính giảng giải khi qua đèo Xông Pha: “Đèo này cao, khó đi, không giống nơi nào nên còn có tên là Ngoạn Mục, hay hơn”. Còn vị trưởng đoàn thì lúc sắp đến toà thánh Cao Đài ở Tây Ninh đã giới thiệu: “Đạo này thờ ba vị: Nguyễn Bỉnh Khiêm của ta cùng một ông Tây và một ông Tàu”!.

Một số người trở lại nơi mình đã từng qua muốn biết kĩ hơn hoặc nhìn nhận những đổi thay. “Đi một ngày đàng…” thường còn ghi dấu vào những buồn vui của một đời người.

Tham quan và lễ bái.

Dường như không tách rời. Có khi như là cái “mốt”. Nhiều ông, nhiều bà đứng lễ thành kính lắm; nhưng khi thắp hương chủ yếu lại là để chụp ảnh, nghĩa là trước hết xoay xở sao cho tấm ảnh “ra dáng” đã.

Lễ bái cũng có những chuyện kì khôi. Mấy bà trong đoàn – từng là cán bộ, có cả trí thức hạng trung – vốn hay đi lễ chùa vậy đều là phật tử, chính thức hoặc bán chính thức. Thế mà đến thánh thất Cao Đài, Tây Ninh, thấy ba tượng người đứng cuối phòng kính cẩn hướng về đại điện, các bà sụp xuống lạy, khiến mấy vị áo quần trắng – đệ tử Cao Đài – đứng trực gần đấy và mấy “Tây ba lô” tròn mắt. Ra ngoài, tôi hỏi:

– Xin lỗi, các bà có biết vừa lạy ai không?

– Không. Sao cơ?

– Vậy sao lại lạy?

– Thì người ta thờ mà.

– Đây là đền Cao Đài. Họ thờ Phật, Chúa, Tiên, Thánh… hỗn hợp các tín ngưỡng đông tây. Nhưng đạo Phật, đạo Thiên Chúa,… không coi là đồng đạo. Ba tượng đứng cuối phòng kia là tượng ba chức sắc đầu tiên, khởi xướng đạo Cao Đài.

Các bà có vẻ không vui mà không muốn nghe.

Đến đền bà chúa Xứ, núi Sam, mấy bà, cả mấy ông nữa, đứng khấn vái thành kính trước bàn thờ linga, nơi có mô hình cái dương vật cách điệu cực kì to. Họ chẳng biết thờ linga là thờ gì, cứ kêu cầu cái đã.

Ở Hội An, hội quán Phúc Kiến, các bà khi vào lễ chẳng hề nghĩ rằng đó chỉ là nơi thờ những người cầm đầu một đoàn thần tử nhà Minh di cư đến Việt Nam để trốn nhà Thanh. Hội quán là một thứ “nhà thờ tổ” hoặc “đình” của các bang người Hoa định cư.

Chuyện lễ bái ở xứ ta thật nhiêu khê, nhất là từ những năm “mở cửa”. Những người “ăn nên làm ra” nhờ mánh khoé, nhờ quyền hành,… cần chỗ dựa để vững tâm mà “dấn thân” lôi kéo cả rất nhiều người vốn chẳng có gì phải “hối lộ” thần thánh. Hễ chỗ nào đã có cắm hương, chẳng cần biết mô tê gì, chẳng biết thờ ai, người ta cứ xông đến thắp nhang khấn vái. Nơi đình chùa đã đành, bất kể gốc cây, hòn đá, tượng con vật. Rồi tệ đốt vàng mã. Tưởng như đang trở lại thời xa xưa, thời của đa thần giáo, của tín ngưỡng táp nham, khi nhân loại chưa thoát vòng mông muội. Tiếc thay! Tình trạng này đang được thả nổi. “Tôn trọng tự do tín ngưỡng” chăng? Người nước ngoài nhìn những cảnh này chắc “phục” dân trí nước ta lắm!

Môi trường và thắng cảnh, di tích văn hoá, di tích lịch sử.

Khỏi nói hiện nay các thắng cảnh, các di tích và môi trường các nơi này đang bị đe dọa bởi các dịch vụ dành cho du khách hoặc các lễ hội. Hãy để cho người ngoại quốc nhận xét. Ở Tháp Bà, Nha Trang, nơi khá ồn và khá bẩn, tôi gặp hai vợ chồng người Pháp “Tây ba lô”. Hỏi cảm tưởng, họ khen chung chung về lòng mến khách, về cảnh đẹp. Tôi đề nghị nói thẳng, người chồng nói: “Người Việt Nam các ông nghĩ chúng tôi là những người giàu đi du lịch để tiêu tiền. Thật ra, chúng tôi đi trước hết là để biết thêm một nền văn hoá, hiểu con người, xứ sở, và mong được tạo thuận lợi về mặt này… Ở xứ các ông, môi trường ít được quan tâm. Hạ Long tuyệt đẹp. Vậy mà chính người của tổ chức du lịch đưa chúng tôi đi lại thản nhiên đổ rác xuống biển. Mong các ông hãy tôn trọng của báu thiên nhiên tặng các ông như chúng tôi tôn trọng nó”. Thiết tưởng chẳng cần bình luận thêm.

Tham quan – du lịch, lắm nỗi

Đi tham quan, du lịch dài ngày, rong ruổi trên các nẻo đường đất nước thật là thú. Nhưng chuyến đi cập rập quá chăng? Đến Hà Tiên chỉ dừng ở cạnh chợ hơn tiếng đồng hồ rồi “rút quân”, chẳng hòn Phụ Tử, chẳng Thạch Động. Đến Phan Thiết chỉ để ngủ qua đêm, không biết đến khu bảo tồn trường Dục Thanh, đến mũi Né. Qua Quảng Bình phớt Luỹ Thầy, động Phong Nha. Qua Hà Tĩnh, lờ ngã ba Đồng Lộc dù chỉ phải rẽ mươi cây số, toan lờ cả khu lưu niệm Nguyễn Du. Chẳng phải do thời gian. Chuyến đi do một câu lạc bộ của những cựu chiến binh trung – cao cấp tổ chức. Trước khi đoàn đi, ông chủ tịch câu lạc bộ, một người đáng kính thật sự, đến chúc lên đường đã nhấn mạnh rằng câu lạc bộ chỉ “phục vụ” không “làm dịch vụ”. Hẳn ông ta không biết rằng chiếc xe mà đoàn thuê để đi là của vài ông trong câu lạc bộ “liên doanh” với các lái xe. Những người trong đoàn không hiểu được vì sao có lúc lái xe lái cả trưởng đoàn. Phí tổn cả chuyến đi trao trước trọn gói, riêng phí xe là một triệu đồng mỗi người. Một ông bạn đi nhiều, biết nhiều bảo: “Các ông đi và về giỏi lắm là sáu nghìn ki-lô-mét. Ông có biết thành phố Hồ Chí Minh đi Đà Lạt ba trăm ki-lô-mét hết bao nhiêu tiền xe khách không? Bốn chục ngàn đồng, mà đi xe Toyota mười hai chỗ ngồi hết ý nhé!” Khi biết chúng tôi đi chiếc Hải Âu, ông ta rũ ra cười: “Tôi biết loại xe ấy rồi. Chuyển từ xe tải sang chứ gì. Xóc kinh khủng, đệm ngồi rất cứng, chỗ dựa chỉ đến ngang lưng. Bây giờ ngay xe khách đường gần người ta cũng chẳng muốn xài. Đi du lịch, lại là đường dài, bằng xe ấy thì chịu các ông thật!” Rõ ra giọng của người chẳng phải bỏ tiền túi ra để “du”.

Tôi cười xoà. Chuyện tham quan – du lịch xứ ta còn lắm nỗi, lắm thứ nhân danh. Người thường đi được là quí rồi.

8 – 1996

(còn tiếp)

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s