MINH LUÂN – Người “muốn nói trước khi chết”

Thakgyam là một người Tây Tạng 77 tuổi. Ông ta đã kể lại nỗi kinh hoàng đã ập xuống cộng đồng của ông vào năm 1958 trước khi đức Đạt Lai Lạt Ma lưu vong sang Ấn Độ. Đây là chuyện kể về những điều dã man mà quân Cách mạng Giải phóng Trung Quốc đã thực hiện với những người kháng chiến Tây Tạng.
Tôi là một ông già là chứng nhân của câu chuyện thật về những cách đối xử tàn tệ và tra tấn bất tận mà những người thân vô tội phải chịu đựng. Chính tôi cũng đã gánh chịu nỗi bất hạnh đó và thực sự trải nghiệm những nỗi đau khó tưởng tượng đối với trí óc của con người. Vì thế tôi có cảm tưởng như mình là người sống sót của lịch sử những người Tây Tạng lưu vong, người dân Tây Tạng, nhất là những người trong vùng của tôi và tất cả những người trong khu Amdo (1 trong 3 khu của Tây Tạng, còn có U-Tsang và Kham).
[…]
Khi quân đội Trung Quốc tiến vào làng của tôi vào mùa hè 1958, lúc ấy tôi mới 23 tuổi. Tôi còn nhớ mọi người trong làng kể rằng một đêm nọ họ đã đến bằng cách vượt qua sông Machu (Hoàng Hà). Tất cả đàn ông trong làng được chia thành 3 tiểu đoàn để ngăn cản bước tiến của những kẻ xâm nhập. Vị chỉ huy nói : “Hôm nay chúng ta sẽ chiến đấu vì lợi ích của Tây Tạng, của xứ sở Tuyết”.
[…]
Tất cả chúng tôi lao vào chiến đấu. Nhưng chỉ trong vài phút, 98 người và ngựa trong làng đều bị giết.
[…]
Những người bị bắt làm tù binh bị giải đến Tso Sertri Nangchen (tư gia của đức Đạt Lai Lạt Ma bị tịch thu làm nhà tù). Binh lính TQ hỏi chúng tôi : “Bọn bây định giết lính TQ như thế nào ?” Vừa hỏi họ vừa tra tấn và sát hại các tù nhân như thể đó chỉ là những món đồ chơi, không phân biệt người có tội và vô tội (người không chiến đấu). Thật không thể nào chịu được khi nhìn thấy và càng khó hơn để nói. Chẳng hạn tù nhân bị trói tay chân rồi lính TQ ném họ xuống đất liên tục. Nhiều người bị dập gan, vỡ đầu… Rất nhiều người đã chết ngay lập tức hoặc bị tàn phế suốt đời.
Lúc ấy là mùa đông. Nhiều tù nhân Tây Tạng đã chết vì bị đánh đập nhưng còn nhiều hơn đã chết vì đói. Chúng tôi ở chung một phòng giam, buổi tối chúng tôi trò chuyện và đến sáng có nhiều người đã chết. Nhưng chúng tôi không thể chôn cất họ vì xác của họ đã bị dính dưới đất băng giá. Chỉ trong nhóm của tôi đã có 40 người chết.
Sau đó người ta đưa chúng tôi đến huyện Mating Xian. Chúng tôi cố trốn thoát trong khi đang lao động trên đường sắt nhưng bị quân đội bắt lại. Thế là mỗi người chúng tôi bị 3 binh sĩ đánh đập một cách mà tôi không thể tả được.
Có lần họ bắt tôi phải ôm quanh ống sắt lò sưởi rồi họ khơi to lửa và để mặc cho đến khi quần áo của tôi bốc cháy. Mồ hôi của tôi chảy đầy dưới đất, ngực tôi trở nên đỏ sậm. Một lần khác họ nhúng dây thừng vào nước rồi cột xiết tay tôi sau lưng, kéo lên cao cho đến khi tay tôi chạm vào đầu. Thời gian đó tôi không thể cử động 2 tay và phải ăn như chó. Tôi phải dùng răng kéo khi muốn mặc quần áo. Thế nhưng người ta vẫn bắt tôi phải lao động khổ sai. Những người như tôi bị xỉ vả, họ xem chúng tôi là kẻ thù giai cấp, những hòn đá nhọn trên đường đi, những kẻ xấu cần phải được tẩy uế triệt để.
Năm 1959 người ta trả tự do cho chúng tôi.
Nói chung trong “thế giới cũ” (trước khi quân đội TQ vào “giải phóng”), gia đình tôi không thuộc tầng lớp tư sản giàu sang. Tôi chưa hề phạm tội giết người hay gì khác. Nhưng điều đó cũng không ngăn họ bắt giữ tôi, đánh đập tôi không thương xót vì những tội mà tôi không hề phạm. Sau đó khi kể tội tôi ra, họ cho rằng tôi đã chiến đấu vào năm 1958 và bị bắt, sau đó trốn thoát, bị bắt lại và lại trốn thoát lần nữa. Và họ kết án rồi tống chúng tôi vào ngục.
Thật lâu sau đó tòa án mới xét xử vì tôi vượt ngục nhiều lần và bị bắt lại. Phán quyết được đưa ra : 18 năm tù. Tôi đã không phạm tội gì nhưng họ nói : “Mày không yêu mến Đảng Cộng sản”. Tức là họ xem như một tội ác khi tôi có ý kiến đối với đảng.
Nói tóm lại tôi và nhiều người khác cùng quê đã bị kết án không đúng. Người ta gán cho chúng tôi những tội mà chúng tôi không phạm, người ta tàn sát, tống giam, đánh đập chúng tôi một cách dã man. Những người cộng sản đã làm chúng tôi đau khổ và tra tấn không thương xót, họ đã khiến chúng tôi khiếp đảm.
Chẳng những tất cả đàn ông chúng tôi bên sông Machu biến mất mà số phụ nữ và trẻ em không chết tự nhiên cũng rất nhiều. Chẳng hạn do bị binh lính bắn đuổi đến sông Machu, rất nhiều người đã nhảy xuống sông. Nhiều phụ nữ tay bế 2 hay 3 đứa con cũng lao xuống. Có lần một phụ nữ giấu đứa bé bên bờ sông trước khi nhảy xuống nước. Vì chẳng có ai để chăm sóc đứa bé, vài ngày sau người ta đã tìm thấy xác của nó.
Họ cũng nói với mẹ tôi rằng bà có một gia đình không thích cộng sản nên bà thường xuyên bị vạch tội trước công chúng…
(Gia đình Thakgyam đã chuyển câu chuyện cho “Courrier Internattional” với mong muốn tên của ông được nêu lên : “Chúng tôi đang sống trong một giai đoạn khó khăn cho đất nước Tây Tạng. Chúng ta không còn trong thời kỳ phải giấu diếm mọi việc”. Lúc đầu câu chuyện được Thakgyam dâng cho đức Đạt Lai Lạt Ma).

(theo Courrier)
Minh Luân

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s