TS Phạm Trọng Chánh: Mối tình Hồ Xuân Hương và Trần Phúc Hiển quan Tham Hiệp trấn Yên Quảng

1.     Trần Phúc Hiển có lẽ rất đẹp trai, thông minh, sáng sủa, không phong trần râu hùm hàm én mày ngài như Từ Hải, nhưng đường đường chính chính như mặt trời mọc lúc hừng đông., nên Hồ Xuân Hương ghi lại trong Lưu Hương Ký với lời thơ trân trọng :
Bấy lâu ngưỡng mộ nay tao phùng,
Được tiếp dung nghi : nhật chính đông.
Nguyên tác:
Hàn danh cửu ngưỡng hỉ tương phùng,
Cận tiếp quang nghi : nhật chính đông.
(Ông Đào Thái Tôn và các bản dịch trong nước đều theo ông dịch xuôi: Bấy lâu ngưỡng mộ tiếng văn chương nay mừng được gặp mặt. Lại được tiếp cận với dung nghi vào buổi hừng đông.. Than ôi, dịch như thế là hiểu sai ý, giết chết mất thơ chữ Hán của Hồ Xuân Hương còn gì, gặp nhau buổi hừng đông, hay đêm tối ba mươi có gì để nói ? Ông dấu bản chính Lưu Hương Ký làm của riêng suốt bốn mươi năm, để sinh ra những con chuột nhắt, các nghiên cứu của ông phải bịt mũi mà đọc.)

Trần Phúc Hiển quen biết với Xuân Hương và đã đến thăm Cổ Nguyệt Đường từ năm 1813, khi còn là tri phủ Tam Đáị (sau được đổi tên ra phủ Vĩnh Tường đời Minh Mạng).. Theo tôi ông phủ Vĩnh Tường và Tham Hiệp Yên Quảng là một người, hỏi bài thơ Khóc ông phủ Vĩnh Tường tại sao không là Khóc Tham Hiệp Yên Quảng, ngày nay ta có trường hợp tương tự. Trên giấy khai tử ông Ngô Đình Diệm không ghi là Tổng Thống, hay Thượng Thư Bộ Lại mà ghi là Tuần Vũ Bình Thuận.
Hỏi tại sao mà ghi như thế, Trần Phúc Hiển chết vì bị tử hình, người đời gọi tên một chức vụ cũ để tránh tiếng.

Trần Phúc Hiển vốn dòng dõi thi thư, con Trần Phúc Nhàn, nguyên giữ chức tham mưu trong quân đội chúa Nguyễn Ánh, có lẽ tử trận trước khi chúa Nguyễn khôi phục Phú Xuân. Tháng 7 năm Quí Hợi. 1803. Vua Gia Long để đền công cho con là Phúc Hiển được bổ chức Hàn Lâm thị thư (Theo Đại Nam thực lục Chính Biên, q 22/1b), sau đó được thăng Tri phủ Tam Đái, tháng 12 năm 1813. Gia Long năm thứ 12 được thăng chức Tham Hiệp Trấn Yên Quảng tức Quảng Yên vùng Vịnh Hạ Long ngày nay. Tại một trấn nhỏ như Quảng Yên không có chức Hiệp Trấn mà đứng đầu là chức Tham Hiệp. Quảng Yên đời Vua Gia Long chia làm ba huyện Yên Hưng, Hoành Bồ , Hoa Phong và ba châu phía Bắc là Vân Đồn, Tiên Yên, Vạn Ninh nay là Hà Cối và Mong Cái dân sắc tộc Nùng đa số sống về nghề chài cá.

Sau  Mười năm lận đận tự dối mình như ăn trộm bịt tai đi trộm chuông (thập tải phong trần quán nhỉ linh) 1801-1811. Vì chiến cuộc Hồ Xuân Hương phải lấy lẽ Tổng Cóc Nguyễn Công Hòa ở Vĩnh Yên, vợ cả ghen tuông, chịu đấm ăn xôi, nhưng Tổng Cóc, hùng hổ như chó ngao nhưng làm tình như chuột vọc, ‘tiếc dĩa hồng ngâm cho chuột vọc, thừa mâm bánh ngọt để ngao vầy’, nàng phải dệt vải, tát nước như kẻ làm mướn, nàng đau ốm như nàng Tiểu Thanh, nhận được thơ Nguyễn Du, bài Độc Tiểu Thanh Ký, nàng dứt khoát dứt tình với Tổng Cóc, như nòng nọc đứt đuôi, dù chàng Tổng Cóc có cho ngàn vàng cũng không trở về như cóc bị bôi vôi không bao giờ trở lại chốn cũ.. Về Cổ Nguyệt Đường viết bài Chơi Tây Hồ nhớ bạn gửi Nguyễn Du thì chàng đã đi xa. Xuân Hương mượn 5 quan tiền của Phạm Đình Hổ mở quán sách ở Phố Nam thành Thăng Long cạnh trường ông nghè Phạm Quý Thích, gần đền Lý Quốc Sư ngày nay, nàng bán sách, giấy bút cho học trò, bán cả tranh tố nữ, bán quạt. Nhưng tiệm sách ế ẩm vì bọn thư sinh trường ông Nghè Phạm,  cứ đến ngắm bà chị xinh đẹp mê mẫn tâm hồn bằng xương bằng thịt, chẳng thèm đến em tranh tố nữ, dù chị cũng xinh mà em cũng xinh, chẳng thèm mua sách Bích Câu Kỳ Ngộ để mơ có một Giáng Kiều hiện ra, thì sách Nữ Tú, Phương Hoa, Tuyển Phu, Chinh Phụ cũng đành ế ẩm, nàng quảng cáo bán quạt các em cũng chẳng thèm mua.Các em mê mẫn bà chị, bị bà chị mắng cho một câu: dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa, thì còn mặt mũi nào dám đến tiệm sách bà chị. Nàng chỉ bán cho các quan: quan thị, quan hậu bổ..,quan thị, mất cái giống, thất nghiệp vì  triều đại đã tàn, quan hậu bổ, chưa nhậm chức còn ăn lương vợ, thì buôn bán được gì ? Tốn Phong đã từng đến thăm hiệu sách này năm 1807: Biết nhau Nam phố mười năm trước, hoa đào thuở ấy cách nguồn Tiên, thuở ấy nàng không ở Cổ Nguyệt Đường. Túng thiếu, « mẹ già, nhà túng, ăn ở không yên ổn » nàng phải quay ra buôn hàng chợ, gia nhập tầng lớp phụ nữ thương gia thời bấy giờ, đang phát triển, mang sách, vở  Hàng Gai, tơ lụa Nghi Tàm, lĩnh đen làng Bưởi bán chợ phiên, bán các hội làng, bán cho các phú hộ, các quan trấn lỵ. Nàng đi rất nhiều nơi: Từ Nam Định, đến Tuyên Quang, Hưng Yên, Thanh Hóa nàng qua các địa danh đèo Ba Dội, Đá ông chồng bà chồng, Kẽm Trống, quán Khách, trên đường đi để đùa bởn cùng chị em  thương gia nàng đã để lại những bài thơ đùa bởn tuyệt tác, vang xa như tiếng chuông của kẻ ăn trộm bịt tai đi trộm chuông..Nhưng cuộc đi buôn của nàng phải chấm dứt khoảng năm 1811, vì tình hình vùng Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ bị bất an vì có cuộc khởi nghĩa của Đặng Trần Siêu, Võ Đình Lục (1810-1822), họ thường ra chận đường các thương nhân phụ nữ đòi tiền mãi lộ, có khi tịch thu cả vốn liếng, lẫn cả người..

Năm 1811, bất ngờ, người bạn thân làng Nghi Tàm,  Tử Minh còn gọi là Cả Tân, có vợ và em gái là bạn thân của Xuân Hương. Tử Minh mất năm 40 tuổi để lại hai đứa con thơ và một lớp học đông đảo học trò, nàng viết ba bài thơ Khóc Tử Minh (văn bản Landes), làng xóm lại mời nàng tiếp tục dạy dăm ba chữ thánh hiền cho con em. Lớp học Cổ Nguyệt Đường lại khai giảng đông đảo, nàng bỏ nghề đi buôn. Đầu năm cha mẹ đến lễ tết cô giáo, phần ruộng học điền làng Nghi Tàm chu cấp hoa lợi cho nàng. Các quan, các danh sĩ, bỗng nhiên đến thăm nàng nườm nượp, từ quan tri phủ Thường Tín Nguyễn Du đến tìm nàng nối lại duyên xưa nhưng  không gặp, đến quan Hiệp trấn Sơn Nam Thượng đến làm thơ khen nàng:’ Tài cao nhả phượng thế gian kinh’, quan Hiệp trấn Sơn Nam Hạ Trần Quang Tĩnh, cầu duyên, quan Tri phủ Tam Đái Trần Phúc Hiển hứa cưới nàng, còn biết bao nhiêu ong bướm như Tốn Phong, Chiêu Hổ, Nguyễn Án, Nguyễn Thạch Hiên, Hoàng Hy Đỗ, Phạm Quý Thích.. nàng chiêu tập cả một tao đàn Cổ Nguyệt Đường 28 vị đến xướng họa, Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng Trần Ngọc Quán làm thi tướng. Có kẻ chê nàng là ‘thèo đảnh’, đàn bà mà dám mở ‘phòng khách Văn Chương.’ tiếp đàn ông làm thơ phú.

Hai bài thơ Cảm cựu tống tân xuân chi tác. Cảm nhớ chuyện cũ đưa xuân mới, ghi lại tâm sự của Hồ Xuân Hương năm 1813-1814:

Bài I:
Xuân này nào phải cái xuân xưa,
Có sớm ừ thì lại có trưa.
Cửa động hoa còn thưa thớt bóng,
Đường thoa oanh khéo dập dìu tơ.
Phong lưu trước mắt bình hương nguội,
Quang cảnh trong đời chiếc gối mơ,
Cân vàng nửa khắc xuân lơ lửng,
Phố liễu trăm đường khách ngẩn ngơ.

Bài II.
Mới biết vị đời chua lẫn ngọt,
Mà xem phép tạo nắng thì mưa.
Tri ấm đắp nửa chăn còn ngắn,
Bức vách nghe thầm tiếng đã thưa.
Nếm mía vụ này ngon những ngọn,
Trông gương ngày nọ bẳng như tờ,
Xưa nay còn có đâu hơn nữa,
Hay những từ đây phải thế chưa.

Thơ Hồ XuânHương trong Lưu Hương Ký

Chú Thích:
Đề bài thơ này có điểm lạ là người ta thường nói ‘Tống cựu nghinh tân’, tiễn năm cũ, mừng xuân mới, ở đây Xuân Hương nói : nhớ chuyện cũ, tiễn xuân mới, để nói nỗi cay đắng của nàng trước chuyện đã qua trong mười năm lận đận, xưa người ta đồn đãi nói xấu nàng, nay kính phục nàng.
Nếm mía: Ca dao có câu: mía tháng ba ngọt ra đầu ngọn, mía chính vụ vào dịp trước Tết.
Gối mơ: hay gối du tiên. Đời Đường nước Quy Tư có triều cống một cái gối đỏ như mã não, mà trong như ngọc, nằm gối đầu thì mơ thấy đủ tám châu, chín đảo, bốn bể, năm hồ. Vua cho là quý lắm mới đặt là Du Tiên Chẩm..

Hết cơn bỉ cực, đến hồi thái lai, mùa xuân năm nay không còn như những mùa xuân năm xưa, mười năm lận đận, nhìn lại những ngày khổ cực, nàng chua chát cho mối tình đến muộn màng, lúc này Xuân Hương đã trải qua nhiều kinh nghiệm nhân sinh, nhất là về tình ái, trước mắt nàng là bình hương nguội, tựa như lòng tưởng như không còn yêu ai được nữa, đã lạnh với phong lưu. Gặp một người đúng như mình mơ ước thật là khó. Ở tuổi tưởng đã muộn màng, bổng dưng treo giá ngàn vàng, nhiều mối duyên quá khiến cho nàng ngơ ngẩn.

Cuộc đời suy nghiệm nàng thấy, có những vị chua lẫn vị ngọt, như trời đất có nắng thì mưa. Dù chưa phải là tri âm hoàn toàn như mình mong muốn, những lời chê bai  nàng thì thầm nay tiếng đã thưa dần. Nàng đã tìm được người tâm đầu ý hợp: quan tri phủ Tam Đái, như vụ mía ngon ngọt tới đầu ngọn, so với ngày xưa đời vắng lặng soi gương lạnh ngắt một mình. Còn có mối tình nào hơn thế nữa, nàng tự hỏi từ nay đã phải như thế chưa ?

Một bài thơ không tựa trong Lưu Hương Ký ghi lại tâm sự nỗi lòng xao xuyến thắc mắc lần gặp gỡ dầu tiên, càng ở sông Bắc, nàng ở lầu Nam, sông Bắc là hướng phủ Tam Đái, lầu Nam thành Thăng Long, cho phép tôi xác định nàng làm bài thơ này sau khi gặp Tri phủ Tam Đái Trần Phúc Hiển lần đầu tiên, tôi lấy chữ trong bài thơ làm tựa:

Sầu Riêng

Thắc mắc sầu riêng khó gỡ ra,
Đèn tàn khêu mãi thấy thêm hoa.
Muốn về nhưng có về sau đến,
Biếng nói song le nói được mà.
Sông Bắc trông chừng chênh bóng thỏ,
Lầu Nam nghe tiếng trống canh gà,
Trăm năm gặp gỡ là bao nả,
Thắc mắc sầu riêng khó gỡ ra.

Thơ Hồ Xuân Hương trong Lưu Hương Ký

Lần gặp gỡ đầu tiên, nàng canh cánh bên lòng, như vướng phải tơ tình, khó gỡ mối tơ ra. Thức bên đèn, khêu thêm ngọn bấc cho đèn cháy sáng lòng rộn rã, giấc mơ hoa tình yêu. Gặp chàng lòng muốn về, nhưng cứ lưu luyến không về được. Gặp nhau, nhìn nhau trong mắt hiểu lòng nhau nhưng nói chẳng nên lời. Phía sông Bắc, phủ Tam Đái nơi chàng trấn nhậm vầng trăng chênh chếch bóng. Lầu Nam thành Thăng Long tiếng trống canh  gà gáy sáng. Trăm năm có biết duyên gì với nhau, mà lòng rối như tơ vương khó gỡ ra..

5. Sau ba năm trấn nhậm phủ Tam Đái, tháng chạp năm Quý Dậu. Trần Phúc Hiển được thăng chức Tham Hiệp trấn Yên Quảng. Phép trị gia ngày trước, vợ cả không theo chồng tại chức, mà ở lại quê chăm sóc gia trang, sai khiến tôi tớ.. Đầu năm Giáp Tuất (1814) Phúc Hiển rời phủ Tam Đái, Việt Trì ngày nay dòng thuyền qua Thăng Long để ra Yên Quảng nhậm chức mới. Khi qua Thăng Long chàng rủ bạn tình Xuân Hương cùng đi, khi gần đến trấn lỵ bên sông Bạch Đằng, sợ dư luận dị nghị, chàng để lại bạn tình ở lại Yên Quảng trở về, và hứa hẹn sau khi ổn định, sẽ rước nàng về Vịnh Hạ Long. Lúc này Hồ Xuân Hương còn phải cư tang mẹ một năm. Ba bài thơ lưu dấu các địa danh : Lục giang, Bạch Đằng Giang, Yên Quảng, Yên Hưng cho ta xác định Hồ Xuân Hương làm trong chuyến du hành này.
Bài thơ chữ Hán, chép trong mục Xuân Hương họa thơ, không đề tựa, tôi theo ý trong bài đặt tựa:

Tương phùng quan Tham Hiệp
Yên Quảng Trần Phúc Hiển

Bấy lâu ngưỡng mộ nay tương phùng,
Được tiếp dung nghi: nhật chính đông.
Nhã ý biết nhau lòng đạm bạc,
Chén tình vừa nhấp đã say nồng,
Châu ta thanh khí cùng tương đắc
Chung đúc tài tình một chữ đồng.
Tay nắm nói đi, chàng chớ ngại,
Lục giang một biệt cách ngàn trùng.

Nguyên tác

Hàn danh cửu ngưỡng hỉ tương phùng,
Cận tiếp quang nghi: nhật chính đông.
Hậu ý vĩ giao tri thủy đạm,
Tình hoài sơ ẩm giác đôn nồng.
Ngô châu thanh khí hoàn tương thượng,
Ngã bối tài tình chính sở chung.
Ác thủ dàm tâm quân mặc quái,
Lục giang nhất khứ thủy thiên trùng.

Thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương,  trong Lưu Hương Ký
Nhất Uyên dịch thơ.

Chú thích:
Hàn danh, tiếng danh họ Hàn Kinh Châu. Lý Bạch có câu: Tôi từng nghe được phong tước Hầu muôn hộ, không bằng một lần gặp được ông Kinh Châu họ Hàn. Về sau Hàn danh, chỉ lòng ngưỡng mộ vô bờ.

Bấy lâu ngưỡng mộ tiếng văn chương, nay mừng được gặp mặt, tiếp cận với dung nghi bậc quân tử đường đường chính chính như mặt trời mọc hướng đông buổi sáng. Vốn sẵn nhã ý biết nhau tính tình thanh đạm, chén tình vừa nhấp đã say nồng nàn. Thanh khí của châu ta còn được ưa chuộng, tài tình chúng ta chung đúc nơi đây. Câu này cho biết Phúc Hiển cũng gốc vùng Châu Hoan (Nghệ Tĩnh). Cầm tay thố lộ nỗi lòng chàng ơi chớ ngại. Vì sau khi chàng tới Lục Đầu Giang, gần nơi trấn nhậm, em phải trở về, đôi ta lại xa nhau non nước nghìn trùng.

Trần Phúc Hiển đã đáp lại thơ Hồ Xuân Hương. Bài này chép lẫn lộn trong Thơ xướng họa Trần Hầu, theo tôi đó là thơ Trần Phúc Hiển, bài thơ họa nguyên vận thơ Hồ Xuân Hương, và có chữ thiên biên nguyệt: trăng trời biển, tây nham: non Tây chỉ vùng vịnh Hạ Long. Cụ Bùi Hạnh Cẩn dịch bài này thật xuất sắc, sát từng câu từng chữ không ai thể hơn được.

Tham Hiệp Yên Quảng Trần Phúc Hiển
họa thơ Xuân Hương

Người đẹp nhà hoa lại gặp cùng,
Non mai bóng lạnh buổi đầu đông.
Chưa từng gặp mặt lòng đà mến,
Há phải trao thơ ý mới nồng.
Chưa khỏi tiệc xuân đôi mắt lệ,
Ai khua đài Phật tiếng chuông rung.
Ân cần lưu lại trăng trời biển,
Một biệt non Tây lại vạn trùng.

Nguyên tác:

Hoa viện hoa nhân thử độ phùng,
Lĩnh mai hàn ảnh nhập sơ đông.
Vi tằng đố diện tâm tiên mộ,
Khởi dẫn liên thi ý thủy nồng.
Xuân tịch  vi ly song nhãn lệ,
Phật đài thùy hoán sổ thanh chung,
Ân cần lưu thủ thiên biên nguyệt,
Nhất biệt tây nham hựu vạn trùng.

Thơ chữ Hán Trần Phúc Hiển trong Lưu Hương Ký
Bùi Hạnh Cẩn dịch

Bài thơ chữ nôm Lưu biệt  thời tại Yên Quảng, Hưng ngụ thứ, Hồ Xuân Hương ghi lại phút giây chia tay với Trần Phúc Hiển

Lưu biệt Trần Phúc Hiển tại Yên Quảng

Người về người ở khéo buồn sao
Tức tối mình thay biết lẽ nào.
Tơ tóc lời kia còn chửa hết,
Đá vàng lòng nọ xiếc là bao.
Nỗi con riêng giận ngày trời ngắn,
Mỏi mắt chờ xem bóng nguyệt cao.
Sớm biết lẽ trời: ly có hợp,
Thì mười năm trước bận chi nao.

Thơ Hồ Xuân Hương, trong Lưu Hương Ký

Chàng đã đi rồi, mình ta ở lại buồn vời vợi, giận mình nhưng biết phải làm sao. Lời hẹn thề se tơ, kết  tóc chưa nói hết. Duyên đá vàng lòng chàng có chung thủy như lời chăng ? Giận ngày trôi quá nhanh phút giây bên chàng. Đêm mỏi mắt trông bóng trăng lên cao. Nếu biết lẽ trời, có biệt ly rồi có hợp, thì mười năm trước không thôi thúc với tình duyên mà dấn thân vào cuộc đời lận đận.

Bài thơ Bạch Đằng Giang tặng biệt ghi  nỗi lòng Hồ Xuân Hương lo lắng trước mối tình Trần Phúc Hiển.

Bạch Đằng Giang tặng biệt

Khấp khểnh đường mây bước lại dừng,
Là duyên là nợ phải hay chăng ?
Vin hoa khéo kẻo lay cành gấm,
Vục nước xem mà đọng bóng trăng.
Lòng nọ chớ rằng mây lạt lạt,
Lời kia nay đã núi giăng giăng.
Với nhau tình nghĩa sau cho trọn,
Chớ thói lưng vơi cỡ nước Đằng.

Thơ chữ nôm Hồ Xuân Hương trong Lưu Hương Ký

Hồ Xuân Hương trở về, bước đi một bước lại dừng lại, nàng phân vân không biết là duyên nợ hay chăng, nàng sợ chàng vin hoa lay cành, vục nước rung trăng, chàng chỉ theo tình dục. Lời chàng phải chăng là lời hứa hẹn dong dài vu vơ: mây lạt lạt, núi giăng giăng. Nàng mơ ước chàng ở với nhau tình nghĩa sau cho trọn, chớ thói lưng vơi như nước sông Bạch Đằng khi lên cao khi xuống thấp, như nước Đằng thời Xuân Thu Chiến Quốc bị kẹt giữa hai nước lớn Tề và Sở, không biết thân Tề hay thân Sở, nay nói thế này, mai nói thế khác. Tình cảnh chàng bên vợ cả, bên người tình, chàng nói với mình thế này nhưng biết đâu trước vợ cả chàng lại đổi khác.

Niềm lo lắng của Xuân Hương không còn nữa, sau khi nàng mãn tang mẹ, Trần Phúc Hiển đã giữ lời hứa. Đầu năm 1816 Quan Tham Hiệp  rước nàng về trấn lỵ Yên Quảng bên bờ sông Bạch Đằng.Là bà lớn trấn Hải Đông, được chồng kính mến, nàng ngồi sảnh đường giúp chồng giải quyết các việc quan, nàng thường bên chồng cố vấn các vụ kiện.
Nàng du ngoạn khắp Vịnh Hạ Long làm 8 bài thơ (nay còn lại 5), chín bài thơ Vịnh Cảnh Đồ Sơn và khoảng 40 bài khác góp lại thành Hương Đình Cổ Nguyệt Thi Tập. Một tập thơ gồm những bài vịnh cảnh đứng đắn, đầy chất thơ và thi hứng phong phú.  Có lẽ tập thơ này được truyền đến kinh đô Phú Xuân, nên các nhà thơ đương thời như Trương Đăng Quế, Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương, các nhà thơ Trung Quốc có mặt tại Phú Xuân như Trương Bỉnh Thuyên, Hoàng Diệu Khuê kính phục, đã đem thơ Mai Am Công Chúa nữ sĩ tức Lại Đức Công Chúa tên Trinh Thận tự Thúc Khanh, con gái thứ mười Vua Minh Mạng sánh với Phạm Lam Anh và Hồ Xuân Hương. Dĩ nhiên không thể sánh một công chúa triều đình với một nhà thơ dâm tục, thơ quỷ, thơ đuà bởn được. Do đó ở kinh đô Phú Xuân thế kỷ 19, giới thi nhân chỉ biết đến Hồ Xuân Hương là một nhà thơ đứng đắn:
Bài tựa của Quảng Khê Trương Đăng Quế, quan Đại thần suốt ba triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, năm 1863  đã viết trong bài tựa cho Diệu Liên thi tập của nữ sĩ Mai Am, ông Trần Thanh Mại trong NCVH số 3-1963 dịch như sau:
« Xem nuớc Nam ta mở mang bờ cõi đã hàng trăm, hàng nghìn năm, trong khoảng thời gian ấy, đứng về thơ của phụ nữ mà nói thì trườc kia chỉ có Phạm Lam Anh và gần đây có Hồ Xuân Hương hai người mà thôi, không hề nghe nói đến ai nữa…
.. Tôi bèn đem tập thơ của Mai Am ra bình duyệt, xem cách dùng ý dùng lời đều thấy như tự trời đặt sẵn, tứ thơ tràn trề như suối nước chảy, rõ ràng là hơn cả Lam Anh và Xuân Hương. Tôi liền cầm bút mà viết bài tựa này. »
Trong Diệu Liên thi tập cũng có bài thơ ca tụng của một người Trung Quốc là ông Giải Nguyên Cầm Thương Thị Hoàng Diệu Khuê, người Tân Môn đề, tôi dịch:
« Câu đẹp lời thanh thơ mỗi mới,
Gió mây trăng móc thấu tinh thần,
Tài tình vượt cả thơ Hồ, Phạm,
Ban, Tả ngày nay có thế nhân. »

Tài thơ Lại Đức công chúa vượt cả Hồ Xuân Hương và Phạm Lam Anh, mà ngay cả nàng Ban Chiêu đời Đông Hán, nàng Tả Phận đời Tấn, đến nay đã có người thay thế rồi. Thơ Phạm Lam Anh tập Chiến Cổ Đường đã bị thất lạc chỉ còn lưu lại hai bài thơ viết về Kinh Kha và Khuất Nguyên, ta không bàn đến thơ Mai Am công chúa, nhưng lời tựa trên chứng tỏ sự trân trọng Hồ Xuân Hương đối với các nhà thơ đương thời. Và tinh thần tôn trọng ấy hoàn toàn khác biệt với một Hồ Xuân Hương từ năm 1913 sau khi ông lái buôn Nguyễn Ngọc Xuân lập nhà xuất bản Xuân Lan in thơ Hồ Xuân Hương, và năm 1917 Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, trong Giai Nhân Dị Mặc, sữa chữa cho trơn tru các bài thơ kém cõi, bịa ra một cuộc đời Hồ Xuân Hương xấu xí, như ông đã bịa ra cái tựa của Trần Nhật Duật cho một quyển tiểu thuyết Trung Quốc Lĩnh Nam Dật Sử để biến thành tiểu thuyết đời Trần gây nên sự lầm lẫn cả một thế kỷ.

Tập Hương Đình Cổ Nguyệt ở Huế chưa tìm được, tập nguyên tác của Hồ Xuân Hương bị thất lạc sau án tử hình của chồng, gia sản bị tịch biên.. Tài liệu tìm được ở tủ sách gia đình ông Trần Xuân Hảo, tại Quần Phương, Hải Hậu Nam Hà và Thư Viện Quốc Gia còn lại 10  bài thơ chữ Hán:
Tôi thử tái lập toàn bộ, tập Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập, gồm các bài thơ không có trong Lưu Hương Ký.

Phần thơ chữ Hán
1    Quá Khinh Dao từ hoài cổ;
2          Bán chẩm thư hoài
3          Đề Trấn Quốc Tự
4    Giang Nam phụ níp kiêm lưu biệt hữu nhân
5          Vịnh Thạch Phu phụ
6.         Tái ngoại văn châm
7.     Thu vũ
8          Cố Kinh thu nhật
9    Thu nhật tức sự
10        Ngư Ông khúc hành
Đồ Sơn Bát Vịnh, (chép trong Phượng sơn từ chí lược và thư viện Cao Xuân Dục)
11.       Đông Sơn thừa lương
12.       Long tỉnh quá trạc
13        Phật động tầm u
14        Đăng Đông Sơn tự kiến ký bài I
15        Đăng Đông Sơn tự bài 2
16        Tháp Sơn hoài cổ
17        Thạch phố quan ngư
18    Cốc tự tham thiền
19        Bộ Khánh Minh tự cảm hứng

Thơ Vịnh Hạ Long 8 bài nay còn 5 bài. GS Hoàng Xuân Hãn tìm được thong Thư Viện QG Paris
20        Độ Hoa Phong
21        Trạo ca thanh
22        Nhãn phóng thanh
23        Thủy Vân Hương
24        Hải Ốc trù

Phần thơ chữ Nôm trong văn bản Landes
25        Hoa cúc bài 1
26        Hoa  cúc bài 2
27       Vịnh Tiết Thanh Minh bài 1
28       Vịnh Tiết Thanh Minh 2
29        Khóc Tử Minh bài 1
30        Khóc Tử Minh bài 2
3I        Khóc Tử Minh bài 3
32        Chơi Tây Hồ nhớ bạn
33        Vịnh bãi Bình Than
34        Đề núi Lã Vọng bài 1
35    Đề núi Lã Vọng bài 2
36    Vịnh tích Hằng Nga
37    Đề truyện Thị Kính bài 1
38        Đề truyện Thị Kính bài 2
39        Vịnh Hán Cao Tổ
Các bài thơ làm lúc cuối đời
40     Thả thuyền chơi trăng
41    Vịnh chiếc Bách
42    Tự tình 1
43    Tự tình 2
44    Trăng thu
45.    Khóc ông phủ Vĩnh Tường
Chúng ta đã lục hết kho sách tại tư gia Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương, Mai Am, Trương Đăng Quế, và kho sách Triều đình Huế chưa. Biết đâu còn sót một văn bản Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập ?

Bài Vịnh Thạch Phu Phụ trong Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập. Hồ Xuân Hương tả cảnh gia đình yên ấm nơi góc biển, ngày tháng nhàn du di thăm đây đó, đề thơ khắp non núi biển vùng Hạ Long, Đồ Sơn, Sầm Sơn. Bài Vịnh Thạch Phu Phụ có lẽ Hồ Xuân Hương tả Hòn Trống Mái ở Sầm Sơn, nàng cười cho đá Vọng Phu phải chờ chồng, nàng nghĩ rằng trời đất gắn bó tình nghĩa lâu dài, phu xướng phụ tùy như lời thề non hẹn biển, nàng muốn hỏi các hòn đá nhỏ như con cháu vợ chồng đá: lời khách dưới thuyền hỏi đá đầu non đã chứng kiến hạnh phúc lứa đôi.

Vịnh Vợ Chồng đá

Gia thất yên lành nơi góc biển,
Thong dong ngày tháng mãi nhàn du.
Đông Tây ngóng núi cùng bên vợ,
Nam Bắc trông non cười Vọng Phu.
Gắn bó nghĩa dài trời đất định,
Xướng tùy lời động biển non chờ,
Qua đây muốn hỏi đàn con cháu,
Đá ở đầu non khách dưới đò.

Thơ Hồ Xuân Hương, Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập
Nhất Uyên dịch thơ.
Nguyên tác phiên âm Hán Việt

Vịnh Thạch Phu Phụ

Gia thất hòa bình lập hải ngu,
Thung dung tuế nguyệt nhất nhàn du,
Đông hồi Tây lĩnh lân đề phụ,
Bắc hướng Nam sơn tiếu Vọng Phu.
Đề đính nghĩa trường thiên địa tịnh,
Xướng tùy thanh động hải sơn thu,
Vãng lai hoặc vấn cừ tôn tử,
Thạch tại sơn đầu, nhân tại chu.

Bài Ngư Ông Khúc Hành, Hồ Xuân Hương không chỉ hạnh phúc, mà còn sống trong cảnh thần tiên, như người thuyền chài Vũ Lăng. Ông già đánh cá nhà quê sống đạm bạc xa lánh chốn cố đô phồn hoa, tự nhận mình cùng họ Ngư với ông chài đánh cá Vũ Lăng trong Đào Nguyên Ký (Câu Thác nhận đào yên thị hệ la :Ông Bùi Hạnh Cần dịch lầm:Lầm tưởng đào non là dây hờ, ông Đào Thái Tôn cóp-pi biến ra dây bìm bìm, dây rau muống thành câu thơ vô nghĩa, các thi tập Hồ Xuân Hương trong nước thi đua nhau chép thơ dịch ông Đào Thái Tôn chẳng chút suy nghĩ). Ông thuyền chài nói vọng sang thuyền nan người câu cá, có qua sông đừng lắng nghe tiếng đàn tỳ bà.
Qua sông đừng lắng nghe tiếng đàn tỳ bà, tiếng đàn của tiên nữ thanh tao không giống như tiếng sáo người Hồ thê lương. Đến nguồn đào trời nước mênh mang, một mái chèo ngư ông sẽ mở ra cảnh nhà tiên. Cả mùa xuân hoa lá xanh tươi trùng trùng điệp điệp cảnh thiên thai. Tiếng đàn tiên thanh tao, tiếng ốc người ngư phủ chẳng hợp nhau, nên phải chia ly. Chốn non lạnh, mái cỏ tranh buông buông, người ngư phủ trở về sông Tô Lịch nơi đó thong dong với gió mát nhàn hạ.

Khúc hát ngư ông

Già quê đạm bạc lánh phồn hoa,
Người đến mây đào cùng họ ta.
Nhắn với thuyền nan người câu cá,
Qua sông đừng lắng tiếng tỳ bà.

Qua sông đừng nghe tỳ bà,
Tiếng cao không giống sáo Hồ thê lương.
Nguồn Đào trời nước mênh mang,
Ngư ông một mái nhà tiên mở mời,
Muôn trùng xuân tỏa thiên thai,
Tiếng đàn vui, tiếng ốc dài buồn tênh.
Non hàn mái cỏ tranh buông,
Sông Tô đến đấy thong dong gió nhàn.

Thơ Hồ Xuân Hương, Nhất Uyên dịch thơ

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

Ngư ông khúc hành

Dã ông đạm bạc diệc phồn hoa,
Thác nhận đào yên thị hệ la.
Ký ngữ khinh châu tòng điếu tử,
Quá giang ưng bất thích tỳ bà.

Quá giang mạc thính tỳ bà,
Cao thanh bất tự hồ già thê lương,
Đào nguyên thủy khoát thiên trường,
Ngư ông nhất trạo tiên đường bán khai.
Vạn trùng xuân tỏa thiên thai,
Cầm thanh lạc, giốc thanh ai bất đồng.
Hàn sơn thảo sắc thông thông,
Tô giang ký đáo thanh phong tự nhàn.

Bài thơ này có điểm thú vị là sau bốn câu thất ngôn, thơ chữ Hán cũng bằng lục bát, thể thơ chỉ có  ở Việt Nam và Lào, không có ở Trung Quốc.

12  Những ngày hạnh phúc của Hồ Xuân Hương qua nhanh, chưa đến ba năm thì bỗng đâu tai họa đưa đến. Từ triều đình chia ra hai phe phái tranh giành quyết liệt: Phe Tổng Trấn Lê Văn Duyệt, Lê Chất và phe Tổng Trấn Nguyễn Văn Thành, Đặng Trần Thường. Vì một bài thơ ngông nghênh có câu: « Giúp nhau thay đổi hội cơ này »của Nguyễn Văn Thuyên con Nguyễn Văn Thành, bài thơ này lọt vào tay Lê Văn Duyệt trở thành cái cớ để triệt hạ phe Nguyễn Văn Thành. Vua Gia Long nghi ngờ sự trung thành của Nguyễn Văn Thành, cho rằng ông đang mưu phản : Nguyễn Văn Thuyên bị án chém, Trung Quân  chỉ huy toàn quân đội Nguyễn Văn Thành phải tự tử. Binh Bộ Thượng Thư Đặng Trần Thường, bị buộc tội ẩn lậu ao đầm ở Bắc Hà, bị buộc tội thắt cổ. Tiến sĩ Vũ Trinh thầy dạy Nguyễn Văn Thuyên, anh rễ Nguyễn Du đang làm quan Hữu Tham Tri Bộ Hình cũng bị án giảo (thắt cổ) được giảm án đày đi Quảng Nam đến năm 1828 mới được ân xá. Tại Bắc Hà, hai nhân vật được xem là tay chân của Nguyễn Văn Thành: Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng Trần Ngọc Quán chết bất ngờ năm 1818, tôi cho rằng ông đã tự tử, vì là bạn văn thơ của Nguyễn Văn Thuyên. Thuyên thường ra Bắc và cư trú nơi dinh Trần Ngọc Quán. Và Tham Hiệp Yên Quảng Trần Phúc Hiển, chồng Hồ Xuân Hương, Phúc Hiển có mối liên hệ mật thiết với Nguyễn Văn Thành, vì cha là Trần Phúc Nhàn cùng trong Bộ Tham Mưu Quân Đội, đã chết trận. Phúc Hiển được Nguyễn Văn Thành che chở như con, nên bị xem là tay chân của Nguyễn Văn Thành.
Lê Chất, Tổng Trấn Bắc Thành lúc bấy giờ cùng phe phái với Lê Văn Duyệt. Án Thủ Dung chỉ huy quân đội tại Yên Quảng, tay chân của Lê Chất, xui dân kiện Tham Hiệp Trần Phúc Hiển đòi ăn hối lộ 700 quan tiền..
Sách Quốc Sử Di Biên soạn bởi viên sử quan Thám Hoa Dưỡng Hạo Phan Thúc Trực, bản chữ Hán lưu trử tại Trường Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội, số ký hiệu A 1045  chép:
“Quan Tham Hiệp trấn Yên Quảng bị tội tử hình, vì doạ nạt dân để lấy của. Ruộng tải Châu Vạn Ninh bị bỏ hoang nhiều. Quan Tham Hiệp Trấn ấy ép dân phá làm ruộng cày. Nhân đó đòi dân đút tiền, kể đến bạc nghìn. Dân châu này kiện. Viên Án Thủ Dung tố cáo, làm ông bị giam chặt một năm. Vợ thiếp ông tên là Xuân Hương, giỏi về văn chương và chính trị, bấy giờ nổi tiếng là tài nữ. Quan Tham Hiệp thường sai nàng dự vào việc quan. Viên Án Thủ Dung vốn sợ ghét nàng.”.
Qua mấy dòng sử trên ta thấy có điểm phi lý:
-Việc thúc đốc dân làm ruộng cày cấy là công việc của Tri Châu Vạn Ninh (ở các vùng dân tộc thiểu số Tri Huyện gọi là Tri Châu). Quan Tham Hiệp Trấn giám sát công việc của Tri Châu, nếu Tri Châu làm không xong thì trình lên cấp trên cách chức Tri Châu, dưới Tri Châu có Xã, Làng đốc thúc dân là việc của Xã Trưởng, Lý trưởng, Trương Tuần, không xong thì quan Tri Châu trị tội, việc gì Quan Tham Hiệp phải doạ nạt dân.
-Ngày xưa việc khẩn hoang, phá ruộng cày, dân được chu cấp thóc giống, khai khẩn đất đến đâu được làm chủ đến đó, lại được ba năm miễn thuế, việc gì mà phải dọa nạt dân.
-Nếu dân bỏ nghề ruộng đi làm nghề biển, dân trốn trên ba nghìn đảo Hạ Long, có muốn bắt cũng không bắt được.
-Nếu ruộng bị bỏ hoang qua mấy mùa thì làng xã, biến thành công điền, làng xã quản trị. Phép Vua thua lệ làng, làng Việt Nam có một chế độ tự trị rộng rãi. Gặp trường hợp nông dân cứng đầu thì Lý Trưởng, Trương Tuần bắt đóng gông giải lên Tri Châu xử phạt bằng roi, trượng.

Ngày xưa các quan sống bằng bổng lộc. Theo Đại Nam Thực Lục, đệ tứ kỷ nxb KHXH. Hà Nội năm 1976 tr 111, Lệ bổng đồng niên vào triều Nguyễn, Tri Châu tại Nghệ An là 5 lạng bạc. Tri Châu Vạn Ninh chắc cũng tương đương như thế. Lộc là quà thưởng của Vua, hay của dân bằng lụa, thổ sản, hay rượu. Trước cửa đối diện các huyện đường thường có quán tư nhân bán rượu. Giáo sư Võ Thu Tịnh, tác giả nhiều sách giáo khoa Miền Nam, có cha từng làm tri huyện, đã kể tôi nghe: Theo phong tục ngày xưa, khi có vụ việc, người dân mua chai rượu lễ đặt trên khay, cùng vật lễ, chi phí kiện tụng, phủ vải đỏ. Dân nào vào tay không là lính lệ đuổi ra ngay. Quan không uống rượu, nhưng sai tiểu đồng mỗi ngày ra quán đổi rượu lấy tiền, giá giảm 30% so với tiền dân trả cho chủ quán, các chai rượu cứ thế mà chạy tới chạy lui giữa huyện đường và chủ quán. Còn quà tặng cuả dân châu Vạn Ninh có chăng là một vài ký mực khô. Biên giới giữa tham nhũng và thanh liêm ngày xưa rất khó nói, tham nhũng là ra giá mỗi sự việc, thanh liêm là tự dân muốn cho gì thì cho, rất khó có bằng cớ về việc ra giá. Những vụ việc nhỏ Tri Châu, đã giải quyết, lên đến Tham Hiệp chỉ có những vụ việc lớn, hay chính Tri Châu phải đi lễ cho Quan Tham Hiệp để được cai trị lâu dài. “Đời trước làm quan cũng thế a.” Thơ Nguyễn Khuyến nói về chế độ quan lại ngày xưa, khi Vua thương thì việc gì cũng qua, khi có kẻ bươi móc, hay Vua ghét, thì Lộc trở nên tội tham nhũng. Án Thủ Dung thuộc vây cánh Lê Chất, Lê Văn Duyệt khi muốn thanh trừng Trần Phúc Hiển thì chỉ cần xúi dục dân đệ đơn kiện, nếu không có kẻ xúi dục đứng phía sau thì dân nào dám kiện Quan Tham Hiệp. Tôi cho rằng vụ việc Trần Phúc Hiển là một vụ án chính trị nằm trong cuộc tranh giành giữa hai phe phái Lê Văn Duyệt và Nguyễn Văn Thành.

Bài thơ Tái ngoại văn châm, Ngoài ải nghe tiếng chày dệt vải, cho ta thấy Hồ Xuân Hương đang cảm nhận một sự việc không may sẽ xãy ra: Án thủ Dung bắt đầu xui dân đi kiện, tiếng người dân nghe đã lao xao như tiếng côn trùng: Nghe tiếng trống canh của lính ở thành bên sông, lại nghe tiếng chày đập vải trong sương, bầy nhạn hoảng hốt tung bay tứ tán, tiếng côn trùng bên vách kêu ồn ào, người chinh phu đi làm tan cơn mộng người vợ chốn khuê phòng, người đi chơi xa còn nặng mối tình cố quốc. Đắc ý biết đâu cần thang thuốc đắng, Tiếng đàn sáo còn chen lẫn tiếng gà gáy sáng

Ngoài ải nghe tiếng chày nện vải

Chợt nghe tiếng trống lính giang thành,
Lại vẳng chày sương tiếng thậm thình.
Đứt nối nhạn bầy tung sợ hãi,
Dế trùng bên vách loạn ca thanh.
Khuê sầu chinh khách tan cơn mộng,
Nước cũ du nhân nặng mối tình.
Đắc ý biết đâu cần thuốc đắng,
Sáo đàn chen lẫn tiếng gà canh.

Thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương
trong Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập
Nhất Uyên dịch thơ
Nguyên tác phiên âm Hán Việt

Tái ngoại văn châm

Thúc văn giang cổ thú giang thành,
Hốt đắc hàn châm tẩu nhĩ thinh,
Tục đoạn sương trung kinh nhạn trận,
Y hy bích hạ loạn trùng thanh.
Chinh phu dục phá thâm khuê mộng,
Du tử hoàn thiêm cố quốc tình,
Đắc ý bất tri cần khổ dược,
Quản huyền vận vận gián kê minh.

Rồi tai họa xảy đến, Quan Tham Hiệp Trần Phúc Hiển bị tống giam một năm, gia sản bi niêm phong. Ông bị giam ở Bắc Thành.Và quan cai ngục là Trần Quang Tĩnh ngày trước làm Hiệp Trấn Sơn Nam Hạ, người ngày xưa từng muốn hỏi cưới Hồ Xuân Hương, từng khâm phục thơ văn và xướng hoạ với nàng, nhưng rồi sau đó bị đổi về Nam năm 1809 lại thôi, nay trở ra làm Tướng, chỉ huy Tào Binh Bắc Thành, thống lĩnh toàn quân đội các trấn phía Bắc.
Bài Bán chẩm thư hoài, Nỗi niềm gối lẽ cho ta thấy nỗi lòng Hồ Xuân Hương: Vụ án chưa rõ trắng đen, chưa biết bị xử tội hay được tha còn chờ Vua Gia Long phán xét, nàng còn hy vọng như nửa trời mưa nửa trời còn trong sáng. Gia sản bị niêm phong, nàng phải ở trọ trong lữ quán. Nàng tìm đến Quan Tào Binh, Tướng Trần Quang Tĩnh, người tình từng ngâm thơ xướng họa với nàng, nhưng nào thấy đâu sắc tướng. Tình nàng như tình với ma, nàng bị binh lính lệ đuổi đi: « Tướng quân đi vắng, bà về đi ». Hai câu này Hồ Xuân Hương dùng thật tuyệt tác: đem chữ sắc tướng nhà Phật đối với chữ sầu binh thật hợp tình hợp cảnh và tài tình:
Ngâm khách hữu thần lai sắc tướng
Tình ma vô lực khước sầu binh.

Cụ Bùi Hạnh Cẩn dịch: Bạn hát có thần cùng họp mặt
Ma tình không sức đuổi sầu binh.
Nếu bạn hát, ngâm thơ đến họp mặt thì còn gì nỗi niềm gối lẽ, cụ đã hiểu ngược câu thơ: Bạn hữu có thần thế trốn mất hết.
Tôi dịch:   Ngâm khách thế thần đâu sắc tướng
Tình ma không sức đuổi sầu binh.
Trong chăn nàng đã gầy đi phân nửa. Trên chiếu nàng nằm chỉ một phần vì vắng chồng. Nỗi lòng nàng hiu quạnh không sao nói được. Tìm đâu trong trần thế người có đôi mắt xanh, sáng suốt phán quyết vụ việc của chồng nàng.

Nỗi niềm gối lẽ

Nửa trời mưa gió nửa trời thanh,
Lữ quán thê lương đến mộng lành.
Ngâm khách thế thần đâu sắc tướng,
Tình ma không sức đuổi sầu binh.
Trong chăn gầy nửa thân phong nhã,
Trên chiếu chia đôi góc biển tình,
Hiu quạnh nỗi niềm sao nói được,
Tìm đâu trần thế mắt ai xanh ?

Thơ Hồ Xuân Hương, trong Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập
Nhất Uyên dịch thơ.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt

Bán chẩm thư hoài

Bán thiên phong vũ bán thiên tình,
Lữ huống thê lương nhập mộng tình.
Ngâm khách hữu thần lai sắc tướng,
Tình ma vô lực khước sầu binh.
Khâm trung bán sấu phong lưu cốt,
Tháp thượng bình phân hải giốc tình,
Nhất phiến cô liêu ngôn bất tận,
Trần hoàn an đắc nhãn song thanh.

Sách chính sử Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ quyển 57 tr 12 a chép: Quan Tham Hiệp Trấn Yên Quảng là Trần Phúc Hiển ăn tiền hối lộ của dân đến bảy trăm quan. Sự ấy lộ ra. Vua (Gia Long) nói : « Tham nhũng như thế mà không giết, thì lấy gì mà khuyên liêm » . Bảo quan Bắc Thành trị tội, Hiển bị án tử hình.
Rồi một ngày năm 1819. Trần Phúc Hiển bị mang ra pháp trường ngoài thành Thăng Long, chàng bị bị trói vào cọc gỗ. Trên khán đài có Tổng Trấn Lê Chất và Tướng Trần Quang Tĩnh quan Tào Binh Bắc Thành.  Ba hồi trống dục, đao phủ thủ đưa nhát dao, đầu chàng phụt máu đứt lìa. Có một người phụ nữ xinh đẹp khóc cười điên dại, ôm xác chồng:

Khóc chồng

Trăm năm Phúc Hiển hỡi chàng ôi,
Cái nợ phong trần vỗ trắng rồi.
Chôn chặt văn chương ba thước đất,
Phá tan hồ thỉ bốn phương trời.
Hạt sương dưới chiếu chau mày khóc,
Giọt máu trên tay mỉm miệng cười
Thân thế thôi còn chi nói nữa,
Trăm năm Phúc Hiển hỡi chàng ơi.!

Paris, 2000, 22-3-2012

Tìm đọc cùng tác giả: Nhất Uyên Phạm Trọng Chánh
-Hồ Xuân Hương:, Nàng là ai ? Khuê Văn Paris 2000
-Truyện Thơ Odyssée qua 12110 câu thơ lục bát. Khuê Văn Paris 2005
-Sử thi Iliade qua 17933 câu thơ lục bát. Khuê Văn, Paris 2009
-Thơ Tình Nhất Uyên, Huy Cận ,Xuân Diệu, Đoàn Đức Nhân đề tựa Khuê Văn Paris 2008
-Nguyễn Du, mười năm gió bụi và mối tình Hồ Xuân Hương. Khuê Văn Paris, 2010
-Tự Điển Tình Yêu bằng thơ Tình Xuân Diệu.(Di cảo do chính XD ký thác) Khuê Văn Paris 2011
liên lạc :Email:  phamtrongchanh@free.fr

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s