HÀ VĂN THÙY: Nhìn Lại Cội Nguồn Văn Hóa Việt (tác phẩm trích đăng)

LTS: Khoahoc.net xin lần lượt trích đăng cống hiến độc giả xa gần tác phẩm ”Nhìn Lại Cội Nguồn Văn Hóa Việt” của tác giả Hà Văn Thùy. Theo tác giả, sách được ra đời với chủ đích thống nhất hai nhận thức cơ bản: – Dân tộc Việt Nam là ai? và – Văn hóa Việt Nam là gì? Với mục đích tạo sự thông hiểu sự kiện dân tộc chúng ta là ai, từ đâu tới, tác giả đã giải bày rất rõ ràng và khoa học về cội nguồn văn hóa của chúng ta. Sách được in lần thứ nhất năm 2007 và sau năm năm tích lũy thêm tư liệu, sách đã được sửa lại thành phiên bản hoàn chỉnh năm 2011.

PHẦN MỘT
VỀ NGUỒN GỐC NGƯỜI VIỆT

CHƯƠNG I
NGUỒN GỐC NGƯỜI VIỆT
THEO CÁCH NHÌN TRUYỀN THỐNG

Trước hết xin kiểm lại xem từ xa xưa cha ông ta đã nhìn về cội nguồn dân tộc ra sao?

1. ÐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ

Không phải ngẫu nhiên mà sau 1000 năm Bắc thuộc, đến khi giành được độc lập, dòng thứ nhất trong cuốn sử đầu tiên của mình, người Việt đã ghi nhận về nguồn cội. Tác giả Ðại Việt sử ký toàn thư, Triều liệt đại phu, Quốc tử giám tư nghiệp kiêm sử quan tu soạn, Ngô Sĩ Liên viết:
“Xét: thời Hoàng đế dựng muôn nước, lấy địa giới Giao Chỉ về phía Tây Nam, xa ngoài đất Bách Việt. Vua Nghiêu sai Hy thị đến ở Nam Giao để định đất Giao Chỉ ở phương Nam. Vua Vũ chia chín châu thì Bách Việt thuộc phần đất châu Dương, Giao Chỉ thuộc về đấy. Từ đời Thành vương nhà Chu (1063-1026 TCN) mới gọi là Việt Thường thị, tên Việt bắt đầu có từ đấy.
Kỷ Hồng Bàng thị
Kinh Dương Vương
Tên húy là Lộc Tục, con cháu họ Thần Nông.
Nhâm Tuất năm thứ nhất. Xưa, cháu ba đời của Viêm đế họ Thần Nông là Ðế Minh sinh ra Ðế Nghi, sau Ðế Minh đi tuần phương Nam, đến Ngũ Lĩnh lấy con gái Vụ Tiên sinh ra vua. Vua là bậc thánh trí thông minh. Ðế Minh rất yêu quý, muốn cho nối ngôi. Vua cố nhường cho anh, không dám vâng mệnh. Ðế Minh mới lập Ðế Nghi là con nối ngôi, cai quản phương Bắc, phong cho vua làm Kinh Dương Vương cai quản phương Nam, gọi là nước Xích Quỷ.
Vua lấy con gái Ðộng Ðình Quân tên là Thần Long sinh ra Lạc Long Quân.

Lạc Long Quân
Tên húy là Sùng Lãm. Con của Kinh Dương Vương.
Vua lấy con gái của Ðế Lai là Âu Cơ, sinh ra trăm con trai (tục truyền là trăm trứng) là tổ của Bách Việt. Một hôm vua bảo Âu Cơ rằng: “Ta là giống rồng, nàng là giống tiên, thủy hỏa khắc nhau, chung hợp thật khó.” Bèn từ biệt nhau, chia 50 con theo mẹ về núi, 50 con theo cha về ở miền Nam (có bản chép là về Nam Hải) phong cho con trưởng là Hùng Vương nối ngôi vua.

Hùng Vương
Con Lạc Long Quân, đóng đô ở Phong Châu (nay là huyện Bạch Hạc)
Hùng vương lên ngôi, đặt quốc hiệu là Văn Lang (Nước này Ðông giáp biển Nam Hải, Tây đến Ba Thục, Bắc đến hồ Ðộng Ðình, Nam giáp nước Hồ Tôn, tức Chiêm Thành, nay là Quảng Nam.) Chia nước ra làm 15 bộ là: Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Lục Hải, Vũ Ðịnh, Hoài Hoan, Cửu Chân, Bình Văn, Tân Hưng, Cửu Ðức đều là đất thần thuộc của Hùng vương; còn bộ gọi là Văn Lang là nơi vua đóng đô.
Bấy giờ dân ở rừng núi thấy ở sông ngòi khe suối đều có tôm cá, nên rủ nhau đi bắt cá để ăn, thường bị thuồng luồng làm hại, đến thưa vua, vua nói: “Người Man ở núi khắc với các loài thủy tộc, các thủy tộc ấy ưa cùng loài mà ghét khác loài, cho nên mới bị chúng làm hại. Rồi vua bảo mọi người lấy mực vẽ hình thủy quái ở mình. Từ đấy thuồng luồng trông thấy không ăn hại nữa. Tục vẽ mình của người Bách Việt có lẽ bắt đầu từ đấy.”
Ðời Thành vương nhà Chu nước Việt ta lần đầu sang thăm nhà Chu, xưng là Việt Thường thị, hiến chim trĩ trắng. Chu công nói: “Chính lệnh không ban đến thì người quân tử không coi người ta là bề tôi của mình.” Rồi sai làm xe chỉ nam đưa sứ giả về nước.(3)”

Ðể viết những dòng trên, sử gia Ngô Sĩ Liên đã lấy tài liệu từ hai nguồn là thư tịch Trung Hoa và huyền sử. Do phải dựa trên sách vở Tàu nên ông mang vào sử ta cái nhìn thiên lệch của người Hán: Hoàng đế dựng muôn nước (!) Vô hình trung, ông thừa nhận Hoàng đế là ông vua tạo lập nước Việt. Sự thực thì không hề có cái gọi là Hoàng đế dựng muôn nước bởi lẽ trước khi Hoàng đế ra đời, người Việt đã sống khắp lưu vực sông Hoàng Hà cùng Dương Tử, đã làm chủ Trung Nguyên. Bằng huyền thoại chia tay nhau giữa Lạc Long Quân và Âu Cơ, giống Tiên và giống Rồng, người xưa giấu đi cuộc chiến ác liệt giữa Hoàng đế với Ðế Lai mà sử sách Trung Hoa ghi rất rõ. Tuy vậy sử gia thiên tài này đã vạch ra một sơ đồ về cương vực cũng như nguồn gốc người Việt: Giao Chỉ ở về phía Tây Nam, bên ngoài đất Bách Việt. Do linh cảm đặc biệt, ông đã xác định lịch sử của tộc người Việt từ Kinh Dương Vương vào năm Nhâm Tuất 2879 TCN đến Lạc Long Quân rồi Hùng vương. Nhiều người cho đó là hoang đường vô sở cứ không thể tin được nhưng thời gian cho thấy, Ngô Sĩ Liên đã đúng. Chính nhờ ông mà người Việt dù trong mặc cảm hoài nghi đã có cái nhìn xa hơn về cội nguồn dân tộc. Nó giúp chúng ta trong những hoàn cảnh khắc nghiệt của số phận vẫn trì chí vươn tới tương lai. Thực tế lịch sử (như sẽ chứng minh sau này) cho thấy ngô Sĩ Liên đã đúng khi đưa truyền thuyết họ Hồng Bàng vào chính sử.

2. VIỆT SỬ TIÊU ÁN

Cuốn sử thứ hai có nhắc đến nguồn gốc dân tộc Việt là Việt sử tiêu án của Ngô Thì Sỹ viết năm 1775:
“Xét theo thiên Vũ cống, nước Việt ở về phía nam đất Dương Châu. Theo sách Thiên quan, từ sao Ðẩu 11 độ qua sao Khiên Ngưu đến sao Chức Nữ 7 độ là tinh kỷ. Kể về sao thì về ngôi Sửu, cùng một phận dã tinh truyện với nước Ngô. Cõi Nam là Việt môn, có rất nhiều nước như Âu Việt, Mân Việt, Lạc Việt cho nên gọi là Bách Việt. Bởi vì miền này ở phía nam Dương Châu, nên lại gọi là Nam Việt. Vùng đất từ núi Ngũ Lĩnh xuống phía nam thuộc về Nam Việt. An Nam là miền đất phía nam nước Việt, nay là quốc hiệu thường gọi.”(4)
Bằng sự tra cứu kỹ càng, sử gia vạch rõ phận dã của nước Việt thời thái cổ: Từ sao Ðẩu 11 độ qua sao Khiên Ngưu đến sao Chức Nữ 7 độ. Tiếc rằng các sử gia sau này không ai căn cứ vào đó để xác định địa vực của nước Việt ta, dù chỉ trên mặt lý thuyết.

3. VIỆT NAM SỬ LƯỢC

Trong Việt Nam sử lược ấn hành đầu thập niên 40 thế kỷ trước, sử gia Trần Trọng Kim viết:
“Theo ý kiến của nhà kê cứu nước Pháp, thì người Việt Nam và người Thái đều ở miền núi Tây Tạng xuống. Người Việt theo sông Hồng Hà lần xuống phía Ðông Nam, lập ra nước ta bây giờ, còn người Thái thì theo sông Mê kông xuống, lập ra nước Tiêm La và các nước Lào, Mên.
Lại có nhiều người Tàu và người Việt Nam nói rằng, nguyên khi xưa đất nước Tàu có giống Tam Miêu ở, sau giống Hán tộc (tức người Tàu bây giờ) ở Tây Bắc đến đánh đuổi người Tam Miêu đi, chiếm giữ lấy vùng sông Hoàng Hà lập ra nước Tàu, rồi dần dần xuống phía Nam. Người Tam Miêu phải lẩn núp trong rừng hay xuống miền Việt Nam ta bây giờ.
Những ý kiến ấy là theo lý mà suy ra thôi, chứ cũng chưa có gì làm chứng cho đích xác. Chỉ biết rằng người Việt Nam ta trước có hai ngón chân cái giao lại với nhau, cho nên Tàu mới gọi ta là Giao Chỉ, mà xem các loại khác, không có loài nào như vậy, thì tất là một loài riêng, chứ không phải là loài Tam Miêu.

Xét từ đời Kinh Dương Vương đến đời Hùng vương thứ 18 cả thảy 20 ông vua, mà tính từ năm Nhâm Tuất (2879) đến Quý Mão (257 TCN) thì vừa được 2622 năm. Cứ tính hơn bù kém, mỗi ông vua trị vì được non 150 năm! Dẫu là người đời thượng cổ nữa thì cũng khó lòng có nhiều người sống được lâu vậy. Xem thế thì đủ biết truyện Hồng Bàng không chắc là truyện xác thực.(5)”

Ðây là lần đầu tiên ý tưởng: Người Việt từ cao nguyên Tây Tạng di chuyển xuống phía đông nam được đưa vào lịch sử Việt Nam. Giả thuyết của học giả người Pháp E. Aymonier do vậy trở thành quan điểm chính thống về lịch sử Việt Nam, tồn tại suốt thế kỷ XX. Nhưng đáng tiếc quan điểm này lại là sự lầm lẫn lớn.
Tuy có nhắc đến những ý kiến về người Tam Miêu sống khắp Trung Quốc bị Hán tộc xua duổi chạy xuống phía nam nhưng do không có thái độ khoa học đúng mực, lại tận tín thư (sách Tàu và sách Tây) nên khi chưa có sự nghiên cứu cẩn trọng, sử gia Trần Trọng Kim đã vội bác bỏ ý kiến này, và hồn nhiên tin vào ý tưởng sai lầm người Giao Chỉ là giống người có hai ngón chân cái giao nhau. Ông cũng là người có tinh thần duy sử, tỏ ra hoài nghi giai đoạn họ Hồng Bàng. Như vậy sử gia Trần Trọng Kim không góp được gì soi tỏ cội nguồn dân tộc nếu không muốn nói ông đã dẫn hậu thế lạc đường.

4. VIỆT SỬ TOÀN THƯ

Trong cuốn sách đồ sộ của mình, sử gia Phạm Văn Sơn viết:
“Nhiều nhà khoa học Pháp cho rằng, người Việt Nam phát tích ở miền núi Tây Tạng cũng như người Thái, qua các triều đại di cư đến xứ Bắc Việt, lần xuống phía đông nam và lập ra nước Việt Nam ngày nay, còn người Thái lần theo sông Cửu Long tạo ra nước Tiêm La và Mên, Lào. Như vậy dân tộc Việt Nam là một trong nhiều dân tộc đã do các miền Tây Bắc Trung Hoa là nguồn gốc. Ðồng thời một vài dân tộc khác ở các quần đảo Ðông Nam di cư lên như dân Mã Lai, dân Phù Nam, Chiêm Thành cùng tập họp trên bán đảo Ðông Dương.

Có thuyết cho rằng, người Việt thuộc giống Anh-đô-nê-diêng (Indonésien) bị giống A-ri-ăng (Aryens) đánh bật ra khỏi Ấn Ðộ, phải chạy qua bán đảo Hoa Ấn. Tới đây chia ra làm hai ngành, một tụ lại bán đảo Hoa Ấn tiêu diệt đám thổ dân ở đây là người Mê-la-nê-diêng (Mélanésien), một thiên xuống Nam Dương quần đảo. Ðám ở miền bắc hòa giống với người Mông Cổ, chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc. Ở miền nam, giống Anh-đô-nê-diêng hợp thành giống Cao Mên và Chiêm Thành chịu văn hóa Ấn Ðộ. Ngay ngành ở miền bắc cũng chia ra hai chi phái: một sinh tụ ở Trung châu sông Nhị Hà và các miền duyên hải, nhờ có đất cát phì nhiêu, lại chịu nhiều cuộc biến chuyển lịch sử mà xúc tiếp được với văn hóa Trung Quốc nên tiến bộ mau lẹ. Còn chi phái kia lên các vùng cao nguyên sống với rừng núi chịu ảnh hưởng của giống Thái ở lân cận tuy vẫn giữ được nền nếp cũ là các tổ chức và thể chế phong kiến. Các người Mường hiện cư trú tại Hòa Bình và Nghệ An ngày nay là di duệ của chi phái này.

Ông Léonard Aurousseau căn cứ vào sách Tàu, cho rằng người Việt Nam thuộc dòng dõi người Việt thời Xuân Thu tức là thuộc quyền quốc vương Câu Tiễn thời đó (cuối thế kỷ thứ VI TCN), đóng kinh đô ở thành Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang ngày nay. Năm 333 TCN nước Sở đánh bại nước Việt, người Việt chạy lùi thêm xuống miền Nam chia ra làm 4 phái:
1) Ðông Âu hay Việt Ðông thuộc miều Ôn Châu phía nam tỉnh Chiết Giang.
2) Mân Việt tụ tập tại Phúc Châu, Phúc Kiến.
3) Nam Việt thuộc Quảng Ðông và phía bắc Quảng Tây.
4) Lạc Việt hay Tây Âu Lạc ở phía nam Quảng Tây và miền Bắc Việt của chúng ta bây giờ.

GIAO CHỈ VÀ VIỆT THƯỜNG

Theo sự khảo cứu của ông Ðào Duy Anh, ở đời thái cổ từ Nghiêu, Thuấn, Hạ, Thương trong lịch sử Trung Hoa, trong khi người Hán tộc đang quanh quẩn ở lưu vực sông Hoàng Hà và sông Vị Thủy thì miền nam trong khoảng lưu vực sông Dương Tử, sông Hán và sông Hoài có những giống người văn hóa khác hẳn với văn hóa người phương bắc. Trong thư tịch của người Trung Hoa, bọn người đó gọi là Man di, sống bên các bờ sông, bờ biển, các đầm hồ và trong rừng hoang. Họ sinh hoạt bằng nghề chài lưới, săn bắt. Họ có tục đặc biệt là xăm mình và cắt tóc ngắn. Ðể giải thích phong tục đó, người ta nói rằng người Man di hàng ngày lặn lội dưới sông biển thường bị Giao Long làm hại nên xăm mình thành hình trạng Giao Long để Giao Long tưởng là vật cùng giống mà không giết hại.
Từ đời Nghiêu, Thuấn, một dân tộc khai hóa rất sớm là người Giao Chỉ đã giao thiệp với người Hán tộc. Ðem đối chiếu những điều trong thư tịch thì Giao Chỉ ở vào miền Hồ Nam ngày nay, gần hồ Ðộng Ðình và núi Nam Lĩnh. Người Hán tộc gọi nhóm Man di đó là Giao Chỉ. Ban đầu người Giao Chỉ xăm mình để thành hình trạng Giao Long rồi dần dần chính họ phát sinh mối tin tưởng mình là đồng chủng của Giao Long. Quan niệm “tô tem” bắt nguồn từ chỗ này. Người Hán thấy họ có hình trạng Giao Long, thờ Giao Long làm tổ nên gọi là Giao Chỉ, tức là miền đất của giống người Giao Long.

Một thuyết khác, cho rằng người Giao Chỉ có tên này là do hai ngón chân cái giao nhau. Theo hai bác sĩ P. Huard và Bigot (Bulletin de la Société Medico-chirurgical de l’Indochine quyển XV số 5 tháng 5 1937 trang 489-506), dưới tiêu đề: “Les Giao Chi” thì việc người Giao Chỉ có hai ngón chân cái giao nhau không đáng coi là một điều đặc biệt, tức là nhiều dân tộc khác ở Á Ðông cũng có hình tích này (Chữ Giao Chỉ được chép trước nhất vào đời Thần Nông).
… Ngoài nghề đánh cá là nghề căn bản, người Giao Chỉ ở nơi đầm lầy hay đất bồi đã biết trồng trọt và làm ruộng. Trong lúc này, ở khoảng giữa hồ Ðộng Ðình và hồ Phiên Dương tới đời Nghiêu, Thuấn đã có giống người Tam Miêu biết nghề canh nông rồi và người Giao Chỉ đã ở trên một phần đất của người Tam Miêu. Căn cứ vào nghề đánh cá, nghề nông cùng chế độ vật tổ là đặc tính xã hội thị tộc, người ta cho rằng người Giao Chỉ bấy giờ ít nhất cũng là ở cuối đời Đá Cũ và đầu Đá Mới (đá đẽo với đá mài) tuy chưa tìm được di tích sinh hoạt gì của họ ở dưới đất. Còn về thời Nghiêu, Thuấn đã làm ruộng toàn bằng đá cũ, xét vào các di vật đào được ở Ngưỡng Thiều tỉnh Hà Nam và lưu vực sông Hoàng Hà. Họ làm nhà bằng cây tre hay nứa như nhà sàn của người thượng du ngày nay trên các đầm hồ hay khe núi (Theo thiên Vũ cống, ở đất châu Kinh có nhiều tre).

Sách xưa chép, phía nam đất Giao Chỉ, cuối đời Chu nước Việt Thường đã có phen thông sứ với Chu Thành vương và cống một con bạch trĩ. Nước Việt Thường xuất hiện có lẽ đã lâu lắm từ đầu đời nhà Chu trên địa bàn cũ của nước Tam Miêu (giữa hồ Ðộng Ðình và hồ Phiên Dương), trung tâm điểm của nước ấy là xứ Việt Chương. Vua Sở Hùng Cừ (thế kỷ IX TCN) phong cho con út là Chấp Tỳ ở đây. Nước Việt Thường bắt đầu suy từ khi có Sở thành lập ở miền Hồ Nam, Hồ Bắc sau những cuộc lấn đất về phía Tây (của Việt Thường qua đến đời Hùng Cừ. Ðất Việt Chương ở miền hồ Phiên Dương). Người Việt Thường cũng sinh hoạt bằng nghề đánh cá như người Giao Chỉ, có lẽ cũng có tục xâm mình nhưng họ thông thạo nghề nông hơn. Theo thiên Vũ cống thì miền châu Kinh và châu Dương có những sản vật như vàng, bạc, gỗ quý để làm nhà, các thứ trúc để làm nỏ, lông chim, da bò, ngà voi, da tê ngưu, vải gai v…v… Dân Việt Thường còn biết cách chế đồ đồng đỏ. Trình độ kỹ thuật đã tới trình độ Đá Mới. Họ cũng sống theo chế độ thị tộc và cũng có tín ngưỡng “tô tem” như người Giao Chỉ. Mọi quan hệ giữa người Giao Chỉ và Việt Thường thế nào cho đến nay vẫn chưa được rõ rệt chỉ biết trong khi Việt Thường xuất thì tên Giao Chỉ không còn nữa và địa bàn ức đoán của Việt Thường choán một phần đông nam của địa bàn ức đoán của người Giao Chỉ. Ngoài ra Việt Thường với người Giao Chỉ đều là người Man di thuộc về Việt tộc là giống người đã sinh tụ ở khắp lưu vực sông Dương Tử, từ miền Vạn huyện (đời Chu là nước Quý Việt) tỉnh Tứ Xuyên ra tới biển, nghĩa là suốt châu Kinh, châu Dương trong Vũ cống. Có những điều chúng ta biết về đặc tính văn hóa thì Việt tộc vào thời đó có lẽ không thuộc ảnh hưởng tộc Mông Gô Lich một phần nào như người Hán, tuy chưa thể nói thấy tục xăm mình là tục đặc biệt của các dân tộc thuộc giống Anh-đô-nê-diêng miền Nam và Tây Nam Á Châu (tộc người Miêu Từ, Lô Lô, Mán, Lái, Lê, Dao, Xá…cho đến người Dayak ở đảo Bornéo đều là di duệ của người Man di). Ðám người này theo các nhà nhân chủng học chia ra hai giống Tạng Miến (Tibéto-Birman) và Anh-đô-nê-diêng. Nhưng họ không khác biệt nhau mấy, ngay cả về đặc tính kỹ thuật. Theo các nhà bác học Leroy, Gourhan về nhân loại học, người Anh-đô-nê-diêng và giống Tạng Miến gần nhau quá, nếu có khác thì sự khác biệt đó cũng hết sức mong manh có lẽ vì pha trộn tức là lai giống. Hai đám dân tộc này phải chăng đã sống gần gũi nhau nên đã có sự trạng này hay là đã cùng thoát thai ở một gốc và chúng tôi nghĩ rằng cái gốc người ta đã đề cập đó có lẽ là Việt tộc. Các nhà tiền sử học và ngôn ngữ học phát biểu rằng, suốt từ miền A-Xam phía bắc Ấn Ðộ trải qua nam bộ Trung Hoa xuống tới Nam Dương quần đảo có một thứ văn hóa hiện nay còn di tích trong các dân tộc Anh-đô-nê-diêng. Chúng ta có thể nghĩ rằng, người Việt tộc xưa có lẽ là một nhánh của chủng tộc Anh-đô-nê-diêng. Chủng tộc này trong thời thái cổ đã có mặt hầu khắp miền Ðông Nam Á châu.

BÁCH VIỆT

Căn cứ vào các sách của Tàu trong đời nhà Chu ta thấy Bách Việt có mặt từ lưu vực sông Dương Tử rồi sau này tản mác khắp miền nam bộ Trung Hoa. Nói là Bách Việt, người ta căn cứ vào thuyết truyền kỳ về Lạc Long Quân kết duyên cùng bà Âu Cơ sinh ra trăm con trai. Sự thực về thời Thương có giống Bách Việt có nhiều nhóm nhiều bộ lạc sinh sống rải rác như các dân tộc thiểu số ngày nay tại miền thượng du. Ðến đời nhà Chu, các bộ lạc này đi dần đến chỗ thống nhất do những biến thiên của lịch sử. Các bộ lạc nhỏ dần bị các bộ lạc lớn kiêm tính và hợp lại thành năm nhóm sau đây đã đạt tới hình thức quốc gia là Ðông Việt hay Ðông Âu, Mân Việt, Nam Việt, Tây Việt hay Tây Âu và Lạc Việt. Sau này ba nhóm trên bị đồng hóa theo Hán tộc, còn lại trên lịch sử ngày nay là nhóm Tây Âu và Lạc Việt.”(6)

Tác giả Phạm Văn Sơn viết Việt sử toàn thư vào năm 1960. Nhờ thành quả của khoa khảo cổ học, nhân chủng học và những tư liệu của lịch sử thế giới, ông đưa vào sách của mình nhiều tài liệu liên quan đến nguồn gốc người Việt. Tuy vậy, do hạn chế của sử liệu cũng như khả năng phân tích tư liệu nên sử của ông mang tính “xôi đỗ” cái sai xen lẫn với cái đúng. Thêm vào đó, việc đưa vào một cuốn sử quá nhiều giả thuyết có khi trái ngược mâu thuẫn nhau khiến người đọc bị rối, không biết lấy đâu làm sở cứ. Ðiều này phản ánh sự khủng khoảng trong nhận thức về nguồn gốc dân tộc Việt của giới sử học Việt Nam và thế giới.

5. VIỆT LÝ TỐ NGUYÊN

Một sử gia khác, Giáo sư Lương Kim Ðịnh tổng hợp từ nhiều nguồn tài liệu cho rằng tiền sử người Việt chia làm ba thời kỳ:
a. Thời kỳ Thái Sơn
Thời kỳ này người Việt quần tụ ở vùng Thái Sơn thuộc dãy Thân Lĩnh tỉnh Sơn Ðông. Ðây là giai đoạn Tam hoàng gồm: Toại Nhân là vị vua phát minh ra lửa, gọi là Thiên hoàng. Phục Hy hay Nhân hoàng dạy cách chăn nuôi và làm ra bát quái cùng vợ là Nữ Oa coi về thời tiết. Vua cuối cùng là Thần Nông dạy dân trồng lúa nên gọi là Ðịa hoàng.
Sử Tàu ghi Thần Nông truyền được 8 đời, kéo dài 530 năm. Thời kỳ này luôn xảy ra chiến tranh với Hán tộc của Hoàng đế. Trong cuốn Kỳ môn độn giáp đại toàn thư có câu hát “Tích nhật Hoàng đế chiến Si Vưu, Trác Lộc kinh kim vị nhược hưu” (ngày xưa Hoàng đế đánh Si Vưu, cuộc chiến ở Trác Lộc đến nay còn chưa dứt). Sử Tàu ghi trận Trác Lộc nổ ra vào khoảng năm 2600 TCN. Si Vưu là tên xấu người Hán đặt cho Ðế Lai. Trong trận này Ðế Lai bị giết, Hiên Viên thắng, được tôn làm Hoàng đế.

b. Thời kỳ Ngũ Lĩnh
Ðời Viêm đế thứ ba, vì sức bành trướng của Hoa tộc, Ðế Minh truyền ngôi cho con là Ðế Nghi rồi đem một số bộ lạc Miêu và Thái đi xuống vùng năm hồ năm núi. Ðấy là cuộc Nam tiến thứ nhất lập ra nước Xích Quỷ gồm ba hệ:
Hệ Âu Việt (Thái) ở Tứ Xuyên, Quý Châu, Vân Nam, Miến Ðiện.
Hệ Miêu Việt : ở giữa thuộc các tỉnh Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tây.
Hệ Lạc Việt ở Chiết Giang, Phúc Kiến, Quảng Ðông, Quảng Tây, Bắc Việt, Trung Việt.

c. Thời đại Phong châu lập ra nước Văn Lang.(7)
Trong Cơ cấu Việt nho, tác giả Kim Ðịnh dẫn sử gia Tàu là Vương Ðồng Linh trong cuốn Trung Quốc dân tộc học:
“Sau bốn lần băng tuyết, những người sống sót trú trên rặng núi Thiên Sơn. Sau đó nhóm người này tỏa ra phía Tây làm dân da trắng, nhóm người tỏa ra phía Ðông làm dân da vàng. Nhóm người này chia làm hai ngả: Thiên Sơn bắc lộ gồm Mãn, Mông, Hồi. Một theo Thiên Sơn Nam lộ gồm Miêu, Hoa, Tạng. Trong đó Tạng là Anhđônê, Mã Lai Á, Nam Dương, Cao Mên, Chàm. Hoa là Hán tộc sau này. Miêu là Tam Miêu, Bách Việt trong đó có Âu Việt (Miên, Thái, Lào), Miêu Việt (Mèo, Mán), Lạc Việt (Việt Nam, Mường)
Cuốn thứ hai là Trung Quốc thông sử của Chu Cốc Thành cho thấy Viêm Việt đã vào nước Tàu trước theo ngọn sông Dương Tử. Thoạt kỳ thủy chiếm 7 tỉnh Trường Giang rồi tỏa lên Bắc chiếm 6 tỉnh Hoàng Hà, cũng như tỏa xuống mạn nam chiếm 5 tỉnh Việt Giang, vị chi là 18 tỉnh. Vì thế khi người Hoa vào thì Viêm Việt đã cư ngụ rải rác khắp nước Tàu, là vì Hoa tộc tuy cũng theo Thiên Sơn Nam lộ nhưng nấn ná ở lại vùng Tân Cương thuộc Thanh Hải lúc bấy giờ còn là phúc địa, mãi sau mới theo ngọn sông Hoàng Hà vào chiếm 6 tỉnh miền bắc rồi dần dần lan tỏa xuống miền nam đẩy lui Viêm Việt.

Bản đồ Cửu Châu thời vua Vũ (theo Kim Định)

Ông cũng dẫn tư liệu của các học giả Âu Mỹ như Eberhard và Eickstedt trong cuốn Han chinese expansion in South China của Gs Harold Wiens Ðại học Yale Hoa Kỳ cho rằng Viêm Việt đã vào nước Tàu trước, theo ngọn sông Dương Tử miền nước Ba và Thục.(8)
Tuy vẫn theo quan điểm chính thống là người Việt phát tích từ Tây Tạng nhưng đồng thời Kim Ðịnh không loại bỏ những truyền thuyết cùng huyền sử. Ông có công giải mã truyền thuyết cùng huyền sử cho ta thấy từng bước rõ hơn về cội nguồn dân tộc. Tuy còn nhiều hạn chế nhưng công trình của Kim Ðịnh đưa ta tới gần nguồn cội hơn.

6. NGUỒN GỐC MÃ LAI CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM.

Năm 1971, nhà văn Bình Nguyên Lộc cho ra cuốn “Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam” do Lá Bối ấn hành. Ðây là công trình khảo cứu công phu, tập hợp nhiều bằng chứng gần gũi về nhân chủng và ngôn ngữ giữa người Mã Lai và người Việt. Trên cơ sở đó tác giả cho rằng tổ tiên người Việt là người Mã Lai từ ngoài khơi Ðông Nam Á di cư lên. Giả thuyết của Bình Nguyên Lộc bên cạnh những chứng lý khá thuyết phục về sự tương đồng giữa hình thái người cùng ngôn ngữ nhưng lại không giải thích được những vấn đề mấu chốt khác như nghề đúc đồng ở Việt Nam vì sao lại sớm và tinh xảo hơn ở Mã Lai cùng nhiều di tích khảo cổ ở Việt Nam có tuổi sớm hơn ở “chính gốc”. Mặt khác, dù có đưa ra nhiều bằng chứng về sự tương đồng thì thuyết của Bình Nguyên Lộc không thuyết phục được đông đảo trí thức cùng dân chúng. Có một lẽ sâu xa trong tâm thức, người Việt thấy mình xa lạ với Mã Lai và khó lòng chấp nhận một ông tổ da ngăm tóc quăn từ phương Nam lên.
Như sẽ chứng minh sau rằng, thuyết của Bình Nguyên Lộc là sự giải thích ngược, lấy ngọn làm gốc. Tuy vậy, sự tìm tòi của ông cung cấp những bằng chứng về người Mã Lai và người Việt gần gũi nhau, giúp cho người đọc dễ nhận ra nguồn gốc chung giữa hai dân tộc.

Nhìn một cách khái quát, cho đến cuối thế kỷ XX, tuy đã tích lũy được nhiều tư liệu về khảo cổ, nhân chủng, xã hội, ngôn ngữ, lịch sử học… nhưng việc tìm hiểu cội nguồn người Á Ðông hầu như dẫm chân tại chỗ trong sự thống trị của thuyết do E. Aymonier đề xuất: người Á Ðông hiện đại trong đó có người Việt là từ Trung Ðông di cư tới theo ngả Tây Tạng. Nhiều đại học danh tiếng nước Mỹ cũng ăn theo quan niệm này. Thuyết của Aymonier nghe chừng hợp lý vì có thể giải thích được nhiều vấn đề của tiền sử Ðông Á nhưng trong đó cũng bộc lộ không ít mâu thuẫn và bất cập, nhất là khi văn hóa Hòa Bình được phát hiện, cho thấy tuổi khảo cổ của người Hòa Bình già hơn những di chỉ sớm nhất ở phương Bắc, đồng thời đấy cũng là trung tâm nông nghiệp sớm vào bậc nhất thế giới.
Nay nhìn lại những cuốn sử đã có, ta có thể nhận ra rằng, những bằng chứng tích tụ được đã đủ để đi tới một kết luận chính xác khoa học về tiền sử Á Ðông. Tuy nhiên một kết luận như vậy chưa xuất hiện chính vì việc giải mã những chứng cứ đã có không được chính xác đẫn tới mâu thuẫn rồi triệt tiêu lẫn nhau. Ðiều này nói lên sự khủng hoảng của khoa học nhân văn: những phương pháp, những công cụ hiện có trở nên bất lực trước việc giải quyết rốt ráo vấn đề mấu chốt nhất của lịch sử. Một cách hình tượng, ta có thể ví những thành quả của khảo cổ học, nhân chủng học, ngôn ngữ, xã hội học… như những mạt sắt nằm tản mạn trên trang giấy lẫn cùng vô vàn cát sỏi, cần một cây đũa thần chọn lọc sắp xếp chúng lại theo một trật tự hợp lý. Trong khoa học tự nhiên, cây đũa thần ấy là thanh nam châm. Còn trong khoa học nhân văn, cây đũa thần ở đây chính là công nghệ gene một phát minh quan trọng được áp dụng vào lĩnh vực nhân chủng học ở những năm cuối của thế kỷ trước.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s