Khải Nguyên: NHỮNG NẺO ĐƯỜNG QUÊ VIỆT (tiếp theo)

HOÀ BÌNH, BẤT CHỢT…
Đường tới xứ Mường
Từ Hải Phòng đi Hoà Bình có thể ngồi xe khách đến thẳng hoặc chuyển xe ở Hà Đông. Xe sẵn, song sự bất tiện cũng sẵn. Xe có thể dừng bắt khách dọc đường bất cứ lúc nào, và lèn bao nhiêu cũng được. Xe có thể ghé bốc hàng hẹn trước, lâu hay mau khách chớ nên sốt ruột. Các bao hàng, thùng hàng chất đầy gầm ghế, choán cả khoảng trống trên sàn giữa hai ghế. “Tôi không thể đặt chân được nữa đây này!” – một hành khách than. “Cháu chịu. Cô thông cảm” – phụ xe thản nhiên nói. Chủ xe, nhiều người ở nông thôn vươn ra kinh doanh, kéo theo cả những người thân quen dây rợ làm ăn, buôn bán thuận tuyến đường, các hành khách ngoại lai chớ mơ làm thượng đế. Một người vẫy xe dừng lại đàng hoàng bước lên, đàng hoàng “kêu gọi” chơi bài ăn tiền, có mấy tay (cò mồi) ngồi sẵn trên xe hưởng ứng. “Hành nghề” xong, chúng lần lượt đàng hoàng xuống xe. Chẳng thấy trả tiền đi xe. Một hành khách hỏi: “Cờ bạc bịp công khai vậy à?”. Lái xe “vô tư” nói: “Bọn cháu không biết. Việc ai nấy làm (!)”.
Xe qua cầu Chương Dương vòng phía nam Hà Nội né sự ùn tắc giao thông ở nội thành để đến Hà Đông (Hà Đông nhưng lại nằm ở tây nam Hà Nội). Xe đi vào vùng nông thôn xưa, nay lổ đổ phố xá. Sông Kim Ngưu bé như một dòng kênh từ ven đô chảy đến đã được thanh lọc mùi xú uế đi rất nhiều, song “trâu vàng” có hiện về chắc chẳng dám bơi lội; dẫu sao cũng có thể dạo hai bên bờ giờ đã được kè đá, có đường nhựa chạy song song và các cầu bắc ngang sông. Mong rằng nơi đây sẽ đô thị hoá một cách có qui hoạch, không để à uôm…

Thị xã Hà Đông xưa, cái thị xã tỉnh lẻ nhỏ hẹp nhưng êm đềm, thơ mộng, nay không còn. Một đô thị đang phình ra, bề rộng và bề cao, dân số và xe cộ,… thay vào. Ngày trước, người đẹp “đất Hà Đông” của thi sĩ Nguyễn Bính sau “ba năm (chàng) trở lại” mà “Người cũ cô Oanh má vẫn hồng / Tóc vẫn bỏ lơi, da vẫn trắng / vẫn nhìn thiên hạ lướt qua song”. Ngày nay, những “cô Oanh” hiện đại hẳn ít ai “tóc vẫn bỏ lơi”, cũng ít ai chịu cứ ngồi “nhìn thiên hạ lướt qua song”. Thường thì có thể bắt gặp các cô tóc tai, áo quần đủ “mốt” phóng xe trên các đại lộ thênh thang của thị xã mà cách nay mới hơn chục năm khó hình dung được. Cái tấp nập của phố phường Hà Đông nay, nhất là cái xô bồ, nhộn nhạo, không là đất cho hồn thơ Nguyễn Bính.
Chặng đường số 6 từ Hà Đông đi Hoà Bình xưa nhỏ hẹp, khấp khểnh, song đi giữa ruộng đồng, núi đồi phóng khoáng; nay rộng rãi, phẳng phiu, hai bên nhiều đoạn san sát nhà cửa đua nhau phô cái lộn xộn phố phường tự phát. Thay vì thưởng thức cảnh quan, hít thở hương rừng, gió nội, du khách lại được “hưởng” bụi và tiếng ồn. Đoạn gần thị xã Hoà Bình không còn âm u, song lại hiếm đi nét hoang sơ làm dịu tâm hồn người.

Thị xã vắt ngang sông Đà
Thị xã Hoà Bình thời thuộc Pháp lèo tèo, heo hút, vắng lạnh. Thơ thới hồi sau Cách mạng tháng Tám. Rồi nhộn nhạo, lơ láo và đầy bất trắc khi quân Pháp trở lại chiếm đóng. Giữa thế kỉ trước, tôi đã đi đò đêm vượt sông Đà tại thị xã này. Thị xã nằm phía tả ngạn, tan hoang, im lìm, tối thui, không một bóng người. Giặc Pháp vừa rút chạy ít lâu sau khi thua to ở biên giới phía Bắc. Phía hữu ngạn là Phương Lâm, lèo tèo mấy quán hàng bằng tranh tre, đèn dầu leo lét. Nhiều người mắc màn cá nhân ngủ ngoài trời, thậm chí nằm suông, không màn, không chăn. Cán bộ, bộ đội đi công tác với ba lô, túi xách; dân buôn với tay nải, quang gánh. Chẳng đông, vài mươi người, khách và chủ. Trong một quán nước, một anh buôn chuyến đang vui giọng kể lể gì đó. Chủ quán bảo: “Anh hãy trả tiền quà hẵng!” Anh kia ra bộ ngạc nhiên: “Tôi trả rồi mà”. Chủ quán cười mũi: “Anh đưa xấp tiền khoe rồi cất đi, đã trả đâu”. Bên chõng hàng bày hoa quả lặt vặt, một anh chẳng biết là bộ đội hay cán bộ đang ngắm khẩu súng tay của mình. Bà hàng khen: “Khẩu poọc-hoọc đẹp nhỉ!” Anh có súng bỗng nổi sùng: “Súng này mà là súng Tàu à? Nói thế là coi thường tôi”. Người đàn bà thẻn mẻn, chẳng biết sợ hay thẹn. Chợt có tiếng kêu: “Máy bay dấy!”. Mấy ngọn đèn dầu tắt phụt. Chỉ khách vãng lai hơi nhốn nháo tí chút thôi. Tiếng ì ầm nghe xe lắm.

Bây giờ đố tìm ra chút dấu tích gì của thị xã cũ. Chẳng phải chỉ do công trình xây dựng nhà máy thuỷ điện. Hai cuộc chiến tranh, bom đạn Pháp, rồi Mĩ, đã nã xuống cái đô thị nhỏ bé không biết bao lần. Thị xã bây giờ trải rộng ra cả hai bên sông Đà một mặt bằng gấp hàng chục lần thời cũ. Nó cũng lâm vào tình trạng như ở nhiều thị tứ khác của nước ta bung ra ngoài tầm kiểm soát của những người có trách nhiệm và có thẩm quyền. Hoặc họ bất lực, hoặc họ để mặc, hoặc họ không nhìn ra, hoặc họ làm lơ “có lợi”. Nối đôi bờ sông Đà là con đường nhựa rộng men dưới chân đập chắn ngang sông và chiếc cầu bê tông xây chưa lâu phía hạ lưu cách chừng hơn cây số. Đứng trên đồi đặt tượng Hồ Chủ tịch cạnh đập có thể nhìn bao quát một vùng. Hồ thuỷ điện chỉ mở ra một đoạn không dài, có bề rộng của sông Đà mùa lũ to. Ngược lên trên, hồ ngoặt, lượn theo hình sông, thế núi; tầm mắt bị ngăn lại. Mùa lạnh nên ít ai thuê thuyền vãn cảnh hồ. Thật ra, dạo hồ mùa này có cái thú riêng của nó. Tiếc rằng tôi chẳng tìm được “đồng minh”.

Nhà máy thuỷ điện sông Đà là lớn nhất Đông Nam Á loại này, cho tới nay. Khách tham quan có thể vào sâu đường hầm chừng trăm mét đứng ngắm xa một chút phần trên một số tổ hợp máy phát điện đang hoạt động. Chỗ khách đứng nằm sâu trong lòng một quả núi cao vài trăm mét, và dưới mực nước hồ xa. Đường hầm rộng rãi và cao ráo nhưng thở thấy nặng mặc dù hệ thống thông gió vẫn hoạt động tốt. Phía dưới hầm này còn hai đường hầm nữa ở hai dộ sâu khác nhau dành cho các hoạt động kĩ thuật. Việc chuyển đồ án xây dựng nhà máy từ ngoài vào trong lòng núi làm kéo dài thời gian và tốn thêm công của. Nghe nói trong một cuộc họp, kĩ sư Trần Đại Nghĩa, anh hùng lao động trí óc đầu tiên, đã lớn tiếng tuyên bố: “Kẻ nào tham mưu cho Bộ chính trị việc này sẽ phải chịu tội trước lịch sử!”

Vào thăm hầm thuỷ diện hôm đó có một nhóm Việt kiều Mĩ, trong đó có hai vợ chồng với hai đứa con. Người vợ khoảng trung niên, người gọn gàng, dỏng cao, có thể nói là xinh và trẻ. Chị là kĩ sư tin học, lương năm chừng năm chục ngàn đô la Mĩ, nhưng chị nói: “Bọn em chỉ tạm đủ ăn”.
– Lương chị tính ra tiền Việt khoảng bảy, tám trăm triệu. Chắc chị nói khiêm nhường thôi. Chị vừa nghe cô hướng dẫn cho biết đấy: lương tháng của công nhân ở đây bình quân độ triệu rưỡi đồng, lương kĩ sư hai triệu, lương giám đốc bốn triệu; vậy xếp vào mức sống nào đây?
– Nhưng giá sinh hoạt ở Việt Nam rất rẻ; có được nhà riêng không khó. Bọn em có thể nói không bao giờ có được nhà riêng, bởi nhà mua trả dần kéo dài chưa biết đến bao giờ, như một thứ thuê dài hạn. Nếu không may thất nghiệp thì mất nhà. Chồng em cũng là kĩ sư nhưng đang thất nghiệp. Nếu em cũng mất việc nữa …
Người chồng nói: – Hiện nay người ấn Độ và người Sai-na (China = Trung Quốc) sang chiếm chỗ người Việt Nam nhiều lắm.
Hai vợ chồng khoe các con đều biết tiếng Việt. Tôi thử hỏi chuyện, các cháu trả lời trơn tru, tuy rụt rè. Chị vợ nói thêm: “Con gái em là Phật tử nên càng phải rành tiếng Việt”.
– Một số Việt kiều không muốn cho trẻ học tiếng Việt vì sợ sẽ khó nói tốt tiếng Anh. Anh chị nghĩ sao? – Tôi hỏi.
– Không phải thế – Người chồng đáp – Nhiều người lớn lúc mới sang có biết tí tiếng Anh nào đâu mà rồi vẫn thạo.
Những Việt kiều này cũng nhận rằng người Việt hải ngoại không đoàn kết trong làm ăn và trong việc giữ bản sắc dân tộc được như người Tàu và người Do Thái.

Thương nhau đưa đến Hạ Bì – Kim Bôi
Đến thị xã Hoà Bình nói đến tên khu điều dưỡng nước nóng Kim Bôi thì ai cũng biết, nhưng hỏi đến “nội vụ” thì chẳng mấy ai biết. Họ rất ít đến nghỉ tại đấy. Thị xã đến đó cách khoảng ba chục ki-lô-mét, phải vượt dốc Cun, một cái đèo cao cỡ đèo Ngang nhưng khuất khúc hơn. Quá nửa thế kỉ trước con đường đèo này rải đá, len giữa rừng cây, khá nổi tiếng bởi “cọp dốc Cun”. Ngày nay, đường mở rộng hơn và rải nhựa, phơi ra giữa đồi núi trọc.

Khu điều dưỡng nước nóng gọi theo tên huyện (Kim Bôi), song nằm trong làng Ba Mớ, xã Hạ Bì. Một thời, chưa lâu lắm, người ta dọa nhau: “Yêu nhau cho thịt, cho xôi / Ghét nhau đưa đến Kim Bôi – Hạ Bì”. Cứ ngỡ đường vào sẽ nhiêu khê rừng cây, đồi núi, khe suối. Bởi nghĩ ít ra cũng còn phảng phất cái bóng ma rừng thiêng, nước độc của nơi khỉ ho, cò gáy với những con người còm cõi, mặt bủng da chì. Hoá ra là một đoạn đường rộng rãi, phẳng phiu từ đường cái vào chỉ dăm trăm mét. Mấy tay lái xe ôm ở thị xã ra vẻ thật thà sẵn sàng chỉ dẫn, trừ chi tiết trên. Nói là khu điều dưỡng, thậm chí còn tôn lên là khu chữa bệnh, thật ra chỉ có tắm và uống (nước khoáng). Nước nóng gần như lộ thiên. Chỉ khoan qua loa là nước trào lên. Khu điều dưỡng có các bể tắm, bồn tắm trong khuôn viên có tường cao bao quanh. Có hai vòi nước ngoài trời chảy suốt ngày đêm. Mùa có đông khách nghỉ, người ta bán cho khách mang về dùng và làm quà (500đ/lít). Còn thời gian lưu trú tại đó thì uống no miễn phí. Nước rất tinh khiết; cho vào chai mấy tháng không lắng cặn tí nào. Không có mùi diêm sinh như nhiều nguồn nước nóng khác. Đến nghỉ với cái ví tiền không được dầy thì vào một trong hai bể tắm cỡ bể bơi thông thường tha hồ ngâm hoặc vùng vẫy bao lâu cũng được, tất nhiên mỗi lần vào một lần vé (12.000đ/người). Khách rủng rỉnh túi, khách xài tiền “chùa” thì có bồn riêng các loại cho từ 2 người đến 10 người; cao cấp nữa thì bồn tắm có xoa bóp (mát-xa); tính thời gian 60 phút một. Nước chỉ nóng chừng trên 30 độ C. Mùa hè, vậy là thích hợp. Mùa đông, bể nước mặt thoáng rộng tản nhiệt nhanh, nước vẫn liên tục chảy vào bể, song không mạnh, họng nhỏ lại đặt phía trên, nước bổ sung lan toả một vùng hẹp bề mặt trước khi khuếch tán đi. Người vào tắm cảm thấy lành lạnh.

Khu điều dưỡng có nhiều nhà nghỉ các loại. Loại bét nhất cũng 70.000đ/ngày đêm cho một phòng 4 giường cá nhân, không máy thu hình, không điều hoà nhiệt độ, vòi tắm nước lạnh thông thường, loại phòng nghỉ phổ biến vài chục năm về trước. Một người khách đến quầy tiếp tân hỏi giá thuê phòng nghỉ, giá tắm, lắc đầu nói to: “Đắt quá! Xí nghiệp này đã cổ phần hoá chưa? Chưa à. Nên làm gấp đi thôi!” (Làm như là hễ cổ phần hoá xong tự nhiên mọi chuyện sẽ tốt đẹp, giá dịch vụ sẽ hạ, chẳng cần tác động nào khác!).

Mùa lạnh, khách ít, khu nghỉ dưỡng khá yên tĩnh, thoáng đãng (Vào mùa nóng, chắc không được vậy). Nghỉ dưỡng tốt, song chỉ vài ngày, có thể khách sẽ không biết tiêu thì giờ rỗi vào đâu. Xem ra ban điều hành tự bằng lòng với việc sử dụng của trời cho vào dịch vụ tắm và nghỉ thôi. Vào tay một đầu óc làm ăn lớn chắc hẳn đã có một khu công nghiệp không khói tầm cỡ. Công ti nước khoáng Kim Bôi chia một nửa khuôn viên, những tưởng cùng một chủ, té ra là của một tư nhân dưới danh nghĩa chủ tịch hội đồng quản trị kiêm giám đốc. Một tư nhân khác mua đất ngay cạnh đấy của xã Hạ Bì định làm khu du lịch kiêm điều dưỡng. Điều dưỡng, không chỉ tắm nước nóng, còn có tắm bùn và những trị liệu khác. Du lịch, mở ra các hướng cảnh quan, sinh thái, văn hoá; có thể tận dụng các hang động trong rặng núi đá vôi ngay kề đấy. Thời chống chiến tranh phá hoại của Mĩ, những hang này từng được dùng làm hầm trú quân sự và dân sự; nay hơi hướng lịch sử có thể làm đậm thêm chất du lịch. Hiện người ta đang cho làm một con đường ô tô lượn theo thế đất.

Vùng Hạ Bì là vùng người Mường. Người ta nói người Mường là hậu duệ gần gũi nhất của người Việt cổ. Bản sắc của người Việt xưa lưu dấu chủ yếu trong người Mường nay. Đồng bào Mường cư trú nhiều ở Phú Thọ, Thanh Hoá, Sơn La, nhưng đông nhất là ở Hoà Bình. Có người nhận xét rằng các cô gái Mường không trắng bằng các cô gái Thái; điều này còn phải xem đã, chỉ biết xét về mặt xinh tươi, duyên dáng thì chửa biết “mèo nào cắn mỉu nào”, – so với các cô gái Kinh thì cũng vậy.

Dạo quanh Hạ Bì một đỗi chỉ thấy mỗi nhà sàn, còn lại là nhà trệt xây gạch hoặc đắp đất. Đường làng dốc lên dốc xuống nhưng khá rộng, không quá vắng lặng như nhiều làng miền xuôi; xe máy chẳng phải là của hiếm. Cách nay bảy năm, gần cả làng đói nghèo, nhiều khi ăn khoai trừ bữa. Không ít người bỏ đi đào vàng, kiếm tạm đủ ăn nhưng lê lết “không ra người”. Nay thì dân đã có ba bữa cơm. Hỏi: Làm sao mà giờ khá lên? Đáp: nhờ có chỗ làm thuê. Làm thuê dịch vụ, làm thuê xây dựng, làm thuê đắp đường, làm thuê nghề rừng. “Giao rừng cho dân, người nhận rừng đời sống lên, nhưng rừng vẫn cứ kiệt. Đấy! con suối kia trước chảy tồ tồ suốt năm, bây giờ vào mùa này chỉ chảy rí rách; cánh đồng trước nhà này vốn lầy lội, trâu bước còn khó, giờ để trồng màu. Vì sao rừng kiệt á? Vì khai thác nhiều. Rừng giao cho “tôi”, tôi đầu tư nhiều triệu đồng rồi thì tôi có quyền gọi người mang xe đến bán gỗ cho, hết gỗ đến củi. Có trồng mới nhưng không xuể. Chỉ cần vài năm là cho củi, bán được rồi; làm gì còn rừng cho ra rừng! Lại còn vì người này vào trộm của rừng người kia. Lệ cấm những ai không nhận rừng không được bén mảng vào rừng, còn đã là chủ rừng thì tự do đi đâu cũng được do vậy khó canh giữ. Thế nên giao rừng phóng tay như vậy là không ổn. Phải có cơ chế và chính sách hợp lí, cụ thể; phải có sự giám sát chặt chẽ”. Những điều trên do một người dân Hạ Bì cho biết. Người đàn ông Mường 60 tuổi này sống trong một ngôi nhà gạch lợp ngói. Ông ngồi bên một khay ấm chén pha chè và một cái điếu cày, phong thái như một lão nông dưới xuôi. Ông bảo nhà có trồng lúa, ngô, khoai, rau; các con cho tháng vài triệu đồng; đời sống cũng được. Ông có bảy người con. Một người con trai làm ở khách sạn trên tỉnh. Hai người con gái trông trẻ tại một bệnh viện ở Hà Nội. “Chồng con gái lớn nhà tôi người Hà Nội lên đây công tác, thấy tốt tôi cho làm rể. Về sau không tốt đâm ra rượu chè, tôi cho li thân; vẫn không sửa, cho li hôn luôn. Có đứa con 7 tuổi để vợ chồng tôi nuôi. Tôi vẫn để cho nó đến thăm con nhưng không cho biết nơi vợ nó làm”. Vậy là một người ở Hà Nội lên miền ngược, một người ở Hạ Bì về thủ đô. Họ đã gặp nhau rồi lại chia lìa theo hai hướng ngược chiều. Con đường định làm cho khu du lịch tương lai đi sát ngay trước nhà ông. “Họ muốn mua một phần đất của tôi nhưng tôi không bán. Bán vậy, mất một phần nhà rồi thì hỏng luôn phần nhà còn lại. Vả lại, rẻ, chẳng bõ. Phải đâu đất của Nhà nước, họ cứ tự ý “làm” với nhau, dân chẳng ai được biết”. Có một số nhà dân sẵn sàng bán cho người ta phá đi làm đường hoặc xây dựng gì đó. Ấy là những nhà của công thời sơ tán tránh bom đạn Mĩ về sau cấp cho dân, có sổ đỏ hẳn hoi. Có ý kiến bảo không được bán, nhưng rồi huyện cũng phải chứng nhận cho bán.

Dân Hạ Bì cũng biết xài nguồn nước nóng ngầm. Người ta làm một số nhà tắm công cộng; chỉ là hai buồng tắm bằng gạch ngói sơ sài, nam riêng, nữ riêng; mỗi phòng có một vòi nước chảy liên tục. Ngày ngày dân làng đến tắm miễn phí. Người nơi khác đến phải trả 1.000đ/lần.
Không xa, sát ngay sau khu điều dưỡng có nhà tắm nước nóng của tư nhân với giá 10.000đ và 20.000đ/người/lần. Thấy nói cũng khá đông khách vì có gái “giúp tắm” (!). Buồn thay! và khốn thay! Ở nơi heo hút như thế này, với loại hoạt động cho sự sạch sẽ như thế này mà thứ dịch vụ “văn minh” phố phường kia cũng thò vòi đến được.
Cả làng Ba Mớ chỉ còn 20 hộ nghèo, được nhà nước trợ cấp 2 hoặc 3 triệu đồng mỗi năm. “Họ sẵn tiền trợ cấp nên ăn sang hơn những người không thuộc diện nghèo. Họ chẳng thích làm gì cho khá lên”. Mới thấm thía lời khuyên: “Cho cần câu và bảo cách câu cá tốt hơn mà cũng khó hơn là cho cá”. Cho cá ít tốn công sức và không cần nhiều tâm đức, mà dễ được tiếng.
Ngày nay, đưa nhau đến Kim Bôi – Hạ Bì chắc chắn chẳng là ghét nhau. Đang mùa rét. Một chiếc xe chở dăm chục cán bộ, công nhân viên một nhà máy đến nghỉ một tuần. Một cặp vợ chồng đến nghỉ kì trăng mật. Rải rác ngày nào khu điều dưỡng cũng có khách. Tất nhiên là nhờ nguồn nước nóng. Nhưng có phải đến bây giờ mới tìm ra đâu!

Trên đường từ Kim Bôi về Hoà Bình, phía bên này dốc Cun mới có một khu du lịch sinh thái với hàng loạt vườn cây ăn quả mới trồng, nghe nói của tư nhân liên doanh với người nước ngoài. Chưa chính thức khai trương, song cũng nghe nói là đã thu hút du khách ngoại quốc. Cũng nghe nói nữa: giá cõi du này chẳng “mềm”, riêng vé vào cửa đã 97.000đ (chẳng hiểu sao lại ra con số không gọn thế?).
Bản đồ tỉnh Hoà Bình chi chít những điểm du lịch, nhưng phần lớn ở dạng tiềm năng hoặc khai thác cái sẵn có là chủ yếu. Cần thiết phải được qui hoạch hợp lí và khả thi với tầm nhìn rộng và xa đã dành, còn cần chú ý đến phương tiện đi lại. Ngay khu vực đập thuỷ điện, khách vãng lai hoặc khách đi lẻ kiểu “Tây ba lô” muốn chiêm ngưỡng cảnh trí phải lụy rất nhiều cánh xe ôm. Mà các “vị” này thì có nhiều mánh lắm để moi tiền khách, kể cả khi đã thoả thuận trước rồi; họ còn ra hiệu cho nhau kéo đến gây sức ép “hội đồng”. Phải chi địa phương chủ trương những tuyến xe buýt chu du hai bên thị xã, trên đập, trên đồi, ven hồ, và có thể vươn xa hơn nữa, do cơ quan du lịch đảm đương hoặc cho tư nhân thầu, v.v…

Đến Hoà Bình, khách xa muốn được ngắm cảnh quan kì thú, thiên tạo và nhân tạo, muốn được tắm nước thiên nhiên và không khí trong lành, muốn được thưởng thức văn hoá dân tộc, đặc biệt là của dân tộc Mường. Mấy cô gái Mường tôi gặp cứ ngỡ là người Kinh, do trang phục và cách nói năng của họ; còn mấy cô ngỡ là người Mường thì lại là người dưới xuôi chính cống đổi lốt. Chẳng biết nên vui hay nên buồn?

[H.P., đầu năm 2005]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s