Trần Đan Hà – QUÊ HƯƠNG

Mấy năm gần đây, trước cơn khủng hoảng về việc tranh chấp biển Đông, cũng như biên giới Việt – Trung, đã khiến cho thế giới quan tâm đến tình hình nóng bỏng nầy. Trải qua những việc bắt nguồn từ ngoại xâm và nội thù, chính quyền Việt Nam hiện tại phải gặp một cái thế chông chênh, từ ý thức hệ đến việc đối nội cũng như đối ngoại. Từ những áp lực của ngoại bang mà không sao tránh khỏi sự mâu thuẩn, khi phải đối đầu với những thế lực vượt khỏi sức của mình, để rồi từ đó nhà nước Việt Nam buộc lòng phải nhượng bộ bằng cách để cho ngoại bang vào hợp đồng khai thác tài nguyên của đất Mẹ. Khiến cho Quê Hương Việt Nam đã phải trải qua quá nhiều những cảnh đau thương như chiến tranh, thiên tai, bây giờ thêm việc khai thác tài nguyên làm ảnh hưởng đến môi trường.

Và cũng từ đó, đồng bào hải ngoại, những người đang sống xa Quê hương luôn thao thức với tình hình của đất nước hiện tại. Một đất nước đang bị các cường quốc bao vây, áp đặt những công thức không thể phù hợp với lối suy nghĩ và nếp sống của người dân Việt Nam, nhưng đành phải cam chịu, chính quyền phải lúng túng và lo ngại :“ngoảnh mặt sang Tề e Sở giận, quay đầu về Sở, sợ Tề ghen”!

Sự trăn trở với bao nhiêu điều phi lý ấy, là một tấm lòng nhân bản đối với Quê hương và Dân tộc. Những sự kiện làm tổn hại đến Quê hương dĩ nhiên cần phải có những phản kháng tích cực. Nhưng rất tiếc trong tất cả những cuộc phản kháng ấy, không có một tổ chức để hướng dẫn phong trào. Thành ra việc phản kháng như đang đối đầu với hư không, hay tạo nên những hiện tượng hỏa mù để không biết đâu là thật, đâu là giả. Vì thực tế Nhà nước Việt Nam không thể tự mình quyết định mọi vấn đề của Quốc gia, mà một phần nào đó phải tùy thuộc vào các thế lực ngoại bang. Đây là mấu chốt của sự phản kháng của Đồng bào trong cũng như hải ngoại.

 

Đã không tự chủ được thì dĩ nhiên mọi quyết định về việc bảo vệ chủ quyền Quốc gia đều bị hạn chế. Sự hạn chế ấy khiến cho chính quyền Việt Nam phải phân vân, không bao giờ tìm ra định hướng. Vì hướng nào cũng bị ràng buộc với những luật lệ “bất thành văn” nhưng phải chấp hành. Khi đã chấp hành những sự kiện như thế, thì dĩ nhiên có việc sẽ đi sai với pháp luật hiện hành.

Ví dụ như việc tố cáo cựu Thủ Tướng của Đảng Cộng Sản Việt Nam trước đây đã ký công hàm bán quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa cho Trung Cộng (còn nhiều sự kiện nữa, nhưng đây là vấn nạn được nghe nhiều nhất mỗi lần nhắc đến việc tranh chấp về biển đảo). Thậm chí có người lại khóc than rằng, thế là hết nước Việt Nam đã bị Hán hóa, sắp sửa xóa tên Việt Nam trên bản đồ Quốc tế… Đây là mẫu tin gây hoang mang không ít đối với người dân từ trong nước lẫn hải ngoại.

Nhưng theo lập luận của một nhóm Luật Sư Quốc tế đại diện cho Việt Nam thì họ lại cho rằng, Luật Biển Đảo của Quốc Tế đã ban hành, và mọi Quốc gia trực thuộc của Liên Hiệp Quốc phải chấp hành. Đại khái một vài điều luật như là: “Mỗi Quốc gia đều có sở hữu chủ một thềm lục địa tính từ đất liền thẳng ra biển khơi là 200 hải lý. Quốc gia nào muốn làm sở hữu chủ một hòn đảo ở ngoài khơi, thì cần phải hội đủ những điều kiện như phải có cư dân của Quốc gia ấy sinh sống nơi hòn đảo nầy trên 500 năm, và chính quyền phải quản lý về hành chánh cũng như phải bảo vệ cư dân trên đảo”.

Chỉ với hai điều luật nầy, thì Trung Quốc không có một hòn đảo nào ngoài biển Đông mà họ có thể làm sở hữu chủ được cả. Nếu đưa nội vụ ra tòa án Quốc tế thì Trung Quốc sẽ thua kiện. Nhưng vì Trung Quốc là một thành viên thường trực của Liên Hiệp Quốc, nên họ có quyền phủ nhận đơn kiện. Vì thế cho nên việc tranh chấp vẫn kéo dài, vì không có trọng tài phân xử mà ở đây họ chỉ dùng thế mạnh để hiếp yếu.

Còn về phía Việt Nam, ngoài những hòn đảo nằm trong thềm lục địa của mình cũng như những hòn đảo đã có cư dân Việt Nam sinh sống từ xưa, như các đảo Cù Lao Ré, Cù Lao Chàm, đảo Lý Sơn thuộc Hoàng Sa…, có sự quản lý của nhà nước thì hiện nay vẫn còn chủ quyền của Việt Nam. Còn những hòn đảo hoang ngoài khơi là thuộc về quyền sở hữu của Quốc tế. Như vậy thì Nhà nước Việt Nam lấy tư cách gì để “Bán quần đảo Hoàng-Trường Sa cho Trung Cộng”?

Hay chuyện Biên giới, theo tin tức từ trước đến nay vẫn cho rằng: “Chính quyền Cộng sản Việt Nam đã cắt đất dâng cho Trung cộng, đặc biệt là thác Bản Giốc thuộc tỉnh Cao Bằng”.

Nhưng theo Mai Thái Lãnh thì, Trung Quốc đã âm mưu xâm chiếm thác Bản Giốc từ giữa thập niên 50 với những giai đoạn: “1 Sửa bản đồ” Năm 1955-1956 Việt Nam đã nhờ Trung Quốc in lại bản đồ nước Việt Nam tỷ lệ 1/100.000. Lợi dụng lòng tin của Việt Nam họ đã sửa ký hiệu một số đoạn đường biên giới dịch về phía Việt Nam, biến vùng đất Việt Nam thành đất của Trung Quốc. Thí dụ họ sửa khu vực thác Bản Giốc (mốc 53) thuộc tỉnh Cao Bằng nơi họ định chiếm một phần thác Bản Giốc và cồn Pò Thoong (trích từ bản “bị vong lục”  hay còn gọi là giác thư memorandum) do Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố năm 1979) chính vì việc sửa bản đồ của Trung Quốc với ý đồ không tốt, là lý do khiến cho phía Việt Nam không dám công bố bản đồ của mình !

Giai đoạn 2 Thực hành việc lấn chiếm: Theo lời tố cáo của Bộ Ngoại giao của Việt Nam thì phía Trung Quốc đã huy động 2000 người kể cả lực lượng vũ trang lập thành hàng rào bố phòng dày dặc bao quanh toàn bộ khu vực thác Bản Giốc thuộc lãnh thổ Việt Nam. Họ cho công nhân cấp tốc xây dựng một đập kiên cố bằng bê tông cốt sắt ngang qua nhánh sông biên giới, làm việc đã rồi và ngang nhiên nhận cồn nầy là của Trung Quốc !

Như vậy về vấn đề biển đảo cũng như biên giới, phía Trung Quốc đã có âm mưu chiếm đoạt từ trước. Nhưng phải đợi đến khi “Mỹ bật đèn xanh” thì Trung Quốc mới ngang nhiên xua quân vào chiếm quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào năm 1974, khi ấy là thuộc về chủ quyền của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa tại miền Nam. (Như lời xác nhận của Thủ Tướng Việt Nam trước Quốc Hội vừa qua). Nhưng Trung Quốc chưa hội đủ điều kiện của Quốc Tế để làm chủ quyền hai quần đảo nầy, thế nên việc tranh chấp vẫn kéo dài.  

Trích những bằng chứng tranh chấp biển đảo cũng như biên giới Việt – Trung, không phải với mục đích bênh vực cho chính quyền Việt Nam, cũng không phải khơi dậy phong trào phản kháng đối với việc tranh chấp biển Đông. Mà đây chỉ nêu lên một vài bằng chứng như những tư liệu đáng tin cậy để chúng ta có quan niệm dung hòa vấn đề. Vì tâm lý chung của những người đấu tranh, thì có thể họ vừa muốn chống lại những âm mưu của Trung Quốc xâm chiếm Việt Nam, đồng thời cũng muốn giải thể chế độ độc tài Cộng sản Việt Nam.   

Còn nói về Quê Hương Việt Nam thì muôn đời vẫn còn đó, vì Quê hương là duyên hợp từ Đất Nước Gió Lửa. Tứ đại đã sinh ra và nuôi dưỡng vạn vật trong đó có con người, nhưng mỗi xứ sở lại sinh sản ra những con người khác biệt nhau. Như bản sắc của người Việt Nam là da vàng, mủi tẹt, tóc đen. Và một huyền thoại sinh ra từ một Mẹ nở trăm con, nên chúng ta gọi nhau là “Đồng Bào” cũng còn mang một ý niệm là “Yêu Thương” : Nhiễu điều phủ lấy giá gương. Người trong một nước phải thương nhau cùng (ca dao). Đó là một trong những nét đặc tính của người Việt Nam.

Với tình nghĩa ấy nên Quê Hương Việt Nam được mang một ý niệm về Yêu Thương. Tình tự yêu thương làm nên nhung nhớ. Mình yêu một người nào thì dĩ nhiên luôn nhớ nghĩ đến người ấy, mình thương những người kém may mắn, thiếu tình thương thì mình muốn chia sẻ với họ, đó là “Tính Nhân Bản”. Tính nhân bản ấy luôn chảy trong dòng huyết quản của chúng ta, là chất liệu luôn nuôi dưỡng họ lớn lên và duy trì bản sắc của người Việt Nam, dẫu hiện tại họ đang sống ly hương.

Còn những người họ không muốn đối đãi với nhau bằng tình tự “Yêu Thương”, họ không xem “ Đồng Bào” của họ là tình ruột thịt thì những người ấy là những kẻ “Vong Bản” mặc dù họ đang sống trên quê hương của họ. Nếu ý niệm nầy là đúng thì những kẻ vong bản ấy không có bổn phận và trách nhiệm đối với Quê hương. Những người không có trách nhiệm thì đương nhiên họ cũng không xứng đáng tham gia vào quần chúng xã hội để bảo tồn và phát huy đất nước. Họ không có chổ đứng trong lòng dân tộc, vì họ tự đánh mất bản sắc Văn hóa của dân tộc.

Quê Hương là một nguồn năng lượng vô tận để nuôi dưỡng con người, chứ không phải là sản phẩm do con người làm ra. Vì thế con người không bao giờ có thể “bắt giữ Quê Hương” làm con tin để trao đổi với những đối tượng thế lực. Càng không thể sử dụng Quê hương làm vật để buôn bán hay đổi chác. Vì Quê hương làm nên con người, chứ không phải con người làm nên Quê hương.

Cho dù con người có sử dụng biểu tượng nào để tượng trưng cho Quê hương, thì Quê hương luôn luôn vẫn là Quê hương. Vì biểu tượng chỉ là một phần rất nhỏ của Quê hương, là một hình ảnh tiêu biểu có thể khiến cho người ta nhớ đến Quê hương mỗi khi đi xa. Chứ bản chất của vật thể làm biểu tượng ấy không bao giờ có thể đại diện hay thay thế cho Quê hương được.

Và cũng gần đây, sau khi thi sĩ Đổ Trung Quân sáng tác bài thơ Quê Hương, thì cũng có không biết bao nhiêu người Việt hải ngoại tranh luận về bài thơ nầy. Có người thì cho rằng “Chùm Khế Ngọt” là biểu tượng trung thực nhất đối với Quê hương Việt Nam. Vì khế là một loại cây ăn trái được trồng khắp tất cả ba miền đất nước, và là loại cây đặc thù của đất Việt. Nên nó ghi được dấu ấn vào lòng mọi người. Còn những biểu tượng khác trong bài thơ như : đường đi học, con diều biếc, con đò nhỏ, cầu tre nhỏ, đêm trăng tỏ, … không mấy ấn tượng cho bằng !

Tuy nhiên tất cả phải được dung hòa với nhau, trộn lẫn với nhau mới làm nên bài thơ Quê Hương. Bài thơ nầy được nhạc sĩ Giáp Văn Thạch phổ thành ca khúc lấy câu đầu của bài thơ làm tựa đề: “Quê Hương Là Chùm Khế Ngọt”. Khi nghe bản nhạc nầy, người thì cho rằng có nhiều điều gợi nhớ đến tuổi thơ, và nơi chốn mà chúng ta được sinh ra và lớn lên với biết bao nhiêu kỷ niệm. Nhưng có người thì cảm thấy khó chịu với hai câu kết: “Quê hương nếu ai không nhớ. Sẽ không lớn nổi thành người”. Vì cho rằng nội dung của hai câu nầy là “trơ trẻn, hổn xược khiến người nghe phải hụt hẩng…” !

Dĩ nhiên đây là cảm nhận riêng của mỗi người, vì quan niệm của con người đối với Văn học Nghệ thuật thì không đồng. Người thì “Nghệ thuật vị Nghệ thuật” lại có người thì “Nghệ thuật vị Nhân sinh”… Đối với những người vị nghệ thuật thì cho rằng, hai câu thơ cuối của bài thơ là hai câu thơ hay nhất. Vì nó đã diễn tả đúng với trạng thái tâm lý của những người ly hương. Nó đáp ứng được cảm quan thấm thấu để nuôi dưỡng và thúc đẩy nhịp đập của con tim hòa điệu với nỗi nhớ về Quê hương, mà không bị một ý thức hệ nào cản ngăn, không bị một thế lực nào sử dụng Quê hương như một con tin để trao đổi. Còn đối với người vị nhân sinh thì cho rằng nhà nước Việt Nam là độc tài đảng trị, không đem lại cho người dân hòa bình hạnh phúc, cơm no áo ấm, nên cần phải phản kháng bằng cách “cấm vận” thì cho rằng hai câu thơ cuối bài là “tuyên truyền” làm lợi cho nhà nước Việt Nam. Là lời chiêu dụ người Việt tha hương phải đem về cho họ những lợi lộc để nuôi họ.

Nhưng dù sao đi nữa, Văn học vị Nghệ thuật hay Văn học vị Nhân sinh, thì quan niệm về Quê Hương luôn vẫn là Quê hương. Quê hương là chất liệu để nuôi dưỡng con người, vì con người sinh ra và lớn lên trong vòng tay Quê hương, nếu chúng ta chối bỏ tình nghĩa của Quê hương, thì dĩ nhiên không bao giờ sẽ trưởng thành. Lại nữa con người Việt Nam được sinh ra bằng huyền thoại đậm nét về tình tự “Yêu Thương” mà yêu thương làm nên nỗi nhớ, thì hai câu thơ : “Quê hương nếu ai không nhớ. Sẽ không lớn nổi thành người”. Là phù hợp với tình cảm của người Việt xa xứ đối với Quê hương. Là nhắc nhỡ cho mọi người đều biết rằng, tình tự Quê hương luôn tuôn chảy không ngừng trong huyết quản của chúng ta. Nếu chúng ta không cảm nhận được điều ấy, không theo dõi nhịp đập con tim đang thao thức với nỗi nhớ về Quê Hương, thì chắc chắn chúng ta sẽ trở thành “kẻ vong bản” !

Viết đến đây thì tôi như đang mơ hồ chìm lặng trong bóng chiều yên ắng, chợt nhớ lại một buổi chiều năm xưa, một ngày cách nay đã tròn ba mươi năm, ngày 20-02-1982 trên boong của tàu Cap Anamur, trong một buổi văn nghệ để chào mừng chiếc ghe bi thảm của chúng tôi được cứu vớt. Ca sĩ Giao Linh đã cất lên tiếng hát nghe như rất xa xăm, từ trong tiềm thức đang vọng lại, tiếng hát buồn vời vợi đã làm thổn thức biết bao nhiêu con tim, đã làm chùng lòng bao người trong một lần đang lênh đênh, trong một lần phiêu đãng đang đứng nhìn về một Quê hương đã trôi xa hun hút: “ Đêm khuya trăng mơ mắt trông về trong cõi xa mờ. Nơi xa xăm kia tôi say nhìn quê cũ dấu yêu. Ôi tình quê hương nơi chốn xưa có bà mẹ hiền, tóc màu hoa bạc chiều chiều mắt hoen mờ vì con…

 

Hình như đây là tâm thức của những người con xa xứ đang vọng về, đang thổn thức với cõi lòng ngổn ngang giữa những niềm thương nỗi nhớ về một  Quê Hương đã ngàn trùng xa cách.

 

Trần Đan Hà

 

 

 

 

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s