Thu Tứ – CHẾ LAN VIÊN: Nét siêu hình

Giọng rất tha thiết của Chế Lan Viên có lẽ đã làm không ít người đọc bấy giờ đặt nhầm ông vào một chỗ với những Chiêm dân chính hiệu, tưởng nhầm ông rồi sẽ suốt đời làm thơ mơ Chiêm quốc. Nhưng sau Ðiêu tàn, Chế Lan Viên quên hẳn người Chàm!

Trong lời giới thiệu Tuyển tập Chế Lan Viên (1985) Nguyễn Xuân Nam cho biết: “Hàng ngày từ nhà nhìn ra anh đã bắt gặp ngay Tháp Cánh Tiên.”(3) Và những tháp khác, và những bãi tha ma, những di tích Chàm rải rác khắp một vùng Ðồ Bàn cũ

 

* * *

 

Loài ma hiện một lần

Siêu hình không ma

Siêu hình bị hữu hình lấn

Siêu hình kín đáo trở về

Chút nắng xao đầu gió…

 

 

Chế Lan Viên có đôi câu thơ:

“Khi ta ch là nơi đt

Khi ta đi đt đã hóa tâm hn.”

Nội dung bài Tiếng Hát Con Tàu dĩ nhiên chỉ liên hệ với cuộc sống trần gian hiện tại. Ðất là “bản sương giăng” là “đèo mây phủ”, đi là rời bản rời đèo mà về Hà Nội, về xuôi.

 

Thử mở rộng nghĩa cho đất thành toàn thể đất trời, đi thành đi thật xa, xa như lìa bỏ hẳn… trần gian. Mở như thế thì mới chứa đủ tất cả tứ trong sự nghiệp thơ đặc biệt đa dạng của Chế Lan Viên.

Giữa đông đảo tứ ấy, xuất hiện sớm nhất và có “công” làm Chế Lan Viên trở nên nổi tiếng, là tứ ma Hời.

Nhưng ma Hời chẳng qua một biểu hiện cụ thể của cái gì đó nằm sâu kín trong tâm hồn nhà thơ…

Loài ma hiện một lần

 

Ðiêu tàn (1937) vừa xuất hiện đã gây chấn động.

 

“Mây chắp lụa dài vây núi biếc

Sương xây mồ bạc giấu trăng vàng

Thuyền ai giỡn nước sông Ngân ấy

Mà để sao sa xuống cõi trần?

Ai đổi đầu lâu trong nấm mộ

Tiếng khua vang rạn khắp đầu ta?

Có ai rên rỉ ngoài thôn lạnh

Như tiếng xương người rên rỉ khô

Mơ rồi! Mơ rồi! Ta mơ rồi!

Xạc xào chỉ có lá vàng rơi

Quanh mình bóng tối mênh mang cả

Thấp thoáng đôi hồi lửa đóm soi”. (Mơ Trăng)

 

Hoài Thanh trầm trồ: “… kinh dị”.(1)

 

Vũ Ngọc Phan lấy làm kinh dị quá, nên để hẳn ra ngoài… thơ.(2)

 

Không chỉ mơ, Chế Lan Viên bảo còn “gặp”:

 

“… Ðây, những tháp gầy mòn vì mong đợi

Những đền xưa đổ nát dưới Thời gian

Những sông vắng lê mình trong bóng tối

Những tượng Chàm lở lói rỉ rên than

Ðây, những cảnh ngàn sâu cây lả ngọn

Muôn ma Hời sờ soạng dắt nhau đi

(…)

Những cảnh ấy trên đường về ta đã gặp

Tháng ngày qua ám ảnh mãi không thôi

Và từ đấy lòng ta luôn tràn ngập

Nỗi buồn thương, nhớ tiếc giống dân Hời.” (Trên Ðường Về)

 

Giọng rất tha thiết của Chế Lan Viên có lẽ đã làm không ít người đọc bấy giờ đặt nhầm ông vào một chỗ với những Chiêm dân chính hiệu, tưởng nhầm ông rồi sẽ suốt đời làm thơ mơ Chiêm quốc. Nhưng sau Ðiêu tàn, Chế Lan Viên quên hẳn người Chàm!

 

Trong lời giới thiệu Tuyển tập Chế Lan Viên (1985) Nguyễn Xuân Nam cho biết: “Hàng ngày từ nhà nhìn ra anh đã bắt gặp ngay Tháp Cánh Tiên.”(3) Và những tháp khác, và những bãi tha ma, những di tích Chàm rải rác khắp một vùng Ðồ Bàn cũ: tất cả hợp lại kích thích dữ dội một tâm trí vừa đặc biệt nhậy bén vừa hình như sẵn chứa thiên hướng về cái siêu hình.

 

Tháp Chàm ma Hời như đã đứng đợi nằm đợi thiếu niên thi sĩ dĩnh ngộ kia. Nhờ tay chàng, chúng hiện được thành thơ, nhưng chỉ duy nhất một lần!

 

Siêu hình không ma

 

Bên ngoài hữu hình, đâu chỉ có ma.

 

Chắc ít người biết vào thời viết Ðiêu tàn, Chế Lan Viên còn say mê tôn giáo: “Mở đầu tôi yêu Chúa. Rồi tôi yêu Phật.”(4)

 

Nhưng nhà thơ trẻ không yêu Chúa như một con chiên ngoan đạo hay yêu Phật như một Phật tử thuần thành, mà ưa chất vấn:

“Ðã triu đi qua, Chúa còn soi bóng

Narcisse muôn năm, trên lòng giếng rng

Ðáy Hư Vô, Người nga mt trông tri

Ta là ai? Người thy đó là ai?” (1937)

 

hoặc đòi “cho xem”:

“Rt nhim màu, ôi Ðng C Mâu Ni!

Xin tng thác tng ngun mau rng m

Lòng thương cao xung lòng con đau kh

Du ch trong mt phút, hãy cho xem

Tri Tây phương tht bo chói trang nghiêm.” (1938)

Yêu Chúa, yêu Phật, nhưng đồng thời nhà thơ cũng bộc lộ thắc mắc… vô thần:

“Lòng hi lòng: Ta rơi xung cõi đi

T cu nào? T thi nào trong vũ tr?” (1937)

 

Thơ triết mà bay mùi khoa học!

Dĩ nhiên chẳng đấng nào chịu hồi âm:

“Tri thăm thm! Li van không tiếng đáp!” (1937)

Trong cô đơn, hoang mang, Chế Lan Viên tiếp tục pha trộn Ðông, Tây, cổ, kim cách độc đáo:

 

“Nếp áo tin thân va hút mt

Tiếng gà lai kiếp cách ngàn sao.” (1937-46)

 

Siêu hình bị hữu hình lấn

 

Ðúng lúc nhà thơ đang vật vã với đủ thứ “thân” thì Kháng Chiến bùng nổ làm tan biến mọi trăn trở hư vô, đưa thơ trở xuống ngay Ở Ðây – Bây Giờ.

 

Suốt hơn bốn mươi năm kế tiếp, thơ Chế Lan Viên xông pha trong cõi hữu hình, say sưa bênh vực, cổ vũ những lý tưởng hết sức cụ thể.

 

Họa hoằn, thơ mới nghe bay chút mùi hương cũ:

Ta là ai? như ngn gió siêu hình

Câu hi hư vô thi nghìn nến tt.” (1955-60)

Nhưng thắc mắc tâm linh bây giờ yếu ớt lắm, bị dùng làm bàn đạp để thi sĩ bước qua loại thắc mắc khác, thuộc hẳn vào nhân thế.

 

Từ 1945, Chế Lan Viên bắt thơ tham gia vô số công tác khẩn trương thời chinh chiến, khi làm chiến sĩ, khi làm vợ chiến sĩ, khi làm mẹ chiến sĩ, khi làm đạn pháo, tên lửa (!) v.v. Bận rộn việc công thế, nhưng thơ vẫn có thời gian để diễn thêm đủ thứ cảm nghĩ “tư”, ngoại trừ thứ cảm nghĩ từng lồ lộ trong thơ một thời…

 

Siêu hình kín đáo trở về

Sau khi đất nước tái thống nhất, thơ Chế Lan Viên “phục viên”.

Bây giờ nó tập trung chiêm nghiệm lui tới về đời, ngẫm đi nghĩ lại kỹ hơn nữa về thơ, và nó cũng bắt đầu kín đáo lại nhìn ra cái cõi không thể thấy:

 

“Chùa nghèo tượng Pht đt

(…)

Mt Pht ch mơ h

Cũng ln chui, bt quyết

Cũng vàng son sơn thếp

N n cười hư

(…)

Hương chùa chưa ai thp

Hương lúa đã lan tràn

Pht ngi trong vô thc

Ðng trong tng th đt

Nh ngoài kia c non

Nh ngoài kia trái chín

(…)

Ngi trong phi-thi-gian

Hoa sen cười na ming

Nh xuân đi hè đến

Ði có tiếng ve ran.” (1977-84)

 

Chút nắng xao đầu gió…

Dường như chỉ đến vài năm cuối, Chế Lan Viên mới hoàn toàn thoải mái trở lại với ám ảnh đầu đời. Nhưng đến thời điểm này, suy tưởng siêu hình của nhà thơ chẳng những đã vắng hẳn bóng ma bóng tháp mà còn vắng cả bất cứ bóng dáng thiêng liêng nào.

 

Nó hoặc phảng phất “mùi cổ điển” Á Ðông:

“Tôi thu dn đi mình như người sp v quê cũ

(…) t đêm đc đêm đen

(…)

Gi v đêm đen.” (1988)

 

hoặc thoang thoảng hương khoa học (lại cái hương khoa học):

“Anh hi sinh vi bung trng mi và

chòm nhau mi,

Em giã go, anh bay theo hình chim Lc,

Mt tri đến hát bên dòng sông Phù Sa

không my khác,

Cũng li cái trng đng y thôi,

ch khác có Thiên hà.” (1987)

 

“Trút hết tạp âm của vũ trụ đi, chỉ còn

một dây bản ngã của anh thôi

Cái đàn bầu ấy chẳng bao giờ có được

Dù một dây – chả bao giờ là một,

Khi có Người đàn thì đàn đã song đôi.

Bản ngã anh chứa những tạp âm rạn vỡ của sao trời,

Chứa những âm âm u u vũ trụ

Bản ngã anh, anh chỉ tìm ra, hiểu rõ

Khi chạm số phận mình cùng một vì sao lạ đổi ngôi.” (Năm ?)

 

hoặc bí ẩn:

“Gió thi lá sen h lt li phía bên kia

Phía y gi anh v

V đâu chưa biết na

Ch biết hn anh lt li cùng vi gió

trong hn ai đó ném thia lia.” (1988)

Nổi bật nhất, là cái ý “trở về”.

 

Khi thì thi sĩ dõng dạc:

“Và khi nhìn tri xanh, con yêu,

y chính cha ri!” (1988)

 

Khi khác trở giọng ngậm ngùi:

“Cái không đáng khóc bây gi,

ta s khóc mai sau

Mai sau… mai sau khi chng còn ta na

Mt chút nng xao đu ngn gió

Là ta đy mà, ai có biết đâu?

H ch ng là mùa xuân trong vườn ca h

Có biết đâu đy là người xưa v trong gió

còn đau.” (1987)

Chút nắng không vô tư ấy, gặp hoàn cảnh thích hợp, như khi gặp “một người (…) trong thế kỷ mai sau”, một người biết “thương người xưa, rưng giọt lệ”, thì

“Nghe tình thương bng li sinh thành

Trong khonh khc – li là tôi – khonh khc

Nh li câu thơ mình ca mình quên tp

Nh li cuc đi đã trn gian

Mt cuc đi thôi mà biết my đa đoan

Lin s hãi, li biến mình ra ht bi

Và ln này là không còn gì cu ni

Tan thành hư không. Và mong nó

cũng quên mình.” (1987-1988)

Nhớ hồi Xuân Diệu mất, Chế Lan Viên làm bài thơ Xe Tang Qua Nhà, có câu:

“Diệu nằm ở trong thơ chớ đâu ở di hài!”.

Ðừng tìm ở di hài, cũng không cần chờ “một chút nắng xao ở đầu ngọn gió”: các nhà thơ xuất sắc khi mất đi nằm lại ngay trong thơ giá trị của mình.

Chế Lan Viên đã “trót” làm nhiều nhiều thơ khó “tan thành hư không”, trong đó có thứ thơ chứa hư không vừa bàn đến trong bài này. Thi sĩ “mong (trần gian) cũng quên mình”, nhưng quên làm sao được khi “Viên” vẫn đang nằm sờ sờ trong những vần kia!

 

_____________________

(1) Hoài Thanh, Thi nhân Việt Nam.

(2) Trong Nhà văn hiện đại không có Chế Lan Viên.

(3) Chế Lan Viên, Tuyển tập I, nxb. Văn Học, VN, 1985, tr. 43.

(4) CLV, sđd., tr. 44.

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s