Trang Lê – Một số nhận xét về lỗi viết tiếng Việt của sinh viên Mỹ gốc Việt

Ngày nay việc dạy và học tiếng Việt trở nên khá phổ biến ở Mỹ và nhiều nước khác trên thế giới. Cộng đồng người Việt khắp nơi, sau thời gian đầu bươn chải tập trung vào việc kiếm sống và thích nghi để hội nhập vào xã hội dòng chính, bây giờ chú ý hơn đến việc dạy con em học tiếng Việt và văn hoá Việt để giữ gìn nguồn cội của mình. Nếu vào Google và đánh nhóm từ “dạy tiếng Việt”, hẳn chúng ta sẽ nhận được khá nhiều bài viết về kinh nghiệm và phương pháp dạy tiếng Việt cho nhiều trình độ khác nhau. Ngoài ra, còn có không ít những bài khảo luận, phân tích, và phê bình cách sử dụng tiếng Việt. Mỗi bài có một giá trị đóng góp riêng nhưng nói chung, tất cả các tác giả đều muốn “làm đẹp” tiếng Việt và đóng góp vào việc nghiên cứu tiếng Việt.
Trong bài viết này, tôi chỉ muốn chia xẻ cùng quý độc giả một vài kinh nghiệm về việc dạy tiếng Việt của riêng bản thân tôi. So với nhiều anh chị đồng nghiệp khác, tôi chỉ là môt người mới tập tễnh vào nghề dạy tiếng Việt trên đất Mỹ. Vì vậy kinh nghiệm về lãnh vực này của tôi còn quá ít ỏi và hạn hẹp. Tuy nhiên tôi vẫn muốn chia xẻ một vài nhận xét về những lỗi viết mà sinh viên Mỹ gốc Việt thường phạm phải khi học tiếng Việt.
Tôi chọn sinh viên Mỹ gốc Việt vì không giống như sinh viên Mỹ chính gốc hay có gốc thuộc các cộng đồng di dân khác, phần lớn các em có thể ít nhiều nói và hiểu tiếng Việt ngay cả trước khi học tiếng Việt như một ngôn ngữ “di sản” (heritage language) do sống trong gia đình và sinh hoạt trong cộng đồng. Dù vậy, khả năng đọc và viết của các em còn rất hạn chế. Tuy nhiên, cũng có khá nhiều em không thể giao tiếp thông thạo bằng tiếng Việt vì các em ít có dịp nói chuyện trao đổi với cha mẹ hoặc người thân. Bài viết này tập trung vào những em có trình độ tiền trung cấp (pre- intermediate), tức là các em có thể nói, hiểu, đọc, và viết được tiếng Việt trong phạm vi giao tiếp rất đơn giản hằng ngày.
Việc dạy tiếng Việt ở tiểu bang California
So với những tiểu bang khác, việc dạy tiếng Việt ở tiểu bang California phát triển tương đối mạnh mẽ nhất. Nằm dọc theo bờ biển phiá Tây của nước Mỹ, khí hậu California mang đặc tính của khí hậu miền ôn đới. Vì vậy, tuy ở đây đều có đầy đủ các đặc tính thời tiết của những nơi khác như mưa, nắng, lạnh, nóng.. nhưng tất cả đều ở một chừng mực mà con người có thể chịu được khá dễ dàng. Có lẽ đó là lý do tại sao tiểu bang này có số lượng dân cư rất đông và số lượng người Việt định cư tại đây lớn nhất thế giới, ngoài Việt Nam.
Với ước muốn giữ gìn tiếng Việt và bảo tồn văn hoá Việt, cộng đồng người Việt ở bang California đã mở rất nhiều trường dạy tiếng Việt cho con em vào ngày nghỉ cuối tuần mà các ban điều hành, giảng viên, và nhân viên đều là những người tình nguyện. Như vậy, học sinh đi học chỉ đóng học phí tượng trưng để trả chi phí về điện nước và thuê phòng, còn tất cả các thành viên trong ban điều hành và giảng dạy đều làm việc không lương. Các thầy cô tình nguyện này thỉnh thoảng còn tổ chức các sinh hoạt ngoại khóa cho các em học sinh cũng như bỏ tiền riêng của mình để mua thức ăn và nước uống cho các em. Hiện nay, có khoảng hơn một trăm trung tâm dạy Việt Ngữ ở miền Nam California, chưa kể đến các trung tâm hay lớp Việt Ngữ tại miền Bắc của tiểu bang này như San Jose, Oakland, hay thủ phủ Sacramento. Nhưng nếu chỉ nói đến việc giảng dạy không thì chưa đủ vì các trung tâm này còn biên soạn, phát hành giáo trình và sách, tổ chức các kỳ thi nói và viết tiếng Việt cho học sinh, cũng như mở các hội thảo để các thầy cô trao đổi kinh nghiệm giảng dạy và học hỏi chuyên sâu thêm về tiếng Việt (Băng Huyền 2012). Sự quan tâm trau dồi tiếng Việt và văn hoá Việt cho con em còn được thấy qua việc mở nguyên một phụ trang về tiếng Việt của nhật báo Người Việt.
Nhìn thấy sự lớn mạnh của cộng đồng người Việt ở California và nhu cầu học tiếng Việt ngày càng tăng, nhiều trường trung học, đại học cộng đồng, đại học của tiểu bang đã đem tiếng Việt vào chương trình giảng dạy hoặc như một ngoại ngữ cho sinh viên Mỹ hoặc như ngôn ngữ di sản cho sinh viên Mỹ gốc Việt. Đây thực sự là một niềm vui và vinh dự cho cộng đồng người Việt vì tiếng Việt đã “hội nhập” vào hệ thống giáo dục của xã hội dòng chính (Trần 2009). Tuy nhiên, việc dạy tiếng Việt tại các trường phần lớn chỉ chú trọng đến việc học tiếng hơn là nghiên cứu chuyên sâu về văn hoá và truyền thống Việt Nam. Nhận thức được nhu cầu cần đến những chuyên viên trung và cao cấp có khả năng giao tiếp bằng hai ngôn ngữ Anh-Việt để phục vụ trong cộng đồng người Việt, Trường Đại Học Tiểu Bang California tại Fullerton (Cal State Fullerton) đã mạnh dạn biên soạn chương trình học chuyên ngành phụ (Minor) và cử nhân (Major) về Ngôn Ngữ và Văn Hoá Việt Nam nhờ một quỹ hổ trợ của Bộ Giáo Dục Mỹ.
Những lỗi viết tiếng Việt thường gặp
1.    Vài cơ sở lý luận
Đối với nhiều người, việc phạm lỗi trong quá trình học là điều cần tránh tối đa vì nó thể hiện sự thiếu kiến thức hoặc kỹ năng của người học về một lãnh vực hay phương diện nào đó. Điều này có nghĩa là lỗi được xem như là một hiện tượng tiêu cực và được xét đến khi đánh giá một bài tập hay bài thi của người học. Dĩ nhiên, quan niệm này cũng được thấy trong lãnh vực học ngoại ngữ. Tuy  nhiên, Pit Corder đã thay đổi cách nhìn về lỗi khi ông cho phát hành bài viết có tựa đề “The Significance of Learners’ Errors” (Ý nghĩa của lỗi của người học) vào năm 1967. Theo Corder, lỗi là một hiện tượng tự nhiên trong quá trình học ngoại ngữ và đó không phải là một hiện tượng xấu cần được xóa bỏ. Ngược lại, lỗi cho thấy những chiến lược tích cực cũng như sự phát triển ngôn ngữ đích (target language) của người học. Những nhà ngôn ngữ học ứng dụng khác như Larry Selinker (1992), Jack C. Richard (1985), Rod Ellis (1992), và Doff (1988) cũng đều ủng hộ quan điểm này.
Theo luận thuyết phân tích đối chiếu (contrastive analysis), người ta có thể dự đoán lỗi dựa trên sự khác nhau giữa ngôn ngữ thứ nhất và thứ hai của người học do sự chuyển di ngôn ngữ (language transfer). Tuy vậy, thực tế cho thấy luận thuyết này, tuy có thể giải thích được phần nào nguyên nhân phạm lỗi, vẫn không hoàn toàn chính xác hoặc không thể dự đoán tất cả những khó khăn mà người học gặp phải trong quá trình học vì người học thường có khuynh hướng suy luận không đúng về các quy luật của ngôn ngữ đích (target language) chứ không phải tiếng mẹ đẻ (mother tongue). Vì vậy, Pit Corder đưa ra luận thuyết phân tích lỗi (error analysis) là luận thuyết nhìn lỗi dưới nhiều góc độ khác nhau và với thái độ tích cực hơn.
Về các loại lỗi, Corder phân biệt hai loại: lỗi do nhầm lẫn (mistake) và lỗi do thiếu kiến thức (error). Lỗi do nhầm lẫn được tạo nên do lỡ lời (slips of tongue), do lo sợ, xúc động (yếu tố tâm lý), hoặc do mỏi mệt, đau ốm (yếu tố thể chất); vì vậy người học có thể nhận ra và chữa lỗi nếu cần thiết. Trái lại lỗi do thiếu kiến thức có tính hệ thống và được lập đi lập lại nhiều lần. Tuy vậy, đối với loại lỗi này, người học ngoại ngữ không biết rằng họ đang mắc lỗi vì đây là một phần của “ngôn ngữ trung gian” (interlanguage). Theo Selinker (1972), loại ngôn ngữ trung gian này được hình thành do người học sử dụng những chiến lược riêng để thụ đắc ngôn ngữ thứ hai; nó không giống tiếng mẹ đẻ cũng không giống ngôn ngữ đích.
Từ những nhận định này, khi các nhà ngôn ngữ học phân tích lỗi do người học phạm phải, họ cũng so sánh lỗi này với ngôn ngữ đích chứ không phải chỉ đối chiếu với tiếng mẹ đẻ của người học để dự đoán lỗi như những nhà ngôn ngữ học đối chiếu.
Theo Gass và Selinker (2001, 79), việc nghiên cứu phân tích lỗi thường phải trải qua các giai đoạn sau:
1.    Thu thập dữ liệu
2.    Nhận dạng lỗi
3.    Phân loại lỗi
4.    Xác định số lượng lỗi
5.    Phân tích lỗi
6.    Cách chữa lỗi
Việc phân tích lỗi như vậy sẽ có nhiều giải thích hợp lý hơn ngôn ngữ học đối chiếu. Có hai lỗi chính xuất hiện trong quá trình học ngoại ngữ: lỗi do ngôn ngữ đích (intralingual errors) và lỗi do giao thoa ngôn ngữ  (interlingual errors). Lỗi do ngôn ngữ đích là lỗi sinh ra do những yếu tố trong phạm vi ngôn ngữ đích và do người học mượn những tri thức đã biết về ngôn ngữ đích. Lỗi do giao thoa ngôn ngữ  là lỗi sinh ra do người học mượn tri thức từ tiếng mẹ đẻ.
Có nhiều nguyên nhân tạo nên lỗi nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đều cho rằng hai nguyên nhân chính tạo nên lỗi là:
a.    Chuyển di ngôn ngữ (language transfer): Đây là chiến lược trong đó người học mượn những tri thức đã có trong tiếng mẹ đẻ để khám phá ngôn ngữ đích. Ví dụ người nói tiếng Anh như ngôn ngữ thứ nhất khi học tiếng Việt có thể nói “một màu xanh cái áo” (a blue shirt) thay vì nói “một cái áo màu xanh”. Lỗi này thuộc loại interference errors, tạm dịch là “lỗi (do tiếng mẹ đẻ) can thiệp” (Lightbrown và Spada 1999).
b.    Khái quát hóa quá mức (overgeneralization): Theo chiến lược này, người học nới rộng những quy tắc ngôn ngữ ra ngoài phạm vi của nó (Nguyễn 2000). Ví dụ người học dùng đại từ “chị” để gọi một phụ nữ có tuổi xấp xỉ mẹ của mình trong khi lẽ ra phải gọi là “cô” hay “dì”. Việc dùng đại từ không phù hợp này có thể là do người học khái quát hóa đại từ “chị” trong tiếng Việt mà không biết rằng sự chọn lựa từ xưng hô trong tiếng Việt tùy thuộc vào nhiều yều tố khác như tuổi tác, giới tính, mối quan hệ…  Lỗi này thuộc loại developmental errors, tạm dịch là “lỗi phát triển (trong quá trình học)” (Lightbrown và Spada 1999).
Tuy nhiên, theo Dulay và Burt (1974b), không phải lúc nào chúng ta cũng có thể xếp loại lỗi hay tìm ra nguyên nhân của lỗi. Vì vậy họ đặt ra một loại lỗi gọi là “ambiguous goofs” (lỗi có nguyên nhân không rõ ràng).
2.    Thu thập và phân tích dữ liệu
Dữ liệu được thu thập qua 135 bài viết (writing assignments) của 45 sinh viên theo học nhiều ngành khác nhau tại trường Đại học Tiểu Bang California, Fullerton. Tất cả các em đều là sinh viên Mỹ gốc Việt có trình độ tiếng Việt tiền trung cấp (pre-intermediate) dựa theo tiêu chuẩn trong bảng hướng dẫn của Hội Đồng Giảng Dạy Ngoại Ngữ Mỹ (American Council on the Teaching of Foreign Languages).
Nhìn chung, lỗi viết có thể được chia thành ba loại: lỗi ở mức độ câu (lỗi về văn phạm), lỗi ở mức độ đoạn (sự mạch lạc trong từng đoạn), và lỗi ở mức độ toàn văn bản (sự liên kết ý trong toàn bài). Trong giới hạn của bài viết này, tôi chỉ chú trọng đến lỗi ở mức độ câu. Ngoài ra, lỗi chính tả và lỗi từ vựng cũng được xem xét. Quá trình nghiên cứu lỗi được tiến hành qua các giai đoạn theo đề nghị của Gass và Selinker (2001) như đã trình bày ở trên.
3. Kết quả
Tổng cọng có 667 lỗi trong 135 bài viết của sinh viên. Những lỗi sau được tìm thấy trong các bài viết này và số lượng lỗi được tổng kết trong bảng sau:

Bảng tổng kết trên cho thấy lỗi chính tả và lỗi dùng khẩu ngữ chiếm đa số trong tổng số lỗi. Kế đến là lỗi giới từ và loại từ; hai loại lỗi này có số lượng tương đương với nhau.  Lỗi từ vựng và dịch chiếm vị trí thứ ba về số lượng và cũng gần bằng nhau. Lỗi về cú pháp ít bị phạm nhất trong các loại lỗi.
3.1. Lỗi chính tả
Chính tả là “sự chuẩn hóa hình thức chữ viết của ngôn ngữ” (Mai 2007, 167). Vì vậy, viết đúng chính tả là điều kiện bắt buộc của một văn bản cho dù chữ viết có thể có thể chưa thật hợp lý so với lối phát âm. Trong các bài viết của các em, lỗi chính tả là lỗi thường được thấy nhất. Các em thường không phân biệt được sự khác nhau giữa nguyên âm o và ô, a và â, e và ê, hoặc â và ă. Ví dụ các em viết cong việc thay vì công việc, mâu chóng thay vì mau chóng, nghê thay vì nghe, nâm học thay vì năm học.
Nguyên nhân của lỗi này có thể là do các cặp nguyên âm này đều thuộc một loại nguyên âm giống nhau, được xếp loại dựa trên độ mở của miệng, độ nâng của lưỡi, vị trí trước – sau của lưỡi, hoặc hình dáng của môi. Ví dụ, âm e và ê khi đọc thì miệng có vị trí mở vừa và khép vừa, hoặc âm a và ă khi đọc thì lưỡi đều bị đẩy về phía sau, chỉ hơi khác nhau về độ cao của lưỡi. Âm o và ô đều là âm tròn môi. Vì vậy, khi đọc, các cặp này có cách phát âm rất gần nhau nên dễ làm các em lẫn lộn (Mai 2008, Nguyễn và các tác giả khác 2007 ).
Các em cũng thường viết sai dấu hỏi và dấu ngã. Nhiều em có khuynh hướng viết toàn dấu hỏi. Ngược lại, có em lại sử dụng rất nhiều dấu ngã trong bài. Nguyên nhân có lẽ là do các em nói tiếng Việt theo giọng miền Nam hoặc miền Trung nên phát âm những từ có dấu hỏi và ngã giống nhau. Cũng có thể là do sự khái quát hóa quá mức việc dùng dấu hỏi hoặc dấu ngã.
–    Em củng (cũng) thích đi thăm nước Pháp một lần nửa (nữa).
–    Em rất thích ra biễn (biển) chơi và lượm võ (vỏ) ốc.
Do phát âm tiếng Việt theo giọng điạ phương (ảnh hưởng giọng nói của ba mẹ), các em cũng thường viết sai chính tả. Những ví dụ sau cho thấy hiện tượng này:
Giọng Nam:
–    Ngày nào em cũng đến chường (trường) học bài.
–    Em rất thích ăn chái (trái) cây như xài (xoài) và mích (mít).
Giọng Bắc:
–    Em xung xướng (sung sướng) vì được đi chơi các nước ở châu Âu.
–    Trời lạnh quá làm em dun dẩy (run rẩy).
Giọng Trung:
–    Nhà bà ngoại em ở Việt Nam có mái ngoái (ngói) màu đỏ .
Nguyễn Hưng Quốc (2004) cũng đã đưa ra một ví dụ thú vị về một em sinh viên nhầm lẫn giữa “chiến dịch” và “trứng vịt” do sự phát âm gần giống nhau của hai từ này theo giọng Nam.
Ngoài ra, các em thường nhầm lẫn giữa những từ tận cùng bằng t (như mát) hoặc c (như mác), có g (như chăng) hoặc không g (như chăn), giữa gi (như giấy) và d (như dấy), v..v…Nguyên nhân của những lỗi này có thể do ảnh hưởng giọng địa phương nên không phân biệt được sự khác nhau giữa những từ này hoặc do sự khái quát hóa quá mức như đã nói trên.
3.2. Lỗi về văn phạm
3.2.1. Lỗi về giới từ:
Các em dùng giới từ tiếng Việt sai do ảnh hưởng của giới từ tiếng Anh. Đây chính là hiện tượng chuyển di ngôn ngữ. Chúng ta có thể nhận thấy điều này qua những ví dụ sau:
–    Tôi thường gội đầu trong buổi tối .
(I often wash my hair in the evening)
Tôi thường gội đầu vào buổi tối.
–    Tôi thấy nhiều sao trong trời.
(I saw many stars in the sky)
Tôi thấy nhiều sao trên trời.
–    Em không chắc chắn của điều ấy.
(I am not sure of that)
Em không chắc về điều ấy.

3.2.2. Lỗi về loại từ

Một loại lỗi văn phạm rất quan trọng nữa là lỗi về loại từ (hay chỉ định danh từ). Các em thường dùng thiếu loại từ hoặc dư loại từ.

+ Thiếu loại từ:

–    Em có ba trăm sách.  (thiếu “quyển”)
–    Hôm qua mẹ em mua bốn gà. (thiếu “con”)
–    Ba em cho em một đồng hồ mới. (thiếu “cái”)

Những ví dụ trên cho thấy các em thường dùng thiếu loại từ khi dùng với số lượng. Có thể những lỗi này là do ảnh hưởng tiếng Anh khi diễn tả những số lượng này như “three hundred books”, “four chickens”, hay “a new watch”. Đây cũng là một hiện tượng chuyển di ngôn ngữ (language transfer).

+ Dư loại từ:

–    Vườn nhà em có rất nhiều cái hoa đẹp. (dư “cái”)
–    Hôm nay chợ có bán nhiều con cá tươi. (dư “con”)
–    Ba tôi rất thích đọc quyển sách và tờ báo lúc rãnh. (dư “quyển và “tờ”)
–    Cái bộ não của con người rất tài (dư “cái”)

Theo Nguyễn Thiện Nam (2000), sự khái quát hóa quá mức (overgeneralization) là nguyên nhân tạo nên lỗi này. Ở đây các em đã sử dụng thừa loại từ khi nói về các danh từ chỉ giống loài chung.

3.3. Lỗi từ vựng
3.3.1. Dùng từ không phù hợp
Trong hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ, có nhiều từ chỉ có một nghĩa nhưng cũng có những từ đa nghĩa. Hiện tượng một từ có nhiều nghĩa là điều rất phổ biến (Đỗ 2009). Khi không biết nghĩa một từ, các em thường tra tự điển Anh-Việt để biết nghĩa từ này. Đối với những từ tiếng Anh có nhiều nghĩa, khi chuyển ngữ sang tiếng Việt, các em dùng một nghĩa của từ tìm thấy trong tự điển để diễn tả ý mình muốn nói mà không biết rằng mình đã chọn từ không phù hợp cho ngữ cảnh đó, như trong các ví dụ sau:
–    Mỗi sáng chủ nhật em thường chân không (vacuum) nhà (thay vì “hút bụi”).
–    Khí hậu (The climate) của lớp học em rất vui (thay vì “không khí”).
–    Em thích mặc (wear) khăn choàng khi trời lạnh (thay vì “mang”).
3.3.2. Sử dụng khẩu ngữ

Dùng khẩu ngữ trong bài viết cũng là một lỗi mà các em có trình độ tiền trung cấp rất thường hay mắc phải. Các em có thói quen nói như thế nào thì viết như thế ấy nên không thích hợp với lối văn viết. Ví dụ trong bài viết về món ăn Việt Nam, có em viết:

–    Em không thích ăn bún bò là tại vì nó cay quá chời luôn.
–    Tôi thích ăn canh chua là tại vì trong đó có tùm lum thứ.
–    Mẹ em nấu bún riêu ngon hết xẩy nên mai mốt em sẽ bắt chước nấu.
–    Lúc đầu em không thích ăn đồ ăn Việt Nam nhưng ăn riết rồi quen luôn.
Nguyên nhân của các lỗi này là do sự thụ đắc tiếng Việt một cách tự nhiên qua tiếp xúc với cha mẹ hoặc người thân trong gia đình. Trong khi đó các em chỉ mới học viết và đọc ở mức độ sơ cấp hoặc tiền trung cấp và ít thực hành đọc sách báo tiếng Việt nên chưa phân biệt được sự khác nhau giữa tiếng Việt khẩu ngữ và tiếng Việt văn bản.
3.4. Lỗi cú pháp

Nhiều em mắc lỗi khi viết câu ghép, nhất là câu ghép qua lại. Loại câu ghép này gồm hai vế được nối kết với nhau bằng những cặp liên từ như “Nếu ….thì…”, Tuy/Dù …nhưng….”, Hễ…thì…”, “Vì…..nên….”….Vì vậy, hai vế này có quan hệ lôgic – ngữ nghĩa rất chặt chẽ vì chúng phụ thuộc vào nhau. Như vậy, nếu không có vế này thì cũng không có vế kia (Nguyễn 2009). Tuy nhiên, các em lại thường viết câu nghép không hòan chỉnh, tức là chỉ có một vế, như trong các ví dụ sau:
–     Dù mẹ em phải làm việc nhiều giờ và phải đi làm rất sớm và về nhà rất khuya, có khi đến 1 hay 2 giờ sáng.
–     Nếu hè này em được đi chơi với gia đình em ở Hawaii có bãi biển đẹp, mặt trời chiếu hằng ngày, và khí hậu rất ấm.
Hai câu trên cho ta thấy rằng các em viết vế đầu tiên khá dài với nhiều ý khác nhau. Có lẽ vì vậy mà các em nghĩ rằng câu đã được hoàn tất.
3.5. Dịch từng từ
Các em cũng thường có khuynh hướng dịch từng từ, từ tiếng Anh sang tiếng Việt, để diễn tả ý mình muốn nói trong tiếng Việt.

–     Mặc dù em là đau, em không muốn đi xem một bác sĩ.
(Although I am sick, I don’t want to see a doctor)
Mặc dù em bị đau nhưng em không muốn đi khám bác sĩ.
–    Bao lâu cách đây anh đến sống đây?
(How long ago did you come to live here?)
Anh đến sống ở đây bao lâu rồi?
–    Trong kết luận, chúng ta nên để ý đến cha mẹ của chúng ta tinh thần cuộc sống.
In conclusion, we should pay attention to our parents’ spiritual lives.
Tóm lại, chúng ta nên để ý đến cuộc sống tinh thần của cha mẹ chúng ta.
Lỗi này tương đối khá phổ biến đối với những người học ngoại ngữ. Có lẽ họ cho rằng cấu trúc của ngôn ngữ thứ nhất và thứ hai giống nhau, mà không biết rằng như vậy là không luôn luôn đúng.

4. Vài đề nghị về cách đối phó với lỗi
Các nhà ngôn ngữ học đã có rất nhiều tranh luận về cách chữa lỗi, nhất là việc chữa lỗi nói vì việc này sẽ ảnh hưởng đến sự trôi chảy của lời nói và có thể làm người học nản chí. Về việc chữa lỗi viết, một bài viết với quá nhiều dấu sửa chữa cũng dễ làm nản lòng người học. Trong phạm vi giới hạn của bài viết này, tôi chỉ xin đưa ra một số đề nghị để đối phó với việc phạm lỗi.
4.1. Tìm nguyên nhân của lỗi để chữa lỗi
Người dạy nên tìm hiểu nguyên nhân của việc phạm lỗi của người học để từ đó tìm những cách chữa lỗi thích hợp. Ví dụ, đối với những lỗi dùng sai nguyên âm hoặc những từ tận cùng hay bắt đầu bằng các phụ âm khác nhau nhưng đọc tương tự (như t và c, hoặc gi và d), người dạy cần chỉ ra cách phát âm khác nhau của những cặp nguyên âm hay cặp từ này và cho các em luyện tập phân biệt từng cặp từ có chứa những âm tương tự (minimal pairs). Đối với lỗi do dịch từng từ từ tiếng Anh sang tiếng Việt, người dạy cần giải thích cho các em biết rằng tuy tiếng Anh và tiếng Việt có một số cấu trúc giống nhau, hai ngôn ngữ này vẫn còn rất nhiều cấu trúc khác nhau, đòi hỏi người học luyện tập thực hành nhiều những cấu trúc khác biệt này. Điều này cũng có thể được áp dụng cho lỗi về loại từ. Về việc dùng khẩu ngữ hoặc lựa chọn từ không phù hợp, người dạy cần giải thích sự khác nhau giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết cũng như nhắc nhở các em đọc nhiều các văn bản bằng tiếng Việt để biết cách dùng từ  phù hợp trong nhiều ngữ cảnh khác nhau.
4.2.   Tạo cơ hội cho người học tự tìm ra và chữa lỗi của mình.
Việc biết được cụ thể và chính xác lỗi nào thuộc loại lỗi do nhầm lẫn (mistakes) và lỗi nào là lỗi do thiếu kiến thức (errors) là điều không dễ thực hiện. Vì vậy người dạy nên lưu ý người học những lỗi họ phạm phải bằng cách gạch dưới những lỗi sai, sau đó cần để cho người học có cơ hội tự tìm ra và chữa lỗi của mình. Điều này không những có thể giúp người học ghi nhớ và tránh phạm lỗi đó sau này mà còn tạo cho họ có thói quen thận trọng hơn trong lúc viết để bài viết đúng và hay hơn. Nếu người học không thể tự sửa lỗi vì không nhận ra lỗi, có nghĩa là lỗi do thiếu kiến thức (errors), người dạy cần giải thích, cung cấp thông tin hoặc kiến thức, và tạo cơ hội cho người học luyện tập điểm ngữ pháp, ngữ âm, hay cú pháp …này, để họ tránh phạm phải những lỗi này lần sau.
4.3.  Thái độ của người dạy đối với lỗi
Người dạy nên nhìn lỗi của người học theo chiều hướng tích cực hơn. Như Corder (1976) nhận xét trong bài viết nổi tiếng “Ý nghĩa của lỗi của người học” (The Siginificance of Leaners’ Errors) của ông, khi người học nói hay viết những câu đúng, họ có thể chỉ lặp lại những gì đã học. Ngược lại, lỗi phản ánh mức độ hiểu biết hiện tại của người học về các quy luật hay mẫu câu của ngôn ngữ đích mà họ đang học. Như vậy điều này sẽ cho người dạy biết người học đã biết gì và chưa biết gì, từ đó họ có thể có những cách dạy hữu hiệu hơn.

Kết luận

Người học ngoại ngữ không phải chỉ là những người phạm lỗi thụ động như nhiều người nghĩ (Gass và Selinker 2001). Do đó, chúng ta không nên nhìn lỗi với thái độ phê phán vì việc phạm lỗi khi học là một hiện tượng tự nhiên. Hơn nữa, lỗi sẽ giúp người dạy biết được sự phát triển “ngôn ngữ trung gian” (interlanguage) cũng như những thiếu sót của người học về kiến thức hay kỹ năng về ngôn ngữ đích. Từ đó, người dạy có thể tìm ra nguyên nhân mắc lỗi để có những cách thức chữa lỗi hữu hiệu cho người học.

Trang Lê
Fullerton, 1/2012

***************
Tài liệu tham khảo
Băng, H. (2012). Nỗ lực dạy và học tiếng Việt hiện nay của các trung tâm độc lập. ViendongDaily. http://viendongdaily.com/no-luc-day-va-hoc-tieng-viet-hien-nay-cua-cac-trung-tam-doc-lap-npqoMLK8.html
Corder, S. P. (1967). The significance of learners’ errors. International Review of Applied Linguistics, 5: 161-169.
Corder, S. P. (1981). Error analysis, interdisciplinary. London, New York: Oxford University Press.
Đỗ, H. C. (2009). Từ vựng – Ngữ nghĩa tiếng Việt. Hanoi: Nhà xuất bản Đại Học Quốc Gia Hà Nội.
Ellis, R. (1992). Understanding second language acquisition. Oxford, New York: Oxford University Press.
Gass, S. M. & Selinker, L. (2001). Second Language Acquisition. London: Lawrence Erlbaum Associates, Publishers.
Lightbrown, P. M. & Spada, N. (1999). How languages are learned. Oxford: Oxford University Press.
Mai, N. C. (2008). Nhập môn ngôn ngữ học. Hanoi: Nhà xuất bản Giáo Dục.
Mai, T. K. P. (2008). Tiếng Việt đại cương – Ngữ âm. Hanoi: Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội.
Nguyễn, H. Q. (2007). Sống với chữ. Santa Ana: Santa Ana Publisher.
Nguyễn, T. N. (2000). Khảo sát lỗi tiếng Việt của người nước ngoài và những vấn đề liên quan. Luận án tiến sĩ ngữ văn. Hà nội: Nhà xuất bản Đại Học Quốc Gia Hà Nội.
Nguyễn, T. N. H., Đo, V. H., Bui, M. T. (2007). Nhập môn ngôn ngữ học. Mai Ngọc Chừ chủ biên. Hanoi: Nhà xuất bản Giáo Dục Hà Nội.
Nguyễn, V. H. (2009). Cú pháp tiếng Việt. Hanoi: Nhà xuất bản Giáo Dục Việt Nam.
Richards, J. C. & Sampson, G. (1974). The study of learner English. In J.C. Richards (Ed.), Error analysis: Perspectives on second language acquisition (pp. 3-18). London: Longman.
Selinker, L. (1992). Rediscovering interlanguage. London, New York: Longman.
Trần, K. Đ., (2009). Tiếng Việt trên đường hội nhập. http://www.khoahoc.net.

One comment

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s