Khải Nguyên – NHỮNG NẺO ĐƯỜNG QUÊ VIỆT (tiếp theo)

5. Ai về tây bắc

Miền Tây Bắc Tổ quốc ta, trong tâm trí tôi từ trước, là nơi xa xôi, heo hút, hoang rậm, trắc trở, người ta ngại đặt chân tới. Ngay câu hát hùng tráng: “Qua miền Tây Bắc núi vút ngàn trùng xa; suối sâu đèo cao bao khó khăn vượt qua…” dẫu có làm cho Tây Bắc gần hơn trong tâm tưởng, cũng là tô đậm thêm ấn tượng gian nan. Cả những trang bút kí của Nguyễn Tuân trong “Sông Đà” cũng vậy, vừa gây thi vị vừa “khủng bố tinh thần”.

Trước đây, tôi chỉ mới mon men rìa miền Tây Bắc khi từ vùng ngược Thanh Hoá theo đường rừng qua vùng thượng Phú Thọ. Hơn nửa tháng trời không thấy đồng bằng, không thấy chân trời; ngửa đầu nhìn lên, bầu trời rách tươm sau tàng cây rừng; hiếm khi có trọn một bãi nắng; họa hoằn lắm mới gặp mấy ngôi nhà sàn để nhờ trú đêm. Tự suy ra: vào sâu Tây Bắc sẽ ra thế nào!

Vậy mà, vào cái độ “chân chồn, gối mỏi”, tôi đã làm một chuyến du Tây Bắc, có điều, chẳng phải là cuốc bộ như xưa kia.

Dặm dài Tây du

Từ Hoà Bình đi vào cửa ngõ lên Tây Bắc mây mù lãng đãng. Đường ngoắt ngoéo hết lên lại xuống. Từ trên cao nhìn xuống, lờ mờ một điểm dân cư vẫy gọi dưới lòng thung trên đường vào thị trấn Mai Châu (vẫn còn thuộc Hoà Bình). “Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”, muốn ghé vào đấy quá nhưng chẳng phải đang đi kiểu “Tây balô”.

Đèo Phả Li, đất Sơn La, sương mù càng đặc hơn. Không ngắm cảnh được. Chỉ cảm giác âm u, hoang dại. Lần đi này, xuất hành không may! Sương mù loãng dần, trời ửng sáng. Cao nguyên Mộc Châu chạy dài bị kẹp giữa hai dãy núi cao. Những đồi chè trải ra hai bên đường không được thấy đồng cỏ với những đàn bò từng nổi tiếng. Thị trấn Mộc Châu nằm giữa một thung lũng hẹp. Mấy dãy nhà hai bên đường quốc lộ sáu nom tươi tỉnh. Trời lại mưa nhỏ. Hiên sau nhà nghỉ Mộc Châu trông chếch ra những hòn núi tròn như những nấm mộ khổng lồ phủ xanh cỏ đang đua nhau leo ngược lên tận đỉnh dãy núi án ngữ một phía cao nguyên. Chợt nhớ câu thơ Quang Dũng “Người đi Châu Mộc chiều sương ấy / Có thấy hồn lau nẻo bến bờ”. Chẳng thấy lau lách, chẳng thấy “nẻo bến bờ”. Bởi “cưỡi xe xem hoa” hay bởi sự đổi thay?

Qua Yên Châu, cảnh sắc phong quang hơn. Thung lũng khép lại rồi mở ra, đồng ruộng rộng dần, có hơi hướng miền đồng bằng đôi chỗ. Nương nhiều, hiếm ruộng. Lúa gieo dày đang lên xanh. ở Tây Bắc, nhiều nơi gieo thẳng. Trời thôi mưa. Sáng tháng Năm mà như vào tiết thu. Thị trấn Yên Châu, hầu hết là nhà ngói trệt, chen một ít nhà sàn. Trừ quãng giữa, nơi có vài nhà mái bằng, các nhà đều ẩn trong vườn, sum suê xoài, nhãn, vải. Một “thị trấn vườn”, cũng nên thơ nhưng mộc mạc và chất phác, không được duyên dáng và “quí tộc” như “thành phố vườn” Huế. Nhớ bài hát “Người Châu Yên bắn máy bay” muốn tìm gặp các cô “con gái trắng nõn những búp tay” mà “dám bắn máy bay” và “bắn ngay!” Nhưng thời gian quá xa; thị trấn bây giờ 96% dân là người tứ chiếng, đâu rồi bóng những cô gái Mường hồn nhiên mà dũng cảm ngày xưa?

Đường trường Sơn La, thỉnh thoảng gặp một điểm dân cư xinh xinh, thơ mộng nữa. Cò Nòi chỉ là một xã mà nom tựa một thị trấn dưới xuôi về mặt trù phú. Có cả một nhà lầu lắp kính màu. Vườn nhãn nối nhau hai bên đường. Cánh đồng tiếp giáp khá rộng. Thị trấn Mai Sơn, e nhiều thị trấn miền xuôi không bằng. Nà Sản gợi nhớ Lâm Đồng với những đồi đất đỏ thấp, phẳng. Đường vào sân bay qua một cánh đồng đã tầm mắt. Rải rác đồi cây ăn quả. Đồng mía cho nhà máy đường Sơn La dựng cách thị xã 33 ki-lô-mét.

Gần đến Sơn La trên đường đã xuất hiện lẻ tẻ xe máy. Một chiếc xe công nông chạy cùng chiều không nghênh ngang choán đường. Một khu nhà mới bên một khu ruộng bị hạn không thấy gốc rạ. Một ngọn đồi đang san dở, đất vàng. Núi đá xuất hiện từ Cò Nòi, đã thấy đậm lên. Thị xã Sơn La có núi đá rải rác xung quanh gần, xa, không còn giữ được nhiều màu sắc sơn cước, do nhà cửa, do hàng hoá, và cả do người cư trú, người vãng lai.

Khu Tây Bắc có nhiều đèo. Dài nhất là đèo Hoàng Liên Sơn, 54km, vắt ngang Lai Châu – Lao Cai. Hiểm trở nhất là đèo Pha Đin, một trong những “thách thức” suốt chiến dịch Điện Biên Phủ năm xưa. Đèo dài 32km dốc quanh co liên tục, ngày trước là dải đường lát đá trườn mình giữa lau sậy, sim, mua, cây con chằng chịt, nơi ẩn nấp của thú dữ, kể cả cọp. Thời kháng chiến chống Pháp, người ta đặt dọc đường đèo những quán “tự giác” bán mía, chuối,… đề sẵn giá, ai dùng cứ tự bỏ tiền vào hòm. Các ống bương đựng đầy nước suối dựng tựa vách, dùng miễn phí. Ngày nay, đường nhựa khá tốt. ít hoang vu hơn, có nơi cheo leo một lều canh. Thấp thoáng dưới lũng sâu những nương ngô. Dăm bản người Mông chênh vênh cao tít, lơ thơ nhà. [Trong một cuộc thi rất được chú ý trên truyền hình Việt Nam, VTV, người ta đố “đèo nào dài nhất VN?” mà đáp án lại là “đèo Pha Đin” (!) Vậy đó!]

Qua đèo Pha Đin sang đất Lai Châu, vẫn đường nhựa nhưng khuất khúc hơn bên Sơn La. Từ Tuần Giáo đến Điện Biên, núi vẫn ken dầy, lần đầu tiên, và duy nhất, trên dặm dài Tây Bắc ngoài các điểm dân cư, gặp một đoạn đường bằng phẳng rợp bóng cây to hai bên, và gặp hai toán học sinh bé giương cờ quạt đi hàng đôi. Các cháu lon ton trong trang phục dân tộc rực rỡ. Các cô giáo ăn mặc kiểu miền xuôi, không thấy ngước nhìn xe qua.

Trong các tỉnh Tây Bắc, Lai Châu hiểm trở hơn, heo hút hơn, mà cũng hùng vĩ hơn. Điện Biên đi thị xã Lai Châu, đường bắt đầu xấu. (Đường xấu còn kéo dài qua Phong Thổ đến cách Sa Pa 27km trên đèo Hoàng Liên Sơn). Suốt chặng đường hơn 100km, chỉ gặp một xe tải, một xe khách, hai xe con (hai xe này chắc là chở các quan chức đi dự lễ ở Điện Biên về), một xe đạp và một xe máy. Xe máy đây có vẻ là đi công chuyện, không như ở lân cận Điện Biên chàng trai người dân tộc cưỡi “ngựa máy” đưa “em” đi chơi thay vì cưỡi ngựa thật. Rất ít sườn núi có rừng rậm cây to.“Phá rừng là tội ác”, khẩu hiệu của tỉnh Lai Châu. Nhưng cũng như ở các tỉnh khác, rừng cứ bị đốt, phá. “Mười năm trở lại đây rừng mới bị đốt lắm, nhiều nhất là do người Mông. Có khi đốt vậy thôi”, một cán bộ tỉnh Lai Châu nói. Dấu vết “chương trình 327” chỉ thấy ở vùng trồng trẩu trên đường vào Mường Phăng và khu đồi cũng trồng trẩu cách 25km đến Phong Thổ. Quá thị xã Lai Châu 10km thấy biển đề “Rừng khoanh nuôi thú”, song không thấy có dấu hiệu đặc biệt gì về thú, mà cây cối cũng với vẻ của rừng núi kiệt. Năm 1981, đường Tây Bắc còn đi giữa rừng cây um tùm. Đi vậy, sợ thật, nhưng vùng thượng du mà vắng “rừng ra rừng” thì cũng buồn tình!

Các địa danh ghi trên cột số bên đường Lai Châu rất gợi, nhưng đến nơi thường chỉ là bản lèo tèo. Hiếm nơi được như xã Nà Tấu, cách Điện Biên 20km. Nhìn chung có vẻ nghèo hơn bên Sơn La, nhà cửa thưa thớt, trước gặp nhiều nhà sàn, về sau nhà trệt nhiều hơn.

Đôi khi gặp những cảnh kì thú. Bản ven suối; vạt rừng xanh; con đường đất đỏ uốn lượn leo dốc; những nương lúa, nương ngô chênh vênh bên sườn núi như những mảnh vá màu lá mạ trên nền nâu đất rẫy mới vỡ và nền xanh thẫm của thảm thực vật hoang hoá. Từ thị xã Lai Châu đi Phong Thổ, đường men ngược dòng Nậm Na, con sông nhỏ chảy vào sông Đà. Cảnh sắc dịu mắt hơn. Một cái bản gồ lên giữa sông, một cái đảo hình thuyền tựa làng Phúc Xá (Hà Nội) trên sông Hồng ngày nào. Chặng đường Phong Thổ – Sa Pa, thỉnh thoảng gặp những thác nước trên sườn dốc đứng. Nước tự lòng đất trào ra tận trên cao, gần đỉnh núi, tuôn trắng xoá như những dải lụa thả lưng trời xuống. Trên đèo Hoàng Liên Sơn càng hay gặp. Cả những nơi trụi rừng chỉ có cỏ dại, cỏ tranh, lau và cây bụi thấp tè. Có lẽ mùa mưa mới thế.

Không ở đâu thấy rõ hơn, vật lộn với thiên nhiên để kiếm miếng ăn thật gian nan. Có nơi bạt ngàn chuối rừng trên sườn dốc đá nhô rải rác. Quả chuối rừng chín vẫn chát không ăn được. Người ta chặt chuối, đốt cỏ rồi gieo ngô. Ngô mọc lên, “ngô chen đá”. Ngô thu hoạch được thì gốc chuối đã lại đâm cây mới. Lại tiếp tục đốn, đốt, …. Có lần bên kia một con suối to, một đồi tròn khá rộng ken dầy cây sắn tốt um xa trông như hình mâm xôi. Kề đó, một cái nhà đơn độc. Chung quanh là núi hoang. Ai ở đó? Giao lưu với “thế giới bên ngoài” ra sao? sực nhớ đến ngôi mộ xây trắng bên đường trên lưng chừng dốc núi, đơn chiếc giữa bạt ngàn đất đá, cỏ cây, xe vừa đi qua cách chừng một giờ. Người chết nằm cô độc đã buồn, người sống cô quạnh còn đáng buồn hơn. Đất thì bao la mà đất trồng lại hiếm. Trên đường đèo Hoàng Liên Sơn khi còn cách Sa Pa dăm ki-lô-mét, thấy người ta tranh thủ từng mẩu đất ven đường nhựa để trồng ngô, trồng rau. Còn “tranh thủ” sườn núi dốc thì hầu như suốt dặm dài Tây Bắc nơi đâu cũng thấy có. Lạ nhất là những ruộng bậc thang hai bên đường Sa Pa – Lao Cai. Nhiều mảng sườn núi rất dốc bày ra những thửa ruộng nước leo từ chân núi lên tới đỉnh dễ tới hàng mấy trăm bậc. Những dải ruộng đồng mức uốn lượn kéo dài nhưng rất hẹp. Có dải rộng chưa đến một mét. Chỗ rộng nhất không quá ba mét. Cuốc đào, san bằng, đắp bờ là kì công. Có được nước và giữ được nước kì công không kém. Rồi gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch làm sao? Công phu như đắp đê chống lụt, như đào mương chống hạn. Song, những việc kia là việc cộng đồng. Còn làm ruộng bậc thang này là công việc cá nhân, gia đình, nhiều lắm là một đội sản xuất hoặc một tổ đổi công, nếu còn tồn tại các dạng tổ chức này. “Phá rừng là tội ác!” Đúng! Trước nhất là đối với bọn lâm tặc và bọn bao che hoặc đứng đằng sau ăn chia với chúng. Không nghiêm trị bọn này cũng là tội ác. Đối với những người dân phá rừng để trồng trọt kiếm cái ăn độ nhật thì “việc làm đáng tội mà tình nên thương”. Hãy giúp họ, hướng dẫn họ cách làm ăn chính đáng. Để những con người cần cù như vậy, làm việc không tiếc sức như vậy phải đói khổ, phải sống u mê, phải tàn phá môi trường của chính mình, cũng là tội ác!

Rong ruổi đường trường Tây Bắc, ngoài các thị tứ, hầu như không gặp quán hàng, dẫu là quán nghèo thôn quê. Cũng hầu như không gặp người. Chỉ một lần, nơi một bản nhỏ dăm nóc nhà bên đường cách Phong Thổ chừng 30km, mấy cháu bé giơ lên hai con gà nhép đòi 80.000 đồng. Hành khách đi trên đường vắng, dù ngồi trong xe với nhiều người khác, cũng thích thú khi có bóng người bên đường. Vậy những ai sống ở chốn hoang vu, nhất là trẻ nhỏ, thèm được thấy người đến cũng là điều dễ hiểu. Họ mến khách một cách tự nhiên. Quãng giữa đường từ Điện Biên đến thị xã Lai Châu, đoạn đường xấu nhất, vùng đất nghèo nhất, chiếc xe đang khó nhọc lượn qua khúc đường gập ghềnh, một tốp trẻ lít nhít từ trong sân một ngôi nhà trệt tồi tàn, lẻ loi ùa ra reo vui vẫy chào. Đám nhỏ ăn mặc “sơ sài”, có một bé phó hoàn toàn thân thể cho nắng gió. Hai bà ngồi trong xe chỉ trỏ, cười to quá; bọn trẻ ngỡ ngàng, còn bé kia thì giật mình vội lấy tay bưng “của quí” của mình lùi lại. Xe đang đi sát một vách đường gần dựng đứng, trời mưa, bỗng nghe có tiếng gọi từ trên cao. Một đôi trai gái, không nhìn rõ thuộc dân tộc nào, đứng trên cao tít chừng vài ba chục mét đang khom người khoa tay thân thiện. Họ đang làm nương hay đang kiếm củi giữa “trên thì trời, dưới thì núi rừng”, họ muốn gửi gắm gì trong cái khoa tay kia?

Vượt qua thị xã Lai Châu, đường trường vẫn heo hút. Nhưng cách thị trấn Tam Đường (huyện lị Phong Thổ) vài chục ki-lô-mét đã lác đác có người đi đường, lúc lúc tốp ba cô, một cặp vợ chồng, lại hai cô, rồi bốn bà già,… đều người dân tộc đội ô dưới mưa nhỏ hạt. Quá Tam Đường xa, gần tới Bình Lư gặp một toán chừng một chục phụ nữ Mông còn trẻ, có người mang theo con nhỏ, giương ô đứng bên đường, trời vẫn mưa. Trong xe có người lên tiếng: “Họ đi chợ tình Sa Pa đấy”. Chẳng biết phải vậy không? Hôm ấy là thứ bảy, đúng phiên “chợ tình” vào buổi tối. Sa Pa còn cách… dăm chục ki-lô-mét!

Đâu Sơn La âm u

Câu hát “Sơn La âm u núi khuất trong sương mù…” của một nhạc sĩ cựu chính trị phạm thời Pháp thuộc ám ảnh tôi hoài cùng bài thơ cũng của một tù chính trị cũ vịnh đất tù Sơn La:“Non cao bốn mặt trùng trùng / Ngàn cây man mác, rậm rừng hoang vu / Một vùng trời đất âm u / Đêm hiu hắt lạnh, ngày mù mịt sương”. Nhà tù Sơn La cũ nằm trên một ngọn đồi, hồi đó bị toà công sứ Pháp án ngữ đằng trước, khu trại lính và khu gia binh ép kề bên, giữa bao la rừng hoang vây quanh. Thị xã Sơn La ngày ấy chỉ lèo tèo vài phố núi. Cơ sở “khai hoá văn minh” này của thực dân Pháp nay chỉ còn di tích. Năm 1952, sau khi ta tiến quân vào giải phóng Tây Bắc đợt đầu, quân Pháp đã ném bom xoá. Năm 1965, bom Mĩ lại bồi thêm “chiến tích” của đồng minh. Nay cả khu nhà tù chỉ còn lưu lại cổng, một số bức tường trên đó còn nguyên lớp vôi vàng ngày cũ (Sau hơn nửa thế kỉ! Dấu tích đô hộ thật khó phai!). Tường vây mới được phục chế sau này, cùng một số hạng mục cần thiết. Toàn cảnh hiện nay là những móng tường đá nham nhở, những mảng tường gạch trơ trụi, không kể khu xà lim ngầm ít suy suyển. Trên cảnh hoang phế đó, nổi lên khóm cây đào xanh um che mát cả một góc. Cây đào, truyền rằng do Tô Hiệu gieo hạt năm 1942 trong hành lang tuần tra của nhà tù và chăm sóc, từng bị mảnh bom phạt ngang, sau đó các chồi đã nẩy lên từ gốc cũ. Nhà tù này có cái lạ: mặt bằng các buồng giam thường có hình tam giác hoặc gần như thế trong cả khu nhà tù cũng có dạng tam giác, một kiểu “kiến trúc chéo” độc đáo. Chẳng lẽ lại là dụng ý một thứ đòn tâm lí hay cân não đối với người tù? Khỏi phải nói thân phận đọa đầy của người tù, phải làm ra cả những thứ để hành hạ mình như cùm, xích (có những khoen cùm nay còn “tốt”). Đấu tranh kiên trì, dai dẳng mãi đến 1941 mới giành được quyền tự quản, mới bớt được roi vọt, bớt được ăn chặn, hạch sách, mới có điều kiện chăm sóc nhau,… Đến đây, tự nhiên tôi nhớ đến ý kiến của một người quen. Ông ta là một đảng viên kì cựu, hơn bốn mươi tuổi Đảng. Ông ta nói: “Chẳng cần phải đấu tranh, chẳng cần phải đánh nhau để giành độc lập. Chế độ thực dân tự nó khắc phải tiêu (!)”. Một thứ “sung rụng luận” kì quái!

Đứng trên tàn tích nhà tù Sơn La, phía trước là những dinh thự mới, cột ăng-ten đài truyền hình cao vút, phía dưới, bốn chung quanh khu đồi, phố xá trải ra khá rộng trội màu trắng đỏ, núi gần xa chẳng còn hoang rậm, khách tham quan muốn hoài niệm một chút cũng khó. Ngay như với phần nhà tù Hoả Lò Hà Nội được bảo tồn nguyên vẹn, nhưng sáng quá, sạch quá, cũng chỉ để xem cho biết mà thôi.

Gần nửa trăm năm mới thấy đây

Tôi vốn hay tưởng tượng nhưng tưởng tượng khá là tồi. Đọc và nghe kể về thị xã Điện Biên Phủ đang trên đà phát triển, nhất là từ khi trở thành thủ phủ tỉnh Lai Châu, tôi chỉ hình dung ra vài ba phố xá ven chân núi phía tây cánh đồng Mường Thanh, cũng có nhà tầng, đường nhựa nhưng thưa vắng; những đồi nổi danh A1, C1, Him Lam,… nhô lên trơ trụi trong một không gian hoang vu.

Sự thật khác xa. Từ ngoại vi, cách trung tâm chừng 6km, đã có bóng nhà cửa đó đây. Bên kia một con suối, lưng chừng đồi, ngự một biệt thự xinh xắn hai tầng có thể đặt ven Hà Nội mà không sợ kém thớ. Thị xã bất ngờ mở ra với phố phường đông vui. Khu trung tâm có hai con đường đôi rộng rênh cắt vuông góc nhau. Một cán bộ tỉnh Lai Châu cho biết thị xã còn hai trung tâm nữa tuy không có đường đôi như thế. Đứng trên đỉnh đồi A1 hay đỉnh đồi Him Lam có thể thấy phố xá bao quanh tứ phía, qui mô chẳng kém một đô thị miền xuôi cỡ thành phố Hải Dương. Thị xã nằm phía đông sông Nậm Rốm. Bên kia, cánh đồng Mường Thanh trải rộng thảm lúa đang vào hạt, trên đó lộ rõ một vệt thẳng tắp như một vạch đậm: sân bay dân dụng được cải tạo và nâng cấp từ sân bay dã chiến của quân chiếm đóng Pháp ngày trước. Đường phố Điện Biên khá rộng và thẳng. Một số nơi rợp hoa bằng lăng. Dường như loại hoa này ở đây to hơn và tươi hơn ở Hà Nội, chẳng hạn. Có đầy đủ nhà hàng, khách sạn, quán karaôkê, quán giải khát,… Có hầu hết các thứ hàng công nghiệp mà các đô thị miền xuôi có. Giống thị xã Sơn La, có nhiều xe máy “ôm”. Xe xích lô ít và chỉ dùng để chở hàng. Như mọi đô thị đang phát triển, Điện Biên cũng bề bộn, song không có vẻ xô bồ. Sự hoạt động bon chen không lộ rõ. Dân phần lớn là người Kinh. Có những người đánh trận Điện Biên Phủ rồi ở lại góp phần xây dựng. Có những người đến đây thời phong trào “phát triển kinh tế, văn hoá miền núi” những năm 1960. Có những người đến công tác dân sự, quân sự rồi nhận làm quê mới. Có những người trôi dạt đến tìm thấy điểm dừng chân trên bước đường kiếm sống. Sự “Kinh hoá” một đô thị miền núi thường mạnh hơn sự “bản địa hoá” những người tới định cư. Điều này tất nhiên không có lợi mấy cho sự bảo tồn bản sắc dân tộc địa phương. Vùng thôn quê ven thị có nhiều người dân tộc, chủ yếu là người Thái, song cũng đã có nhiều người Kinh xen cư.

Dấu lưu chiến trường xưa

Dưới chân đồi A1 nổi tiếng, nghĩa trang liệt sĩ Điện Biên Phủ nằm trang nghiêm với nhà tưởng niệm trắng hình chữ A cách điệu, với lầu chuông vút lên trên một lễ đài trông xuống một quảng trường đủ cho những cuộc mít tinh vài ba nghìn người. Trong nghĩa trang, nhiều mộ không ghi tên; nghe nói để tránh người thân đến xin hài cốt liệt sĩ về quê(!). Thiết nghĩ, nếu có vậy thì cứ giữ nguyên mộ chí lại cũng chẳng sao.

[Một ý nghĩ chợt đến. Những quân Pháp tử trận được chôn vội tại chỗ trong các hầm hào; chắc phía những người thất trận cũng muốn có một nghĩa trang nhưng khó mà tìm để qui tập lại. Nghe nói có người Pháp đến thăm Điện Biên Phủ đã mang hoa theo nhưng rồi đành thả xuống dòng Nậm Rốm]

Các địa điểm liên quan đến cuộc chiến nay đều còn nhưng dấu tích tất nhiên khó còn nguyên vẹn. Trường hợp như đồi C1 bị bạt đỉnh đi để xây cột truyền hình cho đến nay là hãn hữu. Hầu hết các đồi, cây hoang mọc đầy, chiến tích chỉ lưu lại trên tấm bia. Đồi Him Lam, ngoài cây dại, một phía thấy mọc rất nhiều tre, một số nhà dân đã len đến chân đồi. Chỉ còn một đoạn hào nhỏ sắp bị đất trôi lấp hết gần tấm bia lớn trên đỉnh. Đồi A1 còn giữ được hầm ngầm cố thủ của địch, hố bộc phá khoét bung từ ruột đồi (hiện nông choèn), cửa vào đường ngầm để chôn bộc phá, một số đoạn hào. Hầm đặt sở chỉ huy tập đoàn cứ điểm, người ta quen gọi là hầm Đờ Cát, đã được tu tạo lại y như thật. Cầu Mường Thanh cũ khung sắt, lát gỗ, vẫn còn, cách cầu mới hiện đại chừng 500 mét. Tôi đứng lâu trên cầu cố hình dung những bước chân quân ta rầm rập băng qua vào chiếm sở chỉ huy quân địch, sau khi cứ điểm bảo vệ cuối cùng của chúng, đồi A1, thất thủ, mà khó quá. Chiếc cầu di tích và chứng nhân nằm buồn đó như mọi cầu hết thời khác, lạc lõng, dẫu từng lúc vẫn có người và xe đạp đi qua. Đường đi vào cầu phía thị xã ngự một cái chợ trời lem nhem, thứ chợ quê. Sông Nậm Rốm chảy dưới cầu giờ là một lạch nước con, dẫu không phải mùa nắng hạn, len giữa các bãi ngô tươi tốt phủ gần kín lòng sông. Người ta nói “thủ phạm” là hai mương thuỷ lợi đông và tây. Khi tôi ngỏ ý: sông Nậm Rốm cạn thật là đáng tiếc, cảnh quan lịch sử của Điện Biên Phủ giảm nhiều ý nghĩa và vẻ đẹp, một quan chức Lai Châu nói chắc chắn: “Sông ấy, sẽ phải bảo tồn”. Mong và tin sẽ là vậy. Gần đầu cầu, phía sân bay, một khẩu đại liên của Pháp ghếch nòng ảm đạm. Tàn tích chiến cụ của địch còn giữ được không nhiều. Hai chiếc xe tăng trên đồi A1 và gần hầm Đờ Cát, cánh quạt máy bay trên đồng Mường Thanh, … Không kể số đang trưng bày trong sân nhà bảo tàng (may mà “sáng kiến” bán sắt vụn kiếm ngoại tệ chưa bị huỷ hết những thứ đó như đã huỷ bao thứ ở các căn cứ quân sự địch xưa, nhất là của Mĩ).

Khách tham quan biết ơn địa phương đã gìn giữ – cho cả mai sau, những dấu tích chiến địa, đã dựng nhà bảo tàng, đã xây nghĩa trang cùng nhà tưởng niệm. Tuy nhiên, với lòng ngưỡng mộ, tôi có đôi chút bất như ý. Đến thăm di tích, người xem mong tìm lại, hình dung được, ít nhiều bóng dáng thời xưa, thời xẩy ra sự kiện. Nên chăng khôi phục lại một số đoạn hầm nào có tính chất đại diện hoặc điển hình trên các đồi, trên cánh đồng Mường Thanh, cả trên đồi A1, cả quanh hầm Đờ Cát. Hầm sở chỉ huy của viên tướng này tuy có rào ngăn bảo quản nhưng có vẻ như một “vật thừa” hoặc vật bị đặt lạc chỗ. Chiếc xe tăng gần đó cũng có vẻ như vật bị bỏ quên hoặc vật vứt đi. Hình như thiếu sự “tạo cảnh”, sự “kết liên” cần thiết để gây ấn tượng sâu cho du khách, để thu hút du khách, nhất là khách nước ngoài. Những xác chiến cụ địch còn “sót lại” trên chiến địa xưa hoặc được giữ trong sân nhà bảo tàng để dãi dầu mưa nắng như hiện nay, chẳng biết dăm chục năm nữa con cháu chúng ta còn được “xem” nữa không? Nhà bảo tàng là một cố gắng lớn của địa phương. Nhưng giá như các hiện vật, các mô hình,… phong phú hơn, “sát” hơn. Chẳng hạn, thành tích thồ xe đạp của dân công đạt kỉ lục 352 kg/chuyến, vậy mà vật trưng bày chỉ lèo tèo mấy bao con chất hờ hững trên một chiếc xe đạp nghiêng nếu đựng gạo thật thì chưa chắc nổi 100kg. Về thuyết minh, các cô hướng dẫn viên tỏ ra chịu khó, nói nhanh, gọn và lưu loát, – lưu loát quá, có lẽ vì quá quen thuộc nên vắng cái “thần” trong giọng nói. Nhiều chỗ quá giản lược. Bản đồ có đèn “tắt, mở” nhưng không biết tận dụng, để minh họa các diễn biến trên các chiến trường trước chiến dịch Điện Biên Phủ chẳng hạn. Cuộc chiến 55 ngày đêm được thuyết trình qua phim vi-đê-ô, phương tiện hiện đại đỡ sức người, điều đáng mừng. Nhưng hơi phiền là băng hình nhoè quá. Mặt khác, bàn mô hình chiến trường toàn cảnh bằng thạch cao to rộng kề đó thành thừa, không được tận dụng ít ra là kết hợp. So với những lần trước đây tôi được nghe và nhìn về chiến dịch Điện Biên Phủ thì lần này giản tiện quá, kém hiệu quả. Tôi đã được xem trong phòng hình tròn, ở Von-ga-grat, mô hình trận Sta-lin-grát và, ở Mat-xcơ-va, mô hình trận Bô-rô-đi-nô. Người ta khéo kết hợp mô hình di động với hình vẽ tạo ra được chiến địa mênh mông. Vách phòng như không tồn tại, trước mắt có cả chân trời; nếu không biết trước thì có thể ngỡ không phải là phông, là hình vẽ. Khách tham quan có thể nhìn bao quát cả chiến trường và diễn biến của cuộc chiến. Trận Điện Biên Phủ xứng đáng có một phòng như thế tại chỗ và tại Bảo tàng quân đội. Với kinh nghiệm của người ta và với kĩ thuật ngày nay, việc đó hẳn chẳng quá xa vời.

Nơi gần đây vẫn còn ít được biết tới

Thấy tận mắt sở chỉ huy của địch rồi, câu hỏi được đặt ra: vậy sở chỉ huy của ta ở đâu? Trước đây thấy bảo tới đó rất khó, chỉ có thể dùng trực thăng, tôi cứ nghĩ nơi ấy ắt nằm tít trong rừng sâu. Thực ra chỉ cách thị xã Điện Biên 10km theo đường chim bay và nằm trong địa phận xã Mường Phăng. Đường ôtô tới đó gần đây đã được làm, rải nhựa, dài hơn 40km, quanh quất nhiều dốc, nhiều ngoặt, nhiều chỗ nương theo đường mòn, đường kéo pháo ngày ấy chủ yếu luồn trong rừng già. Ngày nay, đường qua rừng tự nhiên chưa đến mươi ki-lô-mét quãng giữa, còn lại là rừng trẩu của chương trình 327 hoặc những sườn núi trụi, những nương rẫy, gần hồ Pa Khoang cả một dãy đỉnh núi bị gọt trọc.

Sở chỉ huy chiến dịch nay còn lại cái lán Tổng chỉ huy và lán Tham mưu trưởng. Lán bằng gỗ, tre, nứa được phục chế, gồm hai gian, mỗi bên rộng cỡ hơn chiếc chiếu đôi môt chút. Hai lán thông với nhau bằng một đường hầm dài 97 mét, cao chấm đầu người, chèn gỗ, nay mới khai thông lại được 7 mét chưa có chiếu sáng. Đường mòn từ rìa rừng tới lán, nay được lát những tấm xi măng hẹp vừa một người đi, từng đoạn men một con suối nhỏ, xa chừng hai ki-lô-mét. Một người từng phụ trách tài vụ năm ấy cho biết xưa kia các bộ phận của sở chỉ huy rải ra trong khu rừng này. Ông trỏ một đoạn suối bảo đây là nơi bọn ông sáng sáng đánh răng, rửa mặt, và trỏ mấy nhà sàn bên kia suối kể chuyện thỉnh thoảng ra đấy mua sắn về nướng “cải thiện”. Ngày ấy, nơi đây chắc là rộn rịp trong “bảo mật”. Nay thì chỉ là một rừng vắng, không rậm lắm. Giá như phục hồi phần nào (tượng trưng cũng được) những lán, những đường mòn, những cột, dây điện thoại, bếp hậu cần,… cùng những biển ghi, biển chỉ lối để gợi hoài niệm về cơ quan đầu não của một chiến dịch lịch sử.

Xã Mường Phăng là một xã giàu theo lời viên trung tá dẫn đường. Cư dân chủ yếu là người Thái. Nhà san sát men chân núi, hầu hết lợp ngói. Cánh đồng lúa nước khá rộng so với nhiều nơi ở các vùng bán sơn địa. Một trường Phổ thông Trung học Cơ sở khá khang trang. Đúng là một xã có vẻ khấm khá, hơn làng quê tôi.

Nhân dịp kỉ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ, người về thăm sở chỉ huy Mường Phăng khá đông. Buổi chiều chúng tôi đến, có hơn mười xe ôtô. Xe máy cũng nhiều. Có cả xe đạp, hẳn là từ những nơi gần quanh.

Trước lối vào khu di tích, đã hình thành một cái chợ con con bán đủ “đặc sản” địa phương: sắn luộc, mật ong, rượu, thuốc nam, ghế song, thổ cẩm,… Mấy cháu bé người Thái ôm mỗi cháu một bó lá rừng cả nhánh lẽo đẽo theo chúng tôi:

– Mời bác mua…

– Cây thuốc đó à?

– ừ.

– Sao lại “ừ”? Phải đáp “vâng” chứ!

– ừ.

– Cha mẹ cháu có làm gì không?

– Không.

– Có làm ruộng không?

– Có.

– Con nuôi lợn, gà, trâu không?

– Có.

– Vậy là có làm đấy chứ.

– ừ.

– Cháu có đi học không? Lớp mấy rồi?

– Có. Lớp Hai.

– Cây thuốc này nhà trồng đấy à?

– Không. Cháu không có tiền học, phải vào rừng lấy bán.

– Mỗi lần như thế được nhiều tiền không?

– Hai nghìn.

Người đi cùng tôi nhận xét là các cháu có vẻ “khôn” (hàm ý “láu”). Tôi không nghĩ vậy. Mà nếu có vậy thì cũng do người “dưới xuôi” chúng ta cả thôi.

Đường về, trời chiều đẹp tuyệt nhưng không ghé được hồ chứa Pa Khoang, một điểm sáng du lịch giữa núi rừng mà nếu nghỉ lại thì chỉ có sướng mê. Vì một cuộc tiếp xúc và chiêu đãi ngoài kế hoạch!

Một cuộc xuống bản

Cô hướng dẫn viên mặc váy áo Thái, thon thả, dễ thương, tiếng nói thanh, êm. Cô xưng cô là người Thái. Một ông trong đoàn hỏi, bỗ bã: “Thái thật hay Thái giả đấy?” Cô cười e lệ chạy đi, tiếng cười trong vắt như “nước suối giữa rừng”. Đoàn nhờ cô thu xếp cho một tối thăm một bản Thái nào đó. Cô bảo chương trình nên có ăn cơm Thái, uống rượu cần và múa xoè (với giá 60.000đ/người). “Ăn ngon, đảm bảo vệ sinh, các bác, các chú đừng lo”. Cô sốt sắng đi gọi điện lúc gần 12 giờ trưa. Hơn một giờ sau, vì có cuộc chiêu đãi đột xuất, trưởng đoàn nhờ cô báo huỷ mục “ăn cơm Thái” trong chương trình xuống bản. Cô lắc đầu:”Người ta đã đi chợ sắm các thứ rồi, không bỏ được”. Buổi tối, sau khi dự bữa ăn khá thịnh soạn, hơn ba mươi người lên xe đến nơi dự định, cách thị xã chừng năm ki-lô-mét.

Một ngôi nhà sàn bề thế, dài 15 mét, rộng 8 mét, cột gỗ tròn bào nhẵn, thưng ván, lợp ngói xi măng đúc. Một tấm màn hoa dày kéo suốt chiều dọc ngôi nhà che khuất một phần ba lòng nhà, hẳn là chỗ dành riêng cho những phòng nội thất. Một bữa ăn ê hề đã bày sẵn trên sàn đợi khách. Sáu mâm thẳng hàng gần sát tấm màn che. Mỗi mâm xen một người của chủ nhà để tiếp: vợ, chồng, con, dâu, cháu họ. Món ăn là đặc sản “cây nhà lá vườn”(chứ chẳng phải “đã đi chợ sắm các thứ rồi”): da trâu nướng, cá nướng, thịt bò nướng, thịt dê nướng, nộm thịt, măng bao tử luộc, canh bí ngô xanh, xôi dẻo và rượu tự chế. Chủ nhà lấy làm tiếc rằng do bận tiếp một quan chức cao cấp từ Hà Nội lên dự lễ kỉ niệm vào ngày mai nên không làm cơm lam được. Ông là người to con, 64 tuổi, rắn rỏi, nói tiếng Kinh rất sõi, giọng vang, khoẻ. Ông luôn miệng giục khách nâng chén, cầm đũa. Ông đến từng mâm khuyên mời:”Của nhà làm ra, vệ sinh, không quí không mời khách. Người Thái ăn dai, đừng ngại ngồi lâu (ông đã biết khách vừa rời một tiệc xong)”. Ông đích thân xé những khúc cá ao nhà to đầy đĩa bỏ vào bát khách. Trước khi xé, ông xoè hai tay “Tay tôi sạch đấy nhá”, còn lấy giấy vệ sinh lau nữa. Nhưng hỡi ơi! Bụng của khách chẳng phải là bụng Lê Như Hổ hay bụng Trạng Ăn trong truyền thuyết. Cách chưa đến nửa giờ, dẫu trưởng đoàn đã khuyến cáo “chỉ ăn nửa bụng thôi!” thì cũng chẳng ai “nỡ” ăn nửa vời, chính trưởng đoàn cũng chén tì tì. Bây giờ các vị “lịch sự” nếm mỗi thứ một tí. Thức ăn không thật lạ, nhưng xôi thì dẻo cực kì. Nhưng … cái gì cũng có thể “cố” được, chứ kẻ đã no thì… Mới hiểu thế nào là “thừa mứa”. Một bữa ăn phi lí và vô duyên!

Bù lại, khách được rộng tầm mắt qua câu chuyện cởi mở, khoáng đạt của chủ nhà. Năm 18 tuổi, ông vào dân quân tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Bản Long Nhai của ông bị giặc Pháp ném bom huỷ diệt ngay buổi đầu. Ông thoát chết nhờ đi tắm. Bản chuyển về đây thuộc huyện Điện Biên tây từ năm 1983, vẫn giữ tên cũ. Dân xã gồm 51% Thái, 43% Kinh, còn lại là Khơ Mú. “Xã tôi chưa giàu lên đâu, tạm vậy thôi. Còn 8% nghèo”. Ông từng làm chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp, nay làm bí thư chi bộ, đã 21 năm. “Muốn thôi, nó chưa cho thôi”. Bà vợ cũng còn khoẻ mạnh, lanh lợi có vẻ quen giao tiếp. Ông bà có đến 10 con. Hỏi làm sao mà khá giả, ông hồ hởi: “Tôi định làm nhà khách to. Sáu Dân bảo: làm nhà khách dân chửi đấy. Biết Sáu Dân chứ gì (S.D. là tên thân mật của cựu thủ tướng V.V.K.)? Tôi bèn làm trang trại”. (Trước khi ra về, tôi được ông chủ dùng đèn pin dẫn đi xem vườn cây ăn quả – táo đang đâm chồi, vải vào quả xanh rất sai; ruộng lúa tẻ, lúa nếp rất dày, thấp cây 40 – 50cm, đã vào mẩy, chủ nhà ước năng suất 7 tấn/ha/vụ; – ao cá trắm nuôi bằng giống tự cho đẻ. Dưới nhà sàn khá sạch, khô ráo, chỉ để nông cụ).

Bữa ăn gượng gạo vừa dứt, dưới sân trước nhà đã nổi tiếng trống và tiếng chập choeng rộn rã, thúc giục. Đám xoè bắt đầu. Hơn chục cô gái được triệu tập đến. Múa tập thể vòng tròn và múa đôi. Múa thì đơn giản, chỉ cần vung mạnh tay và dập bước chân cho ăn nhịp. Giữa vòng tròn là vò rượu cần. Từng lúc, người xoè xúm lại mút cần. Rượu nếp ủ men để nguyên không chưng cất. Có thể múa và mút thâu đêm. Được biết nhiều đoàn khách, trong nước và nước ngoài, đã từng về đây ăn, uống và múa. Có đoàn “Tây” ngủ lại ba đêm liền. Nhà chủ sẵn chăn màn cho khách. “Nhảy với Tây mệt lắm, nó vung tay rất khoẻ và nhảy dai”, một cô thổ lộ. Lối sinh hoạt này “phục vụ khách du lịch” tất nhiên mang tính dịch vụ. Cô hướng dẫn viên “người Thái” hoá ra là người Kinh, con một quan chức của tỉnh, em kết nghĩa của chủ nhà tối đó. Cô thường tổ chức cho khách về đây. Các cô gái được gọi đến xoè gần như là chuyên trách. Dĩ nhiên chẳng phải là “gái xoè” như xưa kia. Dù sao, đây cũng là một “mục văn hoá” mang màu sắc dân tộc cần duy trì, nhưng cũng cần phải được nâng cao hơn, cần “có bài bản”, tránh đơn sơ, đơn điệu và dung tục hoá, nghĩa là cần hoàn thiện hơn và “giữ gìn”.

Lễ kỉ niệm

Sân vận động Điện Biên với khán đài bao quanh không lớn chứa tới 12.000 người dự mít tinh mừng chiến thắng Điện Biên Phủ, một cuộc tập hợp và biểu dương lực lượng ngày nay không mấy hấp dẫn dưới xuôi. ở đây, phía ngoài sân vận động, trên đồi, trên mái nhà, trong phòng học, phòng họp trông ra chen đầy người với đủ sắc màu của áo quần, mũ, ô (có lúc mưa nhỏ).

Cuộc mít tinh cũng mở đầu với đủ lệ bộ các bài diễn văn. May mắn là không lê thê. Phần lớn thời gian dành cho diễu hành và đồng diễn. Diễu hành quân và dân. Ba màn đồng diễn với qui mô hàng nghìn người của học sinh các trường Sư phạm và phổ thông. Có thể ngỡ như đang xẩy ra ở một thành phố dưới xuôi. Hơi tiếc là ba màu dùng trong các màn đồng diễn hơi gắt, không hài hoà mấy. Cũng là những màu trên thổ cẩm đấy thôi, song trên thổ cẩm là những hoa văn quyện vào nhau lại phối hợp với các màu khác nữa. ở các màn đồng diễn là từng màu riêng biệt trên cờ, băng, quần, áo.

Có hai phóng viên nước ngoài, của AFP và của Roi-tơ. Cô người Anh thuê người Việt cầm máy nên ung dung khoanh tay đi lại nhìn ngó. Những gì họ quan tâm khác với các phóng viên trong nước. Có khi người phóng viên Pháp chỉ quay những bước chân diễu hành của tốp trẻ nhỏ. Các nhà báo của ta thì nhao lên chen nhau chụp, quay khi có quan chức cao cấp bước lên bục nói.

Cuộc mít tinh như vậy là được. Nó không tưng bừng như ngày trước, song không miễn cưỡng. Buổi chiều, khi chúng tôi đến thị xã Lai Châu một cô bác sĩ người gốc dưới xuôi, còn rất trẻ, quan tâm hỏi: “Buổi lễ có vui không bác?” Cô tiếc vì phải làm việc không về Điện Biên dự được.

Dịp này, một nữ kí giả Anh từng phụ trách ban Việt ngữ đài BBC có viết cho đài này một bài bình luận với nhận xét có hàm ý rằng: mọi năm lễ kỉ niệm tổ chức tại Hà Nội mà nay chỉ tổ chức tại chỗ và không thấy những nhân vật trọng yếu của Điện Biên Phủ năm xưa .v.v… Bà đầm Anh già này chưa bao giờ tỏ ra có thiện ý với Việt Nam trong các bài bình luận khi còn tại chức, nay đã về hưu vẫn là con chiên của lập trường chính thống Anh. Ngẫm ra, chẳng đài nào thật sự khách quan, vô tư, nhất là những đài do nhà nước quản lí hay tài trợ. Chợt liên tưởng tới một phát thanh viên của BBC, gốc Việt, ông X.K., người từng tán tụng đài là “khách quan, vô tư”, một lần sau khi nghỉ hưu, trả lời phỏng vấn của chính đài này đã khuyên thính giả đừng tin những điều ông ta đã đọc trên đài và “Tây hay Đông đều là đồ chó đẻ”. (Đáng khen là BBC đã cho phát những lời này, điều mà không phải đài nào, nhất đài của các nước XHCN, cũng dám làm!).

Một thị xã hẩm hiu

Theo rõi dự báo thời tiết, sẽ thấy nhiều khi “riêng Lai Châu” nhiệt độ cao hơn về mùa rét so với lân cận. Phần trên của tỉnh Lai Châu được dãy Hoàng Liên Sơn chắn gió mùa đông bắc. Người Điện Biên bảo thị xã Lai Châu mát hơn và ấm hơn. Nhưng thị xã này không còn là tỉnh lị, nhường cho Điện Biên.

Mọi đô thị trên đất nước ta đều đang có chiều hướng phình to và nhô cao. Riêng thị xã Lai Châu có vẻ teo tóp đi. “Ngày vui” của nó quả “chẳng tày gang”. Cách mạng tháng Tám chưa kịp thấm thì năm 1946 bọn Pháp bại trận trước quân Nhật chạy qua Vân Nam trước đó đã quay lại chiếm cứ cho đến cuối năm 1953 khi quân ta lại vào giải phóng tiếp miền Tây Bắc, trước trận Điện Biên Phủ. Thị xã tỉnh lị Lai Châu “cầm chừng” trong một thời gian dài do vị thế phải trực diện đương đầu với địch họa và thiên tai, đang dần cố ngoi lên thì năm 1997 bị một trận lũ quét khủng khiếp. Ngấn nước còn lưu lại nhiều nơi. Tang chứng đập vào mắt nhất là xác nhà Văn hoá của tỉnh. Ngôi nhà to rộng, bề thế bằng bê tông cốt thép bây giờ đứng trơ khung bên đường. Lại thêm nỗi bị mấy kẻ túng quẫn vào đập phá lấy sắt thép đi bán làm cho càng thảm hại. Tình cảnh “ngoi ngóp” chưa biết đến bao giờ. Ai có vai vế, ai giàu có đều lần lượt dời đến Điện Biên hoặc nơi nào khác. Chẳng đâu giá nhà rẻ như ở đây. Một ngôi nhà hai tầng, có vườn rộng phía sau, rao giá mười triệu đồng chưa có người mua. Mai ngày, nếu làm nhà máy thuỷ điện Tạ Bú thì nơi này có cơ chìm sâu dưới hai mươi mét nước. Hiện tại, người dân thị xã Lai Châu vẫn phải sống, vẫn bươn chải. Chủ yếu là buôn bán. Một ít lâm thổ sản. Khách sạn tư nhân L.A. có một kho quả bồ hòn bán buôn, có chuồng nhốt thú rừng, một con mèo rừng và một con gấu đang chờ khách “gọi món đặc sản”. Những cửa hàng tạp hoá nhỏ ê hề hàng Trung Quốc nổi bật là ô các loại và đồ nhựa, thứ mà ta sản xuất chẳng thiếu.

Phía ngoài thị xã Lai Châu, trên đường đi Phong Thổ, một cây cầu dài, cầu Hang Tôm, bắc qua sông Đà. Cảnh trí thật đẹp. Chiếc cầu vắt vẻo trên sông, bên dưới nước đỏ phù sa (đang mùa mưa) tuôn ào ạt; hai bên núi lô nhô uốn lượn, rừng cây thấp thoáng xa, đây đó những mảnh vá nương rẫy trên sườn núi sẫm. Chắc chắn là lần cuối cùng tôi được nhìn lướt qua.

Về đây mây núi Sa Pa

Hè năm 1962, tôi đến Sa Pa. Mấy dòng nhật kí: “Từ Lao Cai lên Sa Pa bằng xe chở lợn (xe tải) ngồi trên ghế dài học trò. Đường toàn lên dốc, ngoằn ngoèo. Mưa nhỏ nhưng rát và lạnh. Xe đi trong mây mù. Nôn nao, mấy lần toan oẹ. Sa Pa là đây! Một phố nhỏ ngắn ngủi với một ít nhà gạch còn sót lại. Mấy ngả đường lổn nhổn đá quanh co ven đồi, lên xuống. Những nền nhà và đường trơ trụi, di tích của những biệt thự và khách sạn xưa kia, một thời phè phỡn của bọn thực dân và quan chức, rải rác đây đó. “Trạm nghỉ mát” vừa xây xong trên nền khách sạn Fansipan cũ. Đứng trong hiên nhìn ra lòng thung chếch trước mặt khí núi đùn lên như những mớ bông khổng lồ từ từ dâng cao khó nhận thấy; đỉnh Phăng-xi-păng khuất trong mây trắng. Chiều tối, sương mù như khói loãng tuôn vào tận phòng. Không khí mát lạnh như vào cuối thu dưới xuôi…”

Lần đến Sa Pa này, không có duyên với mây núi. Buổi chiều hôm đến, mưa nhỏ hạt cho tới khuya. Hôm sau trời nắng to, chẳng bảng lảng chút mây mù nào. Sáng ngày thứ ba rời đi, tôi thèm có lại cái ấn tượng gần bốn mươi năm về trước. Sa Pa ngày ấy đẹp hoang sơ. Rất ít nhà và hiếm người. Một ngôi trường tiểu học cổ, lèo tèo học sinh. Một cái chợ không lều chợ; một dúm người bán và mua, mới họp đã tan. Được cái cảm giác sống giữa thiên nhiên cao rộng, phóng khoáng làm tâm hồn lâng lâng, bước chân lâng lâng. Leo núi, xuống suối, dạo bộ quanh quất, thăm mấy vườn đào, vườn hoa đơn lẻ… Duy, cảnh vắng khiến mủi lòng thương mấy cô gái Hà thành làm việc tại đài Vật lí địa cầu. “Đài ở trên đỉnh một ngọn đồi cách chợ Sa Pa độ hai cây số đường vòng vèo và 70 mét bề cao. Nhiều hàng cây pơ mu, phong cảnh có màu sắc ôn đới, tĩnh lặng, quá tĩnh lặng. Bóng một tà áo trắng, một khuôn mặt trắng hồng dưới làn tóc uốn nghé nhìn ra, thấy du khách, có mấy chàng trai, lập cập kéo dẹp tấm màn che cửa sổ, vội quá làm đứt dây treo… Sa Pa, thăm thì thú vị, ở thì buồn”.

Sa Pa bây giờ đã là một thị trấn thực sự với nhiều khách sạn, nhà hàng, công và tư, nhiều nhà lầu. Chỗ xưa kia là trường tiểu học và đài liệt sĩ nay là những đường phố rải nhựa san sát nhà cửa. Phố xá ngày ấy chỉ còn lại ngôi nhà thờ đá và cái gọi là “nhà thầu”. Chợ nay được xây khang trang hai tầng. Tầng trệt, chủ yếu là thực phẩm và hàng ăn, thưa thoáng. Tầng trên, chủ yếu là hàng vải, la liệt đồ thổ cẩm; có nhiều phòng trống hoặc khoá cửa. Dân các bản đến chợ chẳng mua bán mấy. “Phải bán gỗ pơ mu mới có tiền tiêu”, một thanh niên nói “hồn nhiên” (pơmu là loại cây quí hiếm cấm khai thác bừa, nhưng vẫn bị chặt trộm khá liều). Lâm thổ sản Sapa đâu có thiếu những thứ có giá khác: sa nhân, thảo quả, tam thất, nấm hương,… Người cùng phòng trọ với tôi kể rằng: năm ngoái ông ta lên đây có vào nhà một tỉ phú người Mông. Nhà lầu, xe mỏy dream, máy phát điện, các tiện nghi hiện đại; từng đống bao tải nấm hương, mộc nhĩ,… Anh ta bảo vừa có hổ, gấu, trăn nhưng khách Hà Nội lên mua hết rồi. Cảm thấy ở đất này thiếu chương trình, kế hoạch, thiếu hướng dẫn người dân. Vì sao mà những thứ cần giữ, cần bảo vệ cứ bị diệt dài dài?

Chợ Sa Pa mãi tới gần sáu giờ rưỡi sáng mới lác đác có người bày hàng. Ngoài cửa chợ có những hàng quà sáng như dưới xuôi: xôi, bún, bánh mì,… Người bán, dáng dấp, nói năng thì rõ là người Kinh, song hỏi đến lại bảo là người dân tộc. Một chị bán chuối bị gặng hỏi thì lặng thinh. Bà bán xôi bảo là người Nhắng, nhưng tối hôm trước ngồi bán mía lại bảo là người Giáy. Một số thanh niên cũng hay xưng như vậy. Những “người dân tộc giả” làm ảnh hưởng xấu đến bản sắc dân tộc thật, xét cả hai phía.

Nhiều cháu bé sinh ra và lớn lên ở Sa Pa. Các cháu thì không giấu gốc Kinh của mình, và không thật mặn mà với nơi “chôn rau cắt rốn”. Một bé gái, quê Thái Bình nói: “ở đây chán lắm. ở quê nội thích hơn vì mát (?) và được các cô chiều”. Một bé trai học lớp Một, cha làm thợ mộc, mẹ làm cấp dưỡng tại trường dân tộc nội trú, không biết tên quê quán, có ông bà nội, nhưng hè thường về với ông bà ngoại, thì “không thích quê vì nóng, nhưng lại thích vì có bạn”. Những cháu bé này lớn lên sẽ lưu giữ những gì trong chiều sâu kí ức ấu thơ đây?

“Chợ tình” Sa Pa

Các vùng phụ cận Sa Pa có nhiều dân tộc thiểu số, đông nhất là người Mông, rồi người Dao. Ban ngày, nhất là buổi sáng, hay gặp ở Sa Pa những tốp phụ nữ người dân tộc, đông các bé gái 15, 16 tuổi, ngồi tụm lại đâu đó hoặc đi dọc các phố. Họ chào bán các thứ: túi thổ cẩm, vòng bạc, mật ong,… Họ rất thích được gọi vào hát hoặc đứng chụp ảnh chung, có thù lao. Một bé gái người Mông khá xinh gùi rau lợn sau lưng đang cùng bà mẹ trên đường từ chợ về bản, ngang dốc gặp một toán khách du lịch.“Đi chợ tình về đấy à?” (hôm trước là thứ bảy) “Mới 16 tuổi chưa lấy chồng được, không đi chợ tình”. Mấy ông rủ cô chụp ảnh. Bà mẹ nói: “Phải cho nhiều tiền à!” Chụp xong, đưa 5.000 đồng. Cô bé không chịu. Tưởng chê ít, mãi mới rõ là cô cần ảnh. Người ta phải hứa là sẽ gửi ảnh, cô mới chịu. Bà mẹ thì đã nhanh tay nhận tiền rồi. Hỏi địa chỉ để gửi ảnh, biết bé là con một chủ tịch xã.

Tối thứ bảy, người dân tộc rủ nhau đến phố. Thường là thanh niên, cũng có các cặp vợ chồng, đôi khi mang cả con nhỏ theo. Đường xa, đèo dốc cũng đi, có thể mất cả buổi. Một số trước tiên đến lễ ở nhà thờ đá, nhà thờ đạo Cơ đốc La Mã. Đông người dân tộc theo đạo này. Nhà thờ chật ních. Lễ xong chừng tám giờ tối, họ hoà vào đám đông đến với cái gọi là “chợ tình”.

Có nhiều bài báo viết quá lời về chợ tình Sa Pa, hoặc thi vị hoá, hoặc gán cho nó tính chất hội trao duyên.

Chúng tôi không gặp may khi định tìm hiểu. Tối hôm ấy trời mưa dai lất phất, đường nhớp nháp. ở những nơi vốn đông nghịt vào dịp này -trên đường phố chứ không phải trong chợ, nay thưa thớt người. Đón đầu một chàng trai Mông hỏi chuyện.

– Lần trước mình đã “bắt” được rồi, thằng bạn tranh mất.

– Bắt như thế nào?

– Trao một mảnh giấy hoặc hỏi “có đi không?”, nó đồng ý là được.

– Có hát không?

– Hát cũng được. Mình thì không hát.

– Mấy cô đi sau kìa, bắt đi!

– Cùng họ, không bắt được.

– Có hai cô đang tới đấy.

Cậu trai Mông đến đón đường nói gì đấy bằng tiếng dân tộc. Hai cô né ra bỏ đi. Cậu ta bảo chúng tôi: – Người Dao. Không hiểu tiếng.

Một tay rõ ra là người Á đông, trạc ba mươi tuổi, đội một cái mũ vải to vành có chóp nhọn như chóp nón, mặt lầm lì. “Chinese?” Lắc đầu. “Japanese?” Lắc, vẻ khó chịu. Mãi rồi hắn mới mở miệng, giọng hơi gằn: “Corean”. Chúng tôi quay đi. Một chị cùng nhóm (gọi là “chị” nhưng sắp có cháu nội) chạy tới kêu: “Thằng kia -chỉ gã đội mũ vải có chóp- muốn ‘bắt’ em”. Mấy chị cùng nhau cười rất vui vẻ.

Có bốn người da trắng, hai nữ, còn trẻ. Hỏi ra, hai cặp vợ chồng người Pháp. Nhân vui chuyện, hỏi đùa một anh: Cho vợ đi “chợ” chứ? Anh ta cười tủm, lắc đầu quầy quậy: Không! Không!

Hỏi chị vợ: – Vậy chồng thì được phải không?

Chị ta cười ròn: – Cũng không được.

Một anh hỏi: – Chợ t́nh là thế nào?

Tôi nói: – Không phải chuyện mua bán đâu.

– Cho? -Họ hỏi lại.

– Không phải chuyện tình dục. Chủ yếu là người ta tâm sự với nhau, có khi hát đối đáp.

Một bà già chẳng rõ là thuộc dân tộc nào cứ sán đến đòi bán vòng bạc, thổ cẩm, luôn miệng: “Mua đi! Mua cho tôi! Tôi nghèo lắm” Bà ấn cái túi thổ cẩm vào tay người Pháp: “Mất nhiều ngày mới dệt được đấy. Nghèo lắm, mua cho tôi”. Họ vẫn không mua, tôi phải nói khéo mãi để bà già thôi ám họ.

Hôm sau, tôi hỏi chuyện một số người địa phương. ở “chợ tình” khi đã “bắt” nhau thì có thể tâm tình suốt đêm mặc người xung quanh, đứng ngồi, “nằm” cũng được. Với người Mông, bắt nhau, hò hẹn phiên sau, thật ưng nhau rồi người trai chỉ việc dắt về làm đám cưới. Có trường hợp ưng nhau ở chợ tình nhưng cô gái bị chàng trai khác “cướp” về nhà. Trong vòng ba ngày, nếu cô gái chẳng chịu ăn gì thì được thả. Nếu cô chịu ăn thì nhà trai mổ trâu mời họ hàng, dân bản, nhà gái đến ăn uống. Riêng nhà gái còn được phần mang về. Làm vợ rồi, đến phiên chợ tình gặp người cũ mà còn vương vấn thì chồng cũng đành chịu. Nhân đấy, được biết thêm chuyện “kết hợp” nam nữ lắm vẻ, tuỳ sắc tộc. Người Dao “quản lí” lỏng. Lập luận đại loại: “Của tôi mà. Nhà nước có quản lí đâu”. Người Giáy thì “nghiêm chỉnh”, tuyệt đối theo chồng.

Cảnh đẹp Sa Pa

Thác Bạc cách Sa Pa hai ki-lô-mét. Từ độ cao dăm chục mét, nước đổ xuống trắng xoá. Tôi đã đọc một bài báo ở đâu đó phàn nàn việc nổ mìn phá đá để xây hai đường bậc thang leo lên gần đỉnh thác làm hỏng cảnh thác Bạc, và thác chỉ còn một cái khe con róc rách từ trên cao chảy xuống. Tôi có dịp hỏi chuyện mấy thanh niên địa phương. Họ nói:”Việc sửa sang thác Bạc có làm mất cảnh quan tự nhiên, song cũng làm đẹp lên. Còn thác thiếu nước hoặc ít nước đi là do rừng bị phá”.

Sa Pa có khu du lịch Hàm Rồng với những cái tên nghe đã hấp dẫn: Vườn lan, sân mây, rừng đá, sân ngắm đầu rồng, cổng trời, khu cắm trại và vườn quả, động Tiên sơn (thật ra chưa thành động),… Leo núi dốc và dài. Bù lại được thở không khí thanh thoát, trong lành (có lẽ nhờ vậy mà ít mệt hoặc mệt chóng qua) và thoả mắt ngắm nhìn: trước mặt là Phăng-xi-păng, nóc nhà của đất Việt, một màu xanh lam thắm (thực ra vào hôm có mây núi nhìn thích hơn), phía dưới là phố xá bày ra như ở các thị xã Sơn La, Điện Biên nhưng nên thơ hơn vì cái thế cheo leo. Một du khách người Phú Yên nhận xét: So với Đà Lạt, Sa Pa còn giữ được vẻ hoang sơ. Tuy nhiên, thị trấn đang dự định phát triển phía tây bắc, và xây dựng một “làng dân tộc – phong cảnh” ngay trong khu Hàm Rồng. Phát triển là chuyện phải có. Vấn đề là giữ cho được cảnh quan đặc trưng, giữ cho được màu sắc thiên nhiên Việt Nam.

Nhà thơ Xuân Diệu trong một bài thơ về Sa Pa có nói đến Thác Bạc, Cầu Mây. Cầu Mây giờ đã được (bị?) thay bằng cầu gỗ nghe chẳng được hấp dẫn như trước đây. Dẫu vậy, vẫn là nơi đáng thăm. Tuy nhiên trưởng đoàn Hạ khăng khăng: thăm thác Cát-cát (?) trước, còn thì giờ sẽ đến Cầu Mây sau. “Cát-cát”, có lẽ từ tiếng Pháp cascade nghĩa là thác mà ra, là nơi hồi trước có nhà máy thuỷ điện nhỏ. “Cát cát còn hơn Thác Bạc nhiều lần”, trưởng đoàn khẳng định. Đường đến đó khoảng bốn ki-lô-mét toàn xuống dốc. Xưa từng có đường rải đá đến lưng chừng, đi tiếp chỉ có đường mòn qua sườn cỏ dốc. Đoạn đường mòn sau này đã được xây thành bậc xi măng, nhiều chỗ dốc trên 60 độ (trưởng đoàn đếm được 973 bậc). Đoạn đường đá lở lói nhiều đang được lót thêm đá để rải nhựa. Đá lấy từ suối, đập nhỏ rồi gùi lên. Người làm là thanh niên Mông, trai thì đập, gái thì gùi. Các cô gái người nhỏ thó, nhiều cô chỉ cỡ 15, 16 tuổi cõng cái gùi đá to hơn người leo gần nghìn bậc thang dốc đứng đến mút đường đang rải đá, còn phải đi nữa, dưới nắng gắt. Dẫu là Sa Pa thì dưới nắng cũng chẳng mấy dễ chịu, nhất là trưa và chiều, đi không cũng đã túa mồ hôi rồi. Hỏi tiền công được bao nhiêu, lắc đầu không biết. Khổ thân các cháu! Chắc là bở các “cai đầu dài”.

Hai bên đoạn đường có bậc xi măng, trước trống trơ, giờ lác đác nhà dân người thiểu số. Vài nhà bày một ít chai, lon nước giải khát. Một nhà, một bé gái chừng 12 tuổi đứng cửa mời chào. Mấy lần gặp tốp các bé sáu, bảy tuổi chìa tay xin “cho tiền ăn kẹo!”.

Có nhà, có người cũng làm vui đoạn đường. Hiềm một nỗi, mùi khai nước đái trâu bốc lên nồng nặc, và từng lúc lại có một hoặc vài con chó xồ ra sủa ỏm tỏi khiến khách du hoảng, lo cho cái bắp chân.

Xuống đến suối, một dòng suối nhỏ nước tuôn trào trên đá tảng, cũng đẹp mắt đấy, nhưng so với thác Bạc là chuyện buồn cười. Hỏi thăm đường vào cái thác “đẹp hơn thác Bạc” người ta bảo không có đâu, đi lên nữa cũng thế này thôi. Trưởng đoàn ngồi thừ ra. Năm trước, ông ta dẫn một đoàn trên đường đến đây bị mưa chạy vào trú trong trụ sở uỷ ban nhân dân một xã người Mông bị bắt giữ vì cái cớ rất vớ vẩn, mất cả vui. Ông chỉ mới nghe về thác “Cát cát”, chưa tìm hiểu kĩ. Lẽ ra nên dành thì giờ eo hẹp thăm Cầu Mây và “bãi đá cổ” nơi có dấu tích chữ viết thời tiền sử ở nước ta. Biết sao được! Trưởng đoàn thì cứ là trưởng đoàn. Dù sao cũng cảm ơn cuộc đi này. Được biết những chuyện mà những người hoạch định và thực hiện các “công trình du lịch” không biết hoặc không để tâm biết.

Một thoáng hai bên biên giới

Lao Cai năm xưa chỉ có mấy phố lụp xụp với con đường chính lượn khúc ven sông. Đi trong phố cũng thấy được đường xe lửa gần như song hành. Cầu treo lùng bùng vượt sông Hồng sang Cốc Lếu, một cái chợ gần như lộ thiên. Tôi đã ngủ đêm tại đây trong một quán trọ “bình dân” có phong vị lữ điếm trong các câu chuyện cổ. Bốn mươi năm rồi. Sau đó, người ta đã xây dựng lên một thị xã – tỉnh lị, tuy còn đơn sơ cũng đã khởi sắc. Nhưng rồi năm 1979 bị quân xâm lược Trung Quốc san thành bình địa. Cũng như ở Phong Thổ, Sa Pa, những người dân ngày ấy còn sót lại kể rằng những gì không cướp đi được chúng phá sạch, thậm chí đặt mìn phá đến cả ghi đường sắt. Lao Cai bây giờ đường phố rộng rãi, tuy có vẻ hơi cũ cũ, song xây dựng còn dở dang. Nhiều cửa hàng, khách sạn đề ba thứ tiếng Việt, Anh, Hoa. Cầu qua sông Hồng kiên cố. Chợ Cốc Lếu cũng hai tầng như chợ Sa Pa nhưng nhiều gian hàng hơn, bề bộn hơn. Đầy hàng thổ cẩm; kẹo bánh nội nhiều; nhưng cũng đầy ắp vải Tàu, chăn Tàu,…

Làm thủ tục để ghé thăm đất “bạn”, thị trấn Hà Khẩu. Khác với ở Lạng Sơn, Móng Cái, lệ phí cao bất ngờ, 60.000 đồng/người, chưa kể tiền ảnh. Xếp hàng đến nửa giờ để lấy dấu vào giấy thông hành. Người đóng dấu bên ta chẳng cần nhìn mặt, nhìn ảnh. Còn bên kia thì chẳng buồn cầm giấy tờ, chỉ ra hiệu chìa chỗ cần đóng dấu ra thôi. Xem ra ở cửa khẩu nào cũng có chuyện làm chiếu lệ, nhất là phía bên ta. Người mình qua biên giới khá đông, mua bán kiểu cò con, tay xách nách mang, thì nhiều. Không nhìn thấy sự sách nhiễu. Một tay kiểm dịch viên, chắc là người Hán, còn trẻ, béo tốt, phổng phao, mắt gườm gườm, mặt lầm lầm, lảng vảng nơi rào chắn chẳng biết vì cớ gì.

Hà Khẩu chỉ rộng chừng 5km2 nhưng đường phố chính và nhà cửa khang trang, có mấy ngôi nhà trên mười tầng. Các cửa hàng đều đề chữ Hán, vài nơi có thêm hàng chữ Việt nhỏ bên dưới (khác hẳn bên Lao Cai!). Hầu như không bán hàng nước ngoài. Mấy vị khách Việt nhà ta thích lùng mua thuốc hiếm như mật gấu…, và đồ chơi. Một ông đại tá mua một lúc bốn khẩu súng “hiện đại” có tiếng nổ “pằng, pằng” chói tai và tiếng hô xung trận bằng tiếng… Tàu! Ông ta hể hả lắm: “Bốn đứa cháu tôi rất kén đồ chơi. Cho chúng mừng, mà không tị nhau”.

Chúng tôi đang đi với chị P, người hướng dẫn, một trưởng phòng của Sở Du lịch Lao Cai, chợt một hột mận từ một gác hai ném xuống. Chị P chép miệng: “Chúng nó ghẹo người thanh niên kia đấy”. Chị cho biết có đến hàng mấy nghìn gái Việt “làm ăn” ở đây, thường ở các hiệu gội đầu trên gác hai. Chúng trắng trợn chào khách. Còn bày trò moi tiền. Chị kể: “Một ông già bên mình sang đây tham quan, một đứa chèo kéo vào gội đầu, sửa móng tay. Ông ta từ chối, bảo không có tiền. Nó nói ngọt: “Cháu chỉ làm giúp thôi”, không chịu buông tha. Làm xong, nó lẩn đi, chủ ra đòi tiền, lột đồng hồ của ông già”. Người Tàu cũng có gái làm tiền nhưng kín đáo hơn. Chị P than thở: “Thật xấu mặt người Việt mình. Có mấy người Tàu sang Lao Cai lùng gái. Bảo không có đâu, chúng nói: Bên kia con gái Việt Nam đầy ra đấy. Bọn em phải giải thích: Đó toàn là bọn hư. Bọn hư thân mới trốn sang đấy. Bên này phụ nữ đứng đắn có đâu như bọn chúng”. Viết những dòng trên tôi thấy ghê ghê, nhưng âu cũng là điều cảnh báo.

Ở Hà Khẩu có một nơi được gọi là “chợ Việt Nam”. Thật ra đấy là khu vực, không lớn, mà hầu hết các gian hàng là của người Việt. Họ thuê phòng của địa phương bán các hàng Việt Nam: nông lâm sản, hàng thủ công, hàng công nghiệp tiêu dùng (ít thôi) từ cái quạt nan cho đến giầy dép Bình Tiên. Và hàng ăn. Có nhiều khách ăn người Tàu. Chúng tôi vào ăn trưa. Ngon và rẻ. Hơi buồn một chút là khi gọi tính tiền chủ quán lại xướng tiền Trung Quốc [Nhân đây, xin nêu một thắc mắc. Đơn vị tiền Trung Quốc ghi trên giấy bạc của họ là nguyên (đọc theo âm Hán Việt), phụ đề trên màn ảnh truyền hình chữ Trung Quốc là … , chữ Anh là yuan; trong từ điển Larousse cũng ghi đơn vị tiền của Trung Quốc là yuan. Vậy mà báo, đài của ta đều viết hoặc nói là nhân dân tệ chẳng biết do đâu, rất mong được chỉ giáo. Nếu là danh xưng “tiền của nhân dân” như “quyền của nhân dân” chẳng hạn thì lại khác]. Hỏi chuyện, người ta cho biết cũng kiếm được, tuy không nhiều. Cũng nhì nhằng, người làm phải lấy anh em, con cháu sang, có khi luân phiên nhau. Họ cũng buồn về số người “gây tai tiếng cho người Việt” trên đất người.

Tây bắc không xa xôi

Hai tiếng Tây Bắc trước đây nghe “đáng sợ” cũng như hai tiếng Tây Nguyên, không chỉ là diệu vợi. Cũng ở Tây Bắc nhưng với hai tỉnh Lao Cai, Yên Bái cảm thấy gần gũi hơn với các tỉnh Sơn La, Lai Châu; có lẽ vì có đường sắt chạy qua, và tên con sông Thao (sông Hồng), con sông song hành với đường sắt, nghe không “hoang vu và cách trở” như con sông Đà. Không nên quên phần rộng lớn của Lao Cai, Yên Bái nằm bên hữu ngạn sông Thao với những tên đất “gây ớn” một thời: Than Uyên, Mù Cang Chải,… , những phần đất cũng dữ dội không kém nằm chẳng xa sông Đà.

Hãy làm một chuyến du Tây Bắc, hãy nhìn tận mắt những phố phường, làng bản Tây Bắc, bạn sẽ thấy Tây Bắc không còn xa xôi, sẽ thấy Tây Bắc trong tầm mến thương của bạn.

Hải Phòng, 6 – 1999

 

————————

* Mấy câu thơ trong bài lấy từ bài Tây Tiến (Quang Dũng)

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s