Nguyên Nguyên – Những mùa Xuân năm cũ (2012)

Muốn biết hay nhớ lại ngày xưa người ta sống ra làm sao, dễ nhất là tìm xem lại những phim xưa. Tìm xem lại nếp sống Á Châu thời sau thế chiến thứ hai thì xem các phim Nhật, bởi loại phim này dễ tìm hơn phim Hongkong (hay Đài Loan), vào thời của các tài tử nổi danh như Lý Lệ Hoa, Nghiêm Tuấn, Lâm Đại, Lăng Ba, Lạc Đế, v.v. Sở dĩ phải xem những phim với Lý Lệ Hoa hay Nghiêm Tuấn, thay vì phim với Khương Đại Vệ, Phó Thanh, Vương Vũ, Trần Tinh, Địch Long, v.v. là vì các nam tài tử này ít khi đóng phim xã hội, mà ăn khách nhờ vào loại phim kiếm hiệp và kung-fu. Phim Nhật dễ tìm hơn bởi có nhiều phim hay, kể cả các ‘phim xã hội’, vượt lên hàng quốc tế, như kiểu phim Hàn quốc hiện nay, thường được phim ảnh Âu Mỹ làm lại. Và nhờ vậy phim xưa Nhật loại xã hội dễ tìm hơn phim xưa Hongkong.

Hai tên tuổi gạo cội nhất của nền điện ảnh Nhật thời đó mà giới ghiền xi nê đều biết là đạo diễn Akira Kurosawa (họ Kurosawa viết lại ở phía sau theo kiểu Âu Mỹ) và tài tử Toshiro Mifune. Một tài tử nữa thường hay đóng phim của Kurosawa mà người Việt ít biết hơn chính là Takashi Shimura. Ông này hợp tác dài lâu với nhà đạo diễn tài danh, xuất hiện trong 21 phim trong tổng số 30 phim của Akira Kurosawa – trong đó có hai phim lừng danh là Rashomon (tựa tiếng Việt thời đó là “Địa Ngục Môn”) và Seven Samurai (Shichinin no Samurai) tức Bảy Người Hiệp Sĩ. Cả hai phim này đều được điện ảnh Âu Mỹ và Á Châu làm lại nhiều lần. Phim Seven Samurai hiện đang được quay lại lần thứ N với bối cảnh tại Thái Lan và dự trù sẽ ra mắt vào năm 2014.

Một trong những phim nổi tiếng của Kurosawa ngay sau thế chiến (1949) là phim Stray Dog (Nora Inu – Chó hoang), có sự góp mặt của cả hai tài tử Toshiro Mifune và Takashi Shimura. Ngày nay, xem lại phim đen trắng này ta sẽ thấy nước Nhật vào thời đó cũng còn nghèo như ai.

Phim “Nora Inu (Chó hoang)” thuật chuyện một công an ở Đông Kinh bị trộm mất cây súng lục trên một chuyến xe buýt đông người. Sau đó anh này tức bực và bỏ công đi tìm lại cây súng cùng với một công an khác đã nhiều năm kinh nghiệm trong nghề. (Tiếng lóng của cây súng thời đó tại vài nước ở Á Châu là “con chó lửa” và rất có thể tựa phim “Chó hoang” (Nora Inu) mang ngụ ý ‘súng bị mất trộm – khá nguy hiểm” giống như con chó hoang đang lang thang đi lạc ngoài đường). Xem phim “Chó hoang” này ta sẽ thấy ngay nhiều, rất nhiều, khác biệt xã hội, bối cảnh xã hội, ở thời đó so với thời bây giờ.

Trước hết, chuyện một cảnh sát hay công an bị trộm ăn cắp mất cây súng là một chuyện hết sức đại sự. Anh công an (do Toshiro Mifune đóng) này còn âu lo rằng kẻ trộm cây súng sẽ dùng nó để đi ăn cướp giết người và đó chính là điều làm anh ta phải mất ăn mất ngủ. Anh lập tức đến trình với một ông xếp trong sở (Takashi Shimura thủ vai) và nhờ ông này giúp đỡ. Hai người cảnh sát này làm “cảnh sát chìm” mặc bộ quần áo “côm-lê”, đội mũ đàng hoàng, và len lõi vào những xóm bình dân, những quán rượu xuềnh xoàng, trong cái nóng nực của thành phố Đông Kinh vào thời chưa có máy điều hòa không khí. Thỉnh thoảng người ta phải dùng tay, cầm bất cứ thứ gì để quạt cho bớt nóng. Áo côm-lê phải cởi ra khoác trên vai. Thêm vào đó các diễn viên lại hút thuốc lá phì phèo, ngày cũng như đêm, cho đúng mốt thời đó. Điểm đáng chú ý nhất là hai người công an này thường ăn bận bộ suit (côm-lê) màu trắng. Đây chính là điểm mốc thay đổi hết sức quan trọng giữa những mùa xuân năm cũ và mùa hè năm 2012 (ở Nam Bán Cầu).

Cho đến khoảng cuối thập niên 1960’s bộ côm-lê màu trắng hãy còn là y-phục “trang trọng” của đàn ông. Ngay cả nhiều chính khách Mỹ như các tổng thống Eisenhower, Johnson, Nixon, đại sứ Henry Cabot Lodge, và Pháp, như tổng thống Charles De Gaulle, các tướng lãnh Pháp, v.v. vẫn ưa đóng bộ côm-lê màu trắng cho những dịp tiếp xúc quan trọng hay vào những dịp lễ lớn. Ngoài ra khi đánh tennis, người ta cũng ưa mặc quần tây ống dài, và cũng có nhiều tuyển thủ thích quần tennis màu trắng.

Đặc biệt những bộ côm-lê màu trắng còn khác xa những bộ suit kiểu viền sọc (pinstripe) thời cuối thế kỷ 20 sang thế kỷ 21, ở chỗ ống quần côm-lê trắng luôn phải có “gấu” hay “pli” hoặc “lai”. Nhân dịp này, hãy thử mổ xẻ gốc gác của “gấu” hay ‘lai” xem chúng được tiếng Việt sáng tác từ đâu. Trước hết, tiếng Anh tương đương của “gấu/lai” là pleat, fold hay crease, và tiếng Tây phổ thông ở Việt Nam ngày xưa là “pli”. Tương đương với “pli” trong tiếng Hà Lan chính là “plooi” mà người Inđô biến thành “ploi”. Tiếng Việt không được xài phụ âm kép [pl] nên phải biến từ “plooi” (rất gần “plai”) hay “pli” ra thành “lai”, sau khi loại bỏ âm đầu của chữ [p]. Còn “gấu” mang ảnh hưởng từ tiếng Quảng Đông chứ không phải từ Quan Thoại hay Phúc Kiến, mà tiếng Quảng có phát âm là [zaau] hay [zau], tương đương với miêu tả tiếng Việt là “gấu”. Để ý có biến chuyển âm đầu “tay ba” giữa [z] và [r] với [g], nếu quan sát âm đầu [z] tiếng Quảng [zat] tương đương với tiếng Việt [rất] (âm đầu [r]). Phát âm tiếng Quảng cho [zat] còn có thể là [gat], với âm đầu là [g]. Và [gat] tương đương với Việt [ngát] (xanh ngát= rất xanh, bát ngát= rất rộng (so với: bác học= học rộng), hoặc [ngắt] (lạnh ngắt= rất lạnh, xanh ngắt= rất xanh, cứng ngắt= rất cứng (không nên viết “cứng ngắc”)). Thế “cao ngất” thì sao? [Ngất] ở đây vẫn có thể tương đương với “rất”, nhưng cũng có thể rất gần với âm Quảng Đông [gaak] mang nghĩa “vươn tới”: “cao ngất từng xanh” (Làng Tôi (Chung Quân)).

Bộ côm-lê trắng hiện nay tuy rất khó tìm ở các hiệu may hay tiệm bán quần áo đàn ông, nhưng vẫn còn xuất hiện trên các sân khấu hay các quán rượu, hoặc câu lạc bộ, có phụ diễn văn nghệ. Bộ dĩa DVD Vân Sơn 47 thu tại Edmonton (Canada) có màn song ca của Chế Linh và Giang Tử với hai bộ côm-lê trắng mang dấu một một thời vàng son à la mode này.

Phim “Stray Dog” (Chó Hoang) còn nhắc lại cho ta thấy phim hồi xưa luôn luôn có công thức cổ điển là cuối phim phải có viết THE END theo kiểu Anh-Mỹ, FIN theo kiểu Pháp, CHUNG theo kiểu Hoa/Nhật, và HẾT kiểu Việt. Thế từ nôm-na “Hết” có thể mang liên hệ với các thứ tiếng nào? “Hết” rất có thể là một thứ âm hỗn hợp giữa [ket], tiếng Hẹ (giống với tiếng Việt “kết”), cộng với một âm Hẹ nữa là [hit], cùng với âm sau [heh] của tiếng Thái: [johp heh] – tất cả mang cùng nghĩa là “hết”, “kết cục”, “kết thúc”, “chung cuộc”. Kiểu truy tầm từ nguyên này dựa vào một lí thuyết mới có nền tảng mang tính chất phi-biên-giới của ngôn ngữ vào thời xa xưa, nhưng vẫn chú trọng vào các ngôn ngữ bản địa thuộc hạ tầng như Môn-Khmer và Thái-cổ.

Phim ảnh bây giờ không còn thấy The End ở cuối phim nữa, và thường hơn, phần cuối phim cho biết toàn bộ chi tiết làm phim, nhà sản xuất, đạo diễn, tài tử đóng phim, các vai chính và vai phụ, âm thanh, nhạc đệm, biên tập, phó nhòm, đôi lời cảm tạ, v.v.. Phim không có The End ở phía sau cùng mang nhiều dụng ý và lợi điểm, và thường nhất là nếu thấy phim hốt bạc, người ta sẽ tiếp tục viết thêm kịch bản nối tiếp rồi quay phim tiếp theo câu chuyện đó, thường gọi nôm na theo tiếng Anh Mỹ là sequel. Nhiều khi thấy phim “hay quá” hết chuyện quay tiếp thì người ta ưa quay phim ngược lại, cho thời điểm câu chuyện xảy ra vào những năm tháng trước thời gian của phim chính, và gọi đó là prequel.

Có một chuyện đáng để ý là phim Khủng Long – một “phát minh” sáng giá của điện ảnh Nhật, dựa trên loại phim King Kong của Hollywood trước đó. Phim Khủng Long mang tên “quốc tế” là Godzilla từng được làm lại nhiều lần ở Nhật và ở Mỹ. Có thể trong năm 2012 này một bộ phim Godzilla mới toanh quay với kỹ thuật 3 chiều (3D) sẽ ra trình làng thế giới. Phim Khủng Long đầu tiên được trình chiếu vào năm 1954 với hàm ý chỉ trích việc thử nghiệm bom nguyên tử, bởi con quái vật Godzilla này đã tác tạo và tiến hóa do ở các cuộc thử nghiệm bom nguyên tử gây ra. Nhà bác học trong phim do tài tử gạo cội Takashi Shimura (Stray Dog/Seven Samurai/Kagemusha/The Hidden Fortress, etc) đóng. Điểm ngộ ngĩnh nhất của phim đen trắng Godzilla này là hồi đó xi-nê Nhật ít người biết đến, nhưng nhiều người trong giới làm phim thấy lạ nên mới chuyển âm sang tiếng Anh rồi ghép vài đoạn quay thêm với tài tử Mỹ Raymond Burr (Ironside, luật sư Perry Mason) trong vai phóng viên nhà báo đến Nhật để thăm bạn cũ. Mục đích chính của việc đưa Raymond Burr vào một phim ngoại (Godzilla) là để lăng-xê phim tại Mỹ. Phim Godzilla thứ 2 này trình chiếu vào năm 1956, có đến chừng 90% y hệt như bản đầu tiên vào năm 1954.

Chuyện rất đáng kể khác về thay đổi lối sống trong vài mươi năm qua của thế giới loài người chính là việc mua thực phẩm, đường muối, hàng tạp hóa dùng hằng ngày tại các siêu thị, tức supermarket.

Cũng như nhiều sáng chế trứ danh của giới tư bản, siêu thị là một phát minh của người Mỹ vào khoảng thế chiến thứ 1, tức vào năm 1916. Nổi tiếng nhất là cửa hàng bách hóa để người mua tự phục vụ lấy mở tại Memphis, thành phố nhà của Elvis Presley, ở tiểu bang Tennessee, mang tên Piggly Wiggly của một thương gia có nhiều viễn kiến là ông Clarence Saunders. Giống như nhiều người thành công rực rỡ trong ngành tin học vào cuối thế kỷ 20 ở Mỹ, người đầu tiên trong ngành siêu thị, ông Saunders, đã phải bỏ học vào lúc 14 tuổi, đi làm thư ký cho một tiệm bách hoá kiểu tỉnh lẻ. Đại khái ý niệm ban đầu của ông Saunders trong phát minh ra siêu thị, cũng giống như các loại cửa tiệm bán fast food hay thức ăn mang đi kiểu McDonald’s hay Burger King (ở Úc mang tên là Hungry Jack’s), dựa vào sản xuất dây chuyền tại các hãng lắp ráp ô-tô. Rất thích hợp với xã hội đông dân, đa số có xe hơi, nhưng ít thì giờ, cũng như không mọc rễ cùng với văn hóa ô-shin, có người giúp việc với tiền lương rẻ, lao công thấp.

Chuyện siêu thị cần một bãi đậu xe thật ra phải đợi đến thời khủng hoảng kinh tế, khi một viên quản lý của một chi nhánh của “hãng tạp hóa” Krogers là ông Michael Cullen phát kiến ra. Tuy vậy đề nghị này của ông đưa lên cấp trên không được chấp thuận, để rồi ông phải ra riêng, và cho xây siêu thị lớn có bãi đậu xe ở ngoại ô thành phố New York vào năm 1930. Chính ông Cullen về sau được mang biệt danh là cha đẻ của siêu-thị tân thời. Cũng giống như ông Saunders, Michael Cullen không có học đại học và bắt đầu đi làm vào lúc 18 tuổi.

Một dạng thức tiến hóa từ siêu-thị trở nên phổ biến toàn cầu từ khoảng thập niên 1960’s tới nay là các chuỗi-cửa-hàng giá-hạ, tiếng Mỹ đại khái là Discount retail chain stores, và nổi tiếng nhất là Walmart, tiếp theo sau là Kmart và Target, tất cả đều được “phát minh” từ xứ tư bản Cờ Hoa. Để ý vị cha đẻ của Walmart là ông Sam Walton (1918-1992) là người có học vị B.A. (cử nhân văn chương) chuyên về Kinh-Tế, tuy rằng ông đã trưởng thành trong thời gian khủng hoảng kinh tế toàn cầu vào những năm 30’s ở thế kỷ trước. Ông Sam Walton cũng nổi tiếng là con người tháo vát năng động, từng làm nhiều jobs khác nhau, kể cả trong quân ngũ Hoa Kỳ, “đeo lon” đến cấp Đại Úy.

Thế còn các shopping centres hoặc shopping malls – tạm dịch nôm na là các “trung tâm mua sắm” – ra đời từ lúc nào? Điểm ngộ nghĩnh là các “trung tâm mua sắm”, kiểu Westfield hay Centro ở Úc, hoàn toàn không phải là phát minh của người Mỹ, mà thật ra đã có từ ngàn xưa ở nhiều nơi trên thế giới, nhất là ở khu vực Trung Đông (thế kỷ thứ 10). Tuy nhiên người Mỹ cũng đã đi tiên phong trong việc xây dựng lên những shopping centers có bãi đậu xe rộng và nằm ở ngoại ô thành phố.

Tại Úc tiền thân của các shopping centres chính là “tổ hợp bách hóa”, tên tiếng Anh là Department stores. Khác với shopping centres, Department stores thường đặt ngay giữa khu phố chính. Nổi tiếng nhất vào thời đó là David Jones và Grace Bros. David Jones hãy còn sống mạnh cho đến ngày nay. Còn Grace Bros đổi tên thành Myer vào đầu thế kỷ 21 sau khi Myer mua lại Grace Bros vào năm 1983. Grace Bros do hai anh em nhà họ Grace di dân sang từ Ăng Lê thiết lập vào khoảng cuối thế kỷ 19, và tổ hợp này mở cửa hiệu đầu tiên ở đường Broadway khoảng giữa hai đại học Sydney và UTS. Điểm khác biệt chính giữa tổ hợp bách hóa (Department store) và trung tâm mua sắm (shopping centre) là bởi tổ hợp thường đặt ở trung tâm thành phố cho nên khách hàng mua sắm thuộc loại vừa đi mua sắm vừa đi xuống phố bát phố cho vui. Ngày xưa mỗi lần được đi xuống phố và bước vào tổ hợp bách hóa, trẻ em rất thích bởi thế nào cũng được phụ huynh mua đồ chơi, quần áo mới, hay ăn quà, uống sữa sóc, kem, v.v. Ngoài hai tổ hợp bách hóa lớn Grace Bros và David Jones, ngày xưa Sydney còn có hai tổ hợp khác cũng lâu đời và nổi tiếng không kém. Nhưng hai tổ hợp này thiếu viễn kiến mở chi nhánh ở ngoại ô vào thời kinh tế tư bản phát triển sau chiến tranh ở Việt-Nam – như kiểu Grace Bros, Myer và David Jones – nên một tổ hợp phải đóng cửa vào khoảng cuối thập niên 60 và tổ hợp kia vào năm 1980. Một tổ hợp mang tên là Anthony Hordern & Sons và tổ hợp kia là Mark Foys. Tòa bin-đing đồ sộ của Anthony Hordern’s ngày nay chính là địa điểm của World Square shopping centre nằm giữa các đường George, Liverpool, Pitt và Goulburn ở chính giữa phố Sydney. Còn tòa nhà rất đẹp của tổ hợp Mark Foys về sau được tân trang thành một khu vực đặc biệt gồm nhiều Toà Án, mang tên the Downing Centre, nằm ở góc đường Elizabeth và Liverpool ở Sydney. Chỉ có 1 tiệm nhỏ ngày xưa nằm tại tổ hợp Mark Foys và ngày nay vẫn tồn tại ở Downing Centre, dù thay đổi nhiều chủ, và đó là tiệm cà phê có bàn ghế đặt bên bậc thềm nhìn xuống đường Liverpool.

Điểm cần nhắc nhở là thời ngự trị của các tổ hợp bách hóa là thời dân Úc còn thưa thớt (khoảng trên dưới 13 triệu) và chưa có nhiều di dân từ Trung Đông và nhất là Á Châu. Các cửa hiệu chính dành cho việc mua sắm thường ngày chỉ mở cửa từ 9 giờ sáng đến 5-5:30 giờ chiều. Chỉ mở thêm chút chút vào tối thứ năm (đến 9 giờ tối) và sáng thứ bảy từ 9 giờ sáng cho đến khoảng 12 giờ trưa. Máy kéo xu (poker machine) chỉ đặc biệt có tại những câu lạc bộ lớn như Mandarin Club, các RSL Club, các Câu Lạc Bộ thể thao, mà thôi. Tuyệt nhiên các tiệm bán rượu công cộng (pub hay public bar) hay các khách sạn đều không có giấy phép đặt máy kéo xu. Đó cũng là thời mà các bác sĩ chuyên khoa hãy còn tập trung ở một hai con đường chính dưới phố, hoặc ở bên cạnh các bệnh viện lớn, chứ hoàn toàn không có ở những ngoại ô xoàng. Ở Sydney họ có phòng mạch nằm sát nhau ở đường Macquarie, và ở Melbourne con đường chính là Collins St hay Bourke St. Đó cũng là thời mà các bác sĩ chuyên khoa về giải phẫu còn thích được gọi là Mister (Mr) hay Miss, theo kiểu Ăng Lê xưa, thay vì bác sĩ (Dr/Doctor) như thời bây giờ. Lí do chính có người cho rằng chuyên viên giải phẫu vào thời xa xưa không phải là bác sĩ y khoa mà là những người xử dụng dao mổ một cách hết sức khéo léo.

Thời đó cũng là thời người Úc hoàn toàn không biết gì đến Yum Cha (hay Dim Sum) và muốn ăn đồ Tàu nấu theo kiểu Tàu không lai căn thì chỉ có một cách duy nhất là xuống phố Tàu (Chinatown) ở đường Dixon tại Sydney hay Little Bourke St ở Melbourne. (Điểm ngược đời hiện đang xảy ra tại các nước Tây Phương trên thế giới, theo tin tức trên mạng, là nhiều phố Tàu (Chinatown) tại nhiều nơi đang dẫy chết. Bởi các lí do chính: (i) tại các nước Tây Phương nhu cầu tập trung khu thương mãi người Hoa bên phố chính không còn nữa. Chỗ nào cũng có người Hoa và họ cáng đáng đủ mọi ngành nghề; (ii) tài phiệt người Hoa thường hồi hương để làm ăn, với nhiều cơ hội làm giàu (và hưởng thụ “phê” hơn)); (iii) người Hoa không còn chiếm độc quyền là khối người di dân Á Châu duy nhất giữ bản sắc Á Châu tại các nước Tây Phương nữa. Các cộng đồng di dân từ mọi nơi trên thế giới mọc lên như nấm tại các thành phố lớn ở những nước Tây Phương, và kéo theo những khu phố xá mang bản sắc từng khối di dân, chứ không riêng gì của Trung Hoa như những thế kỷ trước; (iv) v.v.).

Trở lại câu chuyện “trung tâm mua sắm” (shopping centres hay shopping malls). Shopping malls theo kiểu hiện đại cũng vẫn xuất hiện rất sớm tại Hoa Kỳ, do J.C. Nicholls thiết lập tại Kansas City (Missouri) vào năm 1922, và trung tâm mua sắm hoàn toàn có “mái che” đầu tiên được xây dựng tại thành phố Edina, gần Minneapolis ở tiểu bang Minnesota (USA), vào năm 1956.

Ở Úc trung tâm mua sắm đầu tiên được khai trương vào năm 1957, một tại Brisbane và một tại Sydney (Top-Ryde). Nhưng khởi điểm của lịch sử lẫy lừng của shopping centres tại Úc chỉ được đánh dấu vào năm 1959 khi chuỗi trung tâm mua sắm Westfield được khai sinh tại thành phố nhỏ ở ngoại ô Sydney mang tên là Blacktown (khoảng 1 giờ đi tàu điện (xe lửa) từ trung tâm thành phố Sydney), tiếp theo là trung tâm ở Roseland (hiện mang tên Centro) – vào năm 1965 – một trung tâm mua sắm lớn nhất nam bán cầu trong nhiều năm.

Thành công của trung tâm Westfield tại Úc, và lan ra đến Hoa Kỳ, Anh Quốc và Tân Tây Lan, trong khoảng bốn, năm mươi năm qua, mang rất nhiều ý nghĩa. Trong đó, có thành công của chủ nghĩa tư bản dành tự do và tạo cơ hội cho mọi di dân trên thế giới đến xứ lạ, nhận nơi đó làm quê hương, để rồi nảy sinh sáng kiến, phối hợp với sức làm việc bền bĩ, ra sức làm giàu cho bản thân và đem công ăn việc làm cho mọi người, đóng góp phát triển kinh tế quốc gia.

Câu chuyện Westfield cũng giống như những chuyện thành công di dân tại Hoa Kỳ, mà hai vai chính là hai người Âu Châu, ông Frank Lowy (Czechoslovakia – ngày trước thường gọi là Tiệp Khắc) và ông John Saunders (Hungary, Hung Gia Lợi). Cả hai đều có gốc Do Thái và lớn lên trong hoàn cảnh thế chiến thứ hai khi hai nước Tiệp và Hung đều bị quân Đức Quốc Xã xâm chiếm.

Hai ông Saunders và Lowy đều đạt được học vị rất cao ở trường đời và di dân sang Sydney vào những năm đầu ở thập niên 1950’s, trong túi chỉ còn có vài đô-la. Ngày nay tổng tài sản của Westfield lên đến khoảng $60 tỉ đô la, và có tất cả 119 shopping centres tại 4 quốc gia: Úc, Hoa Kỳ, Anh Quốc và Tân Tây Lan. (Xem chi tiết lịch sử Westfield ở: http://www.westfield.com/corporate/about-westfield-group/history/).

Điểm quan trọng nằm trong “bối cảnh” của mọi sự việc ở đời chính là “biến đổi không ngừng”, kể cả “biến đổi của biến đổi”. Thí dụ gọn nhất là ngày nay các trung tâm mua sắm đều có những dịch vụ “online”, như Westfield Online, ở đó người ta có thể lựa chọn hàng hóa và đặt mua qua mạng internet. Toàn là những chuyện không tưởng chỉ trong khoảng 20 năm trước.

N.N.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s