BS Trần Tiễn Sum – NHỮNG TRANG SỬ BI HÙNG CỦA CON ĐƯỜNG CHỐNG NGOẠI XÂM TỪ CUỐI THẾ KỶ 19 (Phần I)

Trong nhiều thập niên từ cuối thế kỷ 19 đến cuối thế kỷ 20, khởi đầu là phong trào yêu nước chống quân xâm lăng Pháp, chuyển từ xu hướng canh tân tự cường phôi thai trong nước, qua đến phong trào duy tân cải cách đấu tranh bất bạo động, tới các đoàn thể cách mạng võ trang dành được độc lập, nước Việt đã trải qua nhiều khúc quanh của dòng sử. Qua trào lưu dân tộc tự quyết của Liên Hiệp Quốc sau Thế chiến thứ hai (1939-1945) các nước thuộc địa lần lượt được trao trả độc lập tự do sau những cuộc kháng chiến anh dũng của các dân tộc bị trị: Phi Luật Tân 1946, Ấn Độ 1947, Miến Điện 1948, Nam Dương 1949, Mã Lai 1957, Singapore 1959, Algerie 1962….

Quá trình đổi mới của Việt Nam từ nho học đến tây học, từ trung quân ra ái quốc, từ vương quyền ra dân quyền, từ mất nước đến độc lập thống nhất đã trải qua nhiều thời kỳ gian nan của cơn lốc lịch sử. Nhiều nhà ái quốc qua nhiều thế hệ đáp lời kêu gọi của tổ quốc, mỗi người mỗi cách với mục tiêu tối hậu đánh đuồi thực dân Pháp giành được độc lập 1945 từ nhà thơ Nguyễn đình Chiểu (1822-1888).…, tướng quân Trương công Định (1820-1864)…., các đại thần Trương đăng Quế (1794-1865) – Nguyễn tri Phương (1800-1873), Phan thanh Giản (1796-1867) – Trần tiễn Thành (1813-1883)….., các sĩ phu Nguyễn lộ Trạch (1843-1898) – Nguyễn thượng Hiền (1868-1925)….., các nhà cách mạng Phan bội Châu (1867-1940) – Phan châu Trinh (1872-1926), Phạm hồng Thái (1896-1924) – Nguyễn thái Học (1902-1930), Nguyễn an Ninh (1900-1943) – Hồ học Lãm (1883-1942)….., đến các nhà chính trị Hồ chí Minh (1890-1969) – Bảo Đại (1913-1997) – Ngô đình Diệm (1901-1963)….

Biết bao thanh niên thuộc giới tân học qua nhiều thế hệ hăng say trong việc gầy dựng một phong trào kháng chiến phục quốc giành độc lập đã hy sinh anh dũng cho tổ quốc nhưng vận nước vẫn nổi trôi trong nhiều thập niên. Hình thái chống ngoại xâm bằng võ trang lần lần chịu ảnh hưởng của nhiều cường quốc phân chia trật tự thế giới áp dụng những chủ thuyết đối nghịch, quốc gia dân tộc và quốc tế cộng sản đề người Việt phải chịu cảnh “cốt nhục huynh đệ tương tàn” làm suy yếu sự phát triển đất nước về kinh tế, quốc phòng và nhất là chủ quyền bị tước đoạt.Ảnh hưởng của những thế lực nầy đã quyết định vận mạng dân tộc, tình hình chính trị và xã hội Việt Nam.Văn hóa, đạo đức xã hội và tham vọng cá nhân cũng bị ảnh hưởng trong thời gian dài.Quyền lợi phe nhóm đảng phái đã được đặt trên quyền lợi đất nước.

 

Canh tân và chống Pháp

Từ giữa thế kỷ 19 nước Việt lâm vào hoàn cảnh thật nhiễu nhương.Trước nạn ngoại xâm và nội loạn, triều đình Huế đã thụ động trong thế yếu về quân sự, kinh tế èo ọp, tài chánh thiếu hụt trong một xã hội ly tán, tạo điều kiện thực dân Pháp xâm chiếm dần các tỉnh Nam và Bắc Kỳ bằng võ lực với mục đích truyền giáo và chiếm thuộc địa (1858-1885). Thoạt tiên, triều đình và quân dân đều cương quyết chiến đấu chống ngoại xâm nhưng vì tương quan lực lượng quân sự võ khí quá chênh lệch nên quan dân phải chịu hy sinh hay tuẩn tiết một cách anh dũng, nêu cao lòng can đảm ý chí bất khuất, nhất là không sợ hãi trước nòng súng của Pháp. Vua Tự Đức (1829-1883) và triều đình trong thế yếu quân sự đành phải nhượng đất cầu hòa tìm phương sách dùng thời gian, tài chánh và nhân lực để tự cường hầu đủ mạnh đánh đuổi ngoại xâm “giặc từ biển” trong chiến lược “thủ-hòa nhưng chiến” truyền thống.

Công cuộc kháng Pháp bằng đấu tranh qua thơ văn bắt đầu (1859) từ Nguyễn đình Chiểu để nêu cao lòng yêu nước thể hiện cương thường trung nghĩa mong sĩ phu và dân chúng lãnh trách nhiệm chống ngoại xâm. Võ trang kháng Pháp bằng sự hy sinh truyền thống cao cả đầu tiên do Trương công Định khởi xướng tại Gò Công-Tân An-Mỹ Tho ngay sau Hòa Ước 1862 nhượng đất.Tiếp đó các nghĩa sĩ miền Nam tiếp tục kháng Pháp đã được sự hưởng ứng của mọi tầng lớp nhân dân.Triều đình Huế biết rỏ thực lực quân đội và quốc phòng của nước nhà nên đành lòng thi hành hiệp ước vừa ngấm ngầm ủng hộ các cuộc nổi dậy của dân chúng.

                                     

Khi sáu tỉnh miền Nam bị mất vào tay Pháp (1867), một số sĩ phu miền Nam bao gồm: gia đình Nguyễn Thông (1827-1884), gia đình Trương gia Hội (1822-1877)… không chịu hợp tác với thực dân Pháp, đã di cư ra phía nam miền Trung đang còn thuộc quyền cai trị của triều đình Nhà Nguyễn.Họ đã thành lập những trung tâm “tị địa” (vùng tị nạn thực dân) tại Phan Thiết hầu tiếp nối chí hướng chống Pháp của dân quân miền Nam (tk3, tr555) và tìm đường cứu nước. Đó cũng là những bước đầu của dân chúng tự đứng lên nắm lấy chủ động trong việc bảo vệ tổ quốc và nền độc lập của dân tộc, nhưng theo chiều hướng bất bạo động sau những thất bại liên tiếp quân sự nghị hòa của vua quan triều Nguyễn.

Từ những thập niên cuối thế kỷ 19 các phe phái trong triều đình: cấp tiến – bảo thủ – chủ chiến – chủ hòa cũng như các tầng lớp sĩ phu dân chúng tiến bộ mới thức tỉnh lần lần đề nhận thức được sự yếu kém lạc hậu mọi mặt mà hô hào canh tân đất nước. Các quan đại thần Phan thanh Giản, Phạm phú Thứ (1820-1883) đi Pháp (1863), Đặng huy Trứ (1825-1874) đi Hương Cảng (1865) Bùi Viện (1839-1878) đi Nhật và Hoa Kỳ (1873-1875)… về đã kêu gọi vua và triều đình đổi mới đất nước để theo kịp sự tiến bộ của nền văn minh Tây phương. Lời kêu gọi này đã được Trần tiễn Thành (vị quan đầu triều 20 năm và được sự tin cậy đặc biệt của vua Tự Đức ngoài Trương đăng Quế) ủng hộ hoàn toàn tích cực vận động cho những ý kiến và phương sách mới mẻ này trong triều đình và Cơ mật viện.

Ngoài ra Trần tiễn Thành còn ủng hộ những nho sĩ tiến bộ trong nhiều thập niên như Nguyễn trường Tộ, Nguyễn lộ Trạch…Nguyễn trường Tộ (1828-1871) đệ trình những bản điều trần (Di Thảo) gồm nhiều kế sách canh tân và hiện đại hóa đất nước hầu đủ sức chống Pháp, nhưng được xem như quá rộng lớn với nhiều kế sách thiếu cụ thể đầy lý thuyết không hợp với thực trạng thiếu chuyên viên, thiếu ngân sách và vua quan nho sĩ thiếu hiểu biết tinh hình thế giới lúc bấy giờ.Tiếc thay, trong triều đình các phe phái bất đồng chính kiến và nhà vua thiếu quyết tâm làm chậm trể canh tân. Nhất là phái nho sĩ bào thủ chủ chiến trông cậy vào sự cứu viện của Trung Hoa, đã buộc tội các nho sĩ cấp tiến một cách sai lầm là “thân Pháp” hay “hòa với Pháp” ngay cả “phản quốc” để kết quả của các cố gắng vận động “vừa canh tân vừa chống Pháp” này là những cái chết của Phan thanh Giản và Trần tiễn Thành. 1867 Phan thanh Giản, Kinh lược sứ chống giữ ba tỉnh Miền Tây tuẫn tiết vì biết thế yếu của nước nhà trong công cuộc chống Pháp bằng quân sự đành phải “nhượng” thành tránh đổ máu cho dân chúng sau khi vận động canh tân thì ‘Hết lời năng nỉ chẳng ai tin” với lời thảm thiết trong biểu tạ tội gởi vua Tự Đức: “Xin thương kẻ khốn cùng, lập một dự án đầy đủ trước sau; xin hãy đổi dây, thay bánh! Như thế, thế lực may ra còn cứu vãn được”.

Tiếp nối con đường duy tân của giáo dân Nguyễn trường Tộ, năm 1877 lúc mới 25 tuổi nho sĩ Nguyễn lộ Trạch, con rể của Trần tiễn Thành đã đề nghị phương sách cứu nước trong bản điều trần đầu tiên có tính chất thiết thực hơn: “Thời vụ sách thượng”. Vào cuối đời của mình, Trần tiễn Thành cố gắng vận động với vua để Nguyễn lộ Trạch được xuất dương du học kỹ thuật tây phương và hoạt động chính trị trực tiếp trên chính trường các nước Anh-Đức để tạo áp lực ngoại giao lên chính phủ Pháp nhưng vua đã từ chối (tháng 8-1882). Vua Tự Đức còn phê về việc này: “Nói chi chuyện cao xa đến thế. Biến cố lớn xãy ra cho Nguyễn lộ Trạch và phái canh tân là việc ám hại Trần tiễn Thành tháng 10/1883 vì bất đồng chính kiến khi chống việc cầu viện Trung Hoa của phái bảo thủ và chống việc phế lập gây xáo trộn trong triều đình của phái chủ chiến lúc nước nhà đang nguy biến.Chủ trương canh tân tạm thời bị dẹp tan và Nguyễn lộ Trạch lui về ẩn dật.

 

Sau khi Pháp chiếm Hà Nội lần thứ hai, triều đình Huế hổn loạn phải ký Hiệp Uớc Bảo Hộ 1884 vì những việc phế lập liên tiếp khi vua Tự Đức vừa mất: ba vua Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc bị chết thảm từ tháng 6 đến tháng 10-1883. Phái chủ chiến đã nắm toàn quyền trong gần 2 năm sau đó để thực thi chủ trương trực diện với Pháp bằng vũ lực (dù lổi thời) cầu viện Trung Hoa- Thanh Triều với một tinh thần ỷ lại hoang tưởng.Trung Hoa đang không đủ sức tự cứu lấy mình và bị các cường quốc cấu xé nhưng đầy tham vọng chiếm đất.Đồng thời phe chủ chiến áp dụng chính sách khủng bố những người bất đồng chính kiến và giết hại giáo dân làm mất tình tự dân tộc đã đưa đất nước vào biển lửa.  Sự thất bại của cuộc chính biến Thất thủ Kinh đô tháng 6-1885 do Tôn thất Thuyết (1839-1913) hấp tấp chủ xướng làm cho chủ quyền đất nước bị mất hoàn toàn và nhanh chóng vào tay thực dân Pháp đem lại nhiều đau thương, tủi nhục và đen tối cho đất nước.

 

Nguyễn lộ Trạch đã chứng kiến và hiểu biết lý do đang thất bại của các phong trào Văn Thân (1867-1874) và Cần Vương (1885-1896)  giúp vua chống ngoại xâm của nho sĩ yêu nước nhưng chiến đấu trong vô vọng. Với lòng nhiệt huyết, với những kiến thức thâu nhận được qua những năm kề cận Trần tiễn Thành, ảnh hưởng những sách báo tân thư và dựa theo đầu đề thi Đình khoa 1892 mặc dù không dự thi, Nguyễn lộ Trạch đã làm một luận văn trình bày dữ kiện trên thế giới với quan điểm của mình khi phân tích tình hình chính trị quốc tế và quốc nội dưới tiêu đề “Thiên hạ đại thế luận” để trực tiếp vận động canh tân và thức tỉnh giới nho sĩ bấy giờ.

Trong một thời gian dài, một mình Nguyễn lộ Trạch khởi sự cuộc du thuyết để kết giao với những người tài giỏi có tâm huyết để tạo một sức mạnh trong quần chúng hay một phong trào hầu canh tân đất nước như Trương gia Mô, Nguyễn trọng Lợi, Nguyễn thượng Hiền. Năm 1895 Nguyễn lộ Trạch trên đường du thuyết ghé thăm Trương gia Mô (1866-1929) (con của Trương gia Hội) (tk3, tr556), (tk4, tr23) tại trung tâm “tị địa” Phan Thiết của nhóm sĩ phu Nam Trung theo chủ trương canh tân từ 1867 (tk4, trang 24). Qua văn thơ thi phú Nguyễn lộ Trạch đã tìm được ở Trương gia Mô tâm đồng ý hợp và hai Ông đã cùng nhau tìm đường xuất ngoại để hoạt động cách mạng từ năm 1895 nhưng không thành công để rồi Nguyễn lộ Trạch mang bịnh và chết tha hương tại Bình Định năm 1898. Trương gia Mô tiếp tục con đường du thuyết của Nguyễn lộ Trạch đi vào miền Nam kết tình bằng hữu với những nhà yêu nước chống Pháp qua con đường duy tân, bất bạo động.Trương gia Mô quay về Phan Thiết để cùng Nguyễn trọng Lợi (1881-1911), Nguyễn qúy Anh (hai người con của Nguyễn Thông), Hồ tá Bang và nhiều người đồng chí hướng thành lập công ty sản xuất nước mắm Liên Thành năm 1905.Tại đây Trương gia Mô đã gặp nhóm Phan châu Trinh trong cuộc Nam du vận động duy tân.

                                                           

Nước Việt Nam từ xưa là một, từ bắc chí nam, nay vì nạn ngoại xâm chia làm ba kỳ Nam Trung Bắc (Tonkin, Annam, Cochinchina) mà mỗi kỳ lại có một chính sách riêng để thực dân Pháp dễ cai trị, khai thác và thủ lợi.Pháp duy trì chế độ phong kiến Việt Nam song hành chính quyền thuộc địa đưa các viên chức hành chánh người Pháp vào các cơ cấu địa phương đề kiểm soát.Hầu hết các quan Việt thì tham nhũng, để mất tiết tháo lo nịnh bợ quan Tây chịu làm tay sai và bắt nạt dân lành, không có thực quyền đã làm cho đa số dân chúng chán ngán và mất niềm tin ở triều đình và hết kỳ vọng vào chế độ phong kiến. Phong trào Cần Vương của Trung và Bắc Kỳ đầy mãnh liệt, oai hùng nhưng thiếu kết hợp nên vô vọng trước nòng súng của binh lính Pháp với tay sai Việt gian. Sau đó, dưới chế độ bảo hộ của thực dân Pháp, triều đình Huế đã biến thành công cụ tay sai của thực dân Pháp và các vua cuối triều Nguyễn trở thành bù nhìn vớì thỏa ước Monguillot ngày 6-11-1925.

Nền nho học với tư tưởng Phật giáo ăn sâu vào lòng dân tộc, vua quan, gia đình, làng xóm nên không thích ứng được với những giáo điều mà các nhà truyền giáo Kitô đem đến cho xã hội Việt Nam. Kế sách “phân tháp” phân tán các gia đình đạo Kitô của Triều Nguyễn và “giết tả đạo” cùa phong trào Cần Vương gây nên mầm mống chia rẽ tôn giáo. Càng ngày các giáo dân tạo nên một giới cấp tiến sống biệt lập với các giáo sĩ ngoại quốc và sau này lại là lực lượng võ trang tự vệ bạo động không ít thì nhiều.Việc này tạo nên “nạn lương-giáo” kéo dài mãi cho đến sau này.Giai cấp thượng lưu sống trong những khu riêng biệt với luật lệ đặc biệt là thường dân Pháp và công chức quân nhân Pháp đầy những mặc cảm tự tôn của thực dân cùng các quan lại Việt gian.

Nền giáo dục tây phương với Pháp ngữ và quốc ngữ được khởi đầu từ Nam Kỳ thuộc địa lần lần thay thế nho học của chữ hán-nôm, lan dần ra Bắc và Trung Kỳ bảo hộ.Giới nho sĩ biến dạng từ từ để chấm dứt giai đoạn lệ thuộc nho học 1919 và từ đây chữ quốc ngữ dần dần trở nên phổ thông. Báo chí quốc ngữ được xuất bản nhưng chịu chế độ kiểm duyệt gắt gao, các trường thông ngôn và truyền bá văn hóa Pháp được thành lập nhưng bị hạn chế: trường Quốc Học Huế 1896. Thật ra nền giáo dục thực dân chỉ đào tạo ra lớp người biết thi hành chỉ thị “thầy thông thầy phán” hay giới công chức như cụ Tú Xương đã nói:

Nào có ra gì cái chử nho
Ông nghè ông cống cũng nằm co.
Sao bằng đi học làm thông phán
Tối rượu sâm banh, sáng sửa bò.

Chính sách thuộc địa chỉ nhằm vào bốc lột khai thác tài nguyên và nhân lực cho ngân sách quân phí và kỷ nghệ phương tây, nhất là trong thới kỳ khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1930 với sưu cao thuế nặng ngay cả khuyến mãi thuốc phiện và rượu ( cho phép từ 1887).Nền kinh tế nông nghiệp xưa củ vẫn tồn tại trong việc buôn bán lẻ nhưng nhiều ngành nghề mới xuất hiện theo nhu cầu phát triển nên giới tiểu thương gia tiểu tư sản càng ngày càng nhiều. Sự phát triển đồn điền cao su với kỷ nghệ chế biến tại miền Nam đã làm thay đổi nền kinh tế và chính trị qua một lực lượng lao động bị chèn ép “phu đồn điền” tuyển mộ từ Bắc và Trung Kỳ. Nhiều nông dân từ bỏ nông thôn lên thành thị kiếm việc trở thành công nhân.Các cuộc đình công bải thị và biểu tình của nông dân thợ thuyền xãy ra liên tục khắp nơi.

Các phương tiện giao thông, hệ thống y tế và tài chánh đựọc cải tiến: Bịnh Viện Trung Ương Huế 1894, cầu Trường Tiền Huế 1897, cầu Long Biên Hanoi 1899… Các viện khảo cứu cũng được thành lập như Trường Viễn Đông Bác Cổ 1898, Viện Hải Dương Học Nha Trang, Viện Pasteur Nha Trang 1896 do bác sĩ Yersin làm giám đốc….

 

Vận động duy tân:

Bài luận văn” Thiên hạ đại thế luận” đã gây một ảnh hưởng lớn và sâu đậm cho các bạn vong niên của Nguyễn lộ Trạch cũng như những sĩ phu sau này tiếp nối con đường duy tân hầu tìm một tư tưởng hay chiến lược mới để đánh đuổi ngoại xâm. Qua Nguyễn thượng Hiền, các cụ Phan bội Châu từ 1897, Phan châu Trinh và Huỳnh thúc Kháng từ 1903 đã nghiền ngẫm tư tưởng thức thời của Nguyễn lộ Trạch (TGP t4, tr203-tr216). Phan bội Châu, sau khi đọc bài luận này đã viết trong Thơ văn Phan bội Châu (Chương Thâu-1985): “bắt đầu hiểu biết ít nhiều mầm mống tư tưởng hiện đại”. Cụ Huỳnh đã đánh giá bài luận văn này có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong giới nho sĩ bấy giờ: tất cả đều thức tỉnh, mỡ rộng tầm mắt với những tư tưởng mở đường cho phong trào duy tân đầu thế kỷ 20 (báo Tiếng Dân, số 424 ngày 3-10-1931).

Năm 1900 Phan bội Châu đậu cử nhân lúc đã 34 tuổi về mở trường dạy học tại quê làng Đan Nhiễm huyện Nam Đàn, Nghệ An là bạn cùng quê với Nguyễn sinh Sắc (đậu cử nhân 1894) cũng như với nhà nho Vương thúc Quý. Vương thúc Quý là thầy dạy chữ hán cho trò Côn (tên chính thức Nguyễn tất Thành), con của cụ Sắc lúc đó mới 11 tuổi sau khi mất mẹ (1901) phải về sống bên ngoại tại làng Hoàng Trù huyện Nam Đàn. Nguyễn sinh Sắc (hay Huy) thi đổ phó bảng năm 1901 cùng khoa với Phan châu Trinh và Huỳnh thúc Kháng, nhưng không ra làm quan để về quê mở trường dạy học chỉ cách nhà Phan bội Châu một cánh đồng. Họ hay lui tới thăm viếng họp mặt để đàm đạo văn chương thế sự. Trong các cuộc mạn đàm, Phan bội Châu đã bày tỏ chí hướng cách mạng:

Túc dạ bất vọng duy trúc bạch
Lập danh tối hạ vi văn chương.
(Sớm tối mong tên ghi vào sử sách,
Lập thân bằng thi cử là cách thấp nhất).

Phan bội Châu sau đó vào Huế học Quốc Tử Giám để luyện thi Hội nhưng mục đích chính là móc nối tìm đồng chí qua Cường Để (1882-1951) và Nguyễn Thành (1863-1911) để đến năm 1904 thì chính thức lập HHhHội Duy Tân hoạt động cách mạng trong bí mật. Khi Nhật Bản liên tục đại thắng hai cuộc chiến với Trung Hoa 1895 và Nga Sô 1905 sau công cuộc duy tân 1868 của  Minh Trị Thiên Hòang (1852-1912), cũng như Trung Hoa đang bắt đầu canh tân với Khang hửu Vi (1858-1927) và Lương khải Siêu (1873-1929), sĩ phu Việt Nam mỡ mắt và quyết tâm duy tân đất nước.Năm 1905 Phan bội Châu bắt đầu cuộc cầu viện Đông Du (Nhật Bản) với mục đích đưa thanh niên xuất dương du học để trở về cứu nước hay canh tân đất nước.Nhiều sinh viên hưởng ứng phong trào Đông Du nên Pháp thương lượng với Nhật trục xuất cụ Phan, Cường Để và các thanh niên du học vào năm 1909. Phan bội Châu liền bôn ba các nước Đông Nam Á và Hồng Kông  hay về nước vận động tìm cách quyên tiền mua súng ống của Nhật gởi về giúp Hoàng hoa Thám (đề Thám 1862-1913) nhưng thất bại (số võ khí này tặng cho nhóm cách mạng Trung Hoa Tôn Văn năm 1910). Từ đó Phan bội Châu từ bỏ quan niệm quân chủ mà theo dân chủ tiến đến thành lập Việt Nam Quang Phục Hội tại Quảng Châu 1912 khởi đầu các đảng phái cách mạng võ trang để đưa nhiều thanh niên về chiến đấu trong nước, nổi nhất là cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên 1917 với Lương ngọc Quyến (1890-1917), Trịnh văn Cấn (?-1918).Hội xuất bản cuốn sách Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư của Phan bội Châu gởi về trong nước cổ võ tinh thần cách mạng và vận động du học về quân sự và chính trị.

Phan châu Trinh từ quan 1904 cùng Huỳnh thúc Kháng (1876-1947), Trần qúy Cáp (1870-1908) hoạt động công khai bất bạo động dưới nhiều hình thức khác nhau qua phong trào duy tân khởi đầu từ Quảng Nam, Trung Kỳ mỡ mang dân trí cải tạo xã hội, phát động quốc ngữ, đề xướng dân quyền qua thơ phú, báo chí, hay diễn thuyết trong các thương hội và trường học.Phan châu Trinh là nhà chính trị Việt Nam đầu tiên đề xướng dân chủ và dân quyền trên chính trường quốc nội. Nhóm Phan châu Trinh trong dịp Nam du vận động cải cách văn hóa chính trị gặp Trương gia Mô tại mảnh đất tị địa Phan Thiết để cổ động  mỡ trường nghĩa thục Dục Thanh tại nhà Nguyễn Thông năm 1907 thu nhận con em những người yêu nước và lao động nghèo nhằm vận động duy tân trong quần chúng dưới sự bảo trợ tài chánh của công ty Liên Thành (tk3,tr24).    

Một mặt Lương văn Can (1824-1927) mở trường Đông Kinh Nghĩa Thục 1907 ở Phố Hàng Đào Hà Nội tạo nên một diễn đàn hô hào chấn hưng đạo đức, mở mang dân trí, vận động dân chủ, cải cách văn hóa giáo dục, đả kích nho học (gọi là hủ nho), bải bỏ các phong tục tập quán xấu, phát triển công thương…Từ đó các thành phần xã hội đã bắt đầu mở rộng hiểu biết chấp nhận những cải biến phong tục, tập quán qua việc tham gia phong trào chống thuế và cắt tóc ngắn hay đóng góp tiền bạc cho Quang Phục Hội. Vua Thành Thái (1889-1907) tự làm gương đọc các sách tân thư, cắt tóc ngắn, trốn hòang thành thân hành thăm dân, lái xe, không hợp tác tích cực với Khâm Sứ và chính phủ bảo hộ Pháp, ngay cả các quan đại thần Việt gian….Vua Duy Tân (1907-1916) nối nghiệp và khởi nghiã chống Pháp 1916 nên cũng bị truất phế.

Phong trào kháng thuế xin xâu bùng nổ dữ dội từ tháng 3-1908 tại miền Trung và nhiều người bị giết lúc biểu tình bất bạo động và tù tội ở Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định. Trần quý Cáp và nhiều người lãnh đạo địa phương bị xử tử.Phan châu Trinh, Huỳnh thúc Kháng, Trần cao Vân (1866-1916)…bị đày ra Côn Đảo. Theo báo cáo của mật thám Pháp hồi bấy giờ, Nguyễn sinh Sắc (1862-1929) bị tình nghi đồng lõa với cụ Phan bội Châu và đang hướng dẫn Tất Thành đi theo Phan châu Trinh mà hoạt động. Tất Thành trên đường vào Nam trong tháng 9-1910 theo lời khuyên của cụ Sắc có ghé thăm Trương gia Mô tại Bình Thuận.Với tên mới Nguyễn văn Ba, Tất Thành bắt đầu đi dạy quốc ngữ và hán tự cho học sinh lớp nhì tại trường Dục Thanh của nhóm tị địa qua sự giới thiệu của cụ Mô (tk3, tr558). Những hình ảnh Phan bội Châu và Phan châu Trinh luôn luôn đi theo với Tất Thành vì là những vị thân thiết của gia đình.

Đầu năm 1911, nhờ Hội Nhân Quyền của Pháp can thiệp, Phan châu Trinh ra khỏi nhà tù Côn Đảo và bị quản thúc tại Mỹ Tho đợi ngày đi Pháp theo đoàn Giáo dục Đông Dương vào tháng 4 -1911. Theo Phan thị Minh (cháu Phan châu Trinh) và Phạm văn Đồng (1906-2000) (tk1, tr5), Nguyễn sinh Sắc và các bạn vong niên kịp thời dẫn Tất Thành đến gặp Phan châu Trinh để bàn định kế hoạch xuất ngoại của Tất Thành sang Pháp (theo Daniel Hemery và Thu Trang Gaspard). Ngày 2-6-1911 thuyền trưởng Louis Edward Maisen của tàu Đô đốc Latouche Tréville chạy đường Hải Phòng-Dunkerque của hãng Chargeurs Réunis thu nhận Văn Ba làm phụ bếp trên tàu. Ngày 5-6-1911 Nguyễn tất Thành theo tàu rời bến Nhà Rồng. Sau hơn một tháng, tàu đến Marseilles. Theo bà Phan Thị Minh cho biết sau đó khi Nguyễn tất Thành ghé hải cảng Le Havre khoảng 40 ngày do tàu cần sửa chữa, Tất Thành đã về Paris (cách đó khoảng 100 cây số) thăm Phan châu Trinh.

Nhân dịp gặp lại Bùi Kỷ (1888-1960), quen thân từ nhỏ và đang học tại Trường Thuộc Địa (Ecole Coloniale) và ở đây Bùi Kỷ đã gợi ý xin vào học nội trú trường này. Nguyễn tất Thành liền gởi đơn từ Marseille ngày 15-9-1911 đến Tổng thống Pháp và Bộ trưởng bộ Thuộc địa. Lá thư có những dòng đã phản ảnh chủ trương rất rõ của Phan châu Trinh: phải học văn hoá khai sáng và dân chủ của Pháp để canh tân đất nước. Không được nhận vào Trường này, Tất Thành lại theo tàu đi đây đó, và lưu lại New York một thời gian đến hết 1912, nhưng nỗi lo lắng về thân phụ vẫn làm Tất Thành bức rứt: không phải chỉ gửi tiền giúp, còn có ý xin chính quyền thuộc địa phục chức hoặc tìm việc cho cha như bức thư gởi Khâm sứ Huế nhờ chuyển tiền cho cụ Sắc viết ngày 15-12-1912. Từ cuối năm 1913 và trong Thế chiến I, Tất Thành sống ở Luân Đôn, làm nhiều việc kể cả phụ bếp tại khách sạn Carlton.

 

Đấu tranh dân tộc

Hai chủ trương khác nhau (bạo động hay bất bạo động, và quân chủ hay dân chủ) của hai Cụ Phan đã chi phối hầu hết tư tưởng duy tân trong nước vào đầu thế kỷ 20.Nhờ uy tín đã tạo ra trong nước, khi mới sang Pháp, Phan châu Trinh đã tìm được sự hợp tác của luật sư Phan văn Trường (1868-1933) tiếp tục cuộc đấu tranh từ trước và cổ động Pháp-Việt đề huề. Công việc chủ yếu của Phan châu Trinh là vận động nhằm buộc chính phủ thuộc địa Pháp phải trả lại tự do cho các đồng chí của mình. Bài viết “Toàn cảnh cuộc nổi dậy của nông dân Trung kỳ” lên án sự đàn áp nặng nề của thực dân Pháp đối với những người nông dân tham gia đấu tranh đòi giảm sưu thuế đã được dịch sang tiếng Pháp bởi Jules Roux (một nhà hoạt động xã hội theo hướng dân chủ xã hội, người đã can thiệp và đại diện cho Phan Châu Trinh lúc ông bị bắt vào tù) để đăng lên các báo ở Paris. Hai luận văn khác lên án tệ nạn thực dân Pháp tại Việt Nam với “Đông dương chính trị luận” và trình bày quan điểm chính trị liên hiệp Pháp Việt trong “Pháp Việt đề huề hậu chi tân thư”.

Phan châu Trinh đã cùng với Phan văn Trường lập Hội Ái hữu vào năm 1912 quy tụ những người Việt Nam lúc bấy giờ rất ít tại Pháp. Phan văn Trường bị bắt vào thời kỳ đầu xảy ra chiến tranh thế giới năm 1914 vì bị buộc tội đã hỗ trợ và hợp tác với phòng trào đấu tranh khởi nghĩa chống lại thực dân Pháp tại Đông Dương. Phan châu Trinh cũng đi tù vì bị nghi ngờ tham dự vào các kế hoạch nổi loạn ở Đông Dương và đã liên lạc với người Đức.. Sau khi Phan châu Trinh và Phan văn Trường được chính quyền Pháp trả tự do vào tháng 7-1915 vì không đủ bằng chứng kết tội hai ông về việc nhận tiền của Đức để chống Pháp. Cho đến những năm cuối của cuộc chiến hai người đã thành lập nên một nhóm người Việt mới có tên là Hội Người Việt Yêu Nước. Họ luôn bị mật thám theo dõi, khó hoạt động, nên có thể vì vậy hai ông đã lôi kéo Nguyễn tất Thành về lại Pháp cuối năm 1917 để tích cực tham gia vào hoạt động của Hội những người yêu nước.

Ngay sau khi Thế Chiến I chấm dứt, Hội nghị Hòa bình Versailles được tổ chức trong 6 tháng đầu năm 1919 với chương trình 14 điểm về hòa bình của Tổng thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson.Những nguyên tắc về quyền các dân tộc tự quyết này đã gợi lên hy vọng cho các dân tộc thuộc địa. Nhóm Phan châu Trinh, Phan văn Trường và Nguyễn tất Thành đã làm thỉnh nguyện thư cho dân tộc Việt Nam với bản “Yêu sách của dân tộc An Nam” (Revendications du Peuple Annamite ) dùng tên Nguyễn ái Quốc ký tên. Thực ra, bản yêu sách được sụ đóng góp của toàn nhóm: Phan văn Trường soạn Pháp ngữ, Phan châu Trinh chuyển ra Hán văn và Nguyễn tất Thành dịch ra chữ quốc ngữ. Các yêu sách bao gồm 8 khoản với các đòi hỏi chính là: cải cách pháp luật, tự do báo chí, tự do lập hội, ân xá các chính trị phạm, bình đẳng Pháp Nam…

Tháng 6 năm 1919 Nguyễn tất Thành đã mang tới hội nghị tại Versailles, xin đệ trình lên Tổng thống Woodrow Wilson bản yêu sách này nhưng không thành công.Sau đó những yêu sách này đã được đăng trên tờ Hồn Việt Nam được đưa về Việt Nam và làm chấn động dư luận ở Việt Nam. Ngày 18-6-1919 báo L’Humanité của đảng Xã hội Pháp đăng tải bản yêu sách này làm cho Sở an ninh Pháp đòi Nguyễn áí Quốc ra trình diện.Hai Cụ Phan đã đồng ý để Tất Thành đại diện nhóm ra gặp giới chức Pháp. Tất Thành thường đại diện cả nhóm dùng tên Nguyễn ái Quốc để liên lạc với báo chí truyền thông và chính giới, dần dần Tất Thành dùng luôn bút hiệu Nguyễn ái Quốc làm tên riêng của mình.

Tiếp đó những hoạt động chống thực dân tại Pháp của nhóm được củng cố thêm Nguyễn An Ninh, sinh viên luật từ 1920 và Nguyễn thế Truyền, sinh viên ngành hóa học từ 1921. Từ đầu thế kỷ 20, thanh niên Việt Nam, nhất là ở Nam Kỳ được phép xuất ngoại sang Pháp du học tương đối dễ dàng tạo nên một thành phần mới trong xã hội: thành phần tây học hấp thụ những quan điểm khuynh tả và tự do tây phương.Họ có tầm nhìn chính trị rộng xa và cấp tiến do ảnh hưởng của quan niệm lòng ái quốc đi cùng dân tộc và tổ quốc mới xuất hiện từ thế kỷ 18 tại Tây Âu (mà không phải trung quân từ trước). Những du học sinh này tìm thấy một thế giới tự do tràn đầy những trào lưu tư tưởng triết học tiến bộ đàng sau những cài cách thể chế chính trị và xã hội mới của cách mạng Hoa Kỳ 1775, cách mạng Pháp 1789, canh tân Nhật 1868, cách mạng Trung Hoa 1911 và cách mạng vô sản Nga 1917.

Nguyễn an Ninh về nước 1923 thực hiện những chủ trương của Phan châu Trinh tiếp tục nổ lực hoạt động chống thực dân với báo La Cloche Fêlée (Tiếng Chuông Rè) tại Saigon và hướng dẫn quần chúng về ý thức giải phóng và truyền bá tư tưởng về tự do dân chủ và thúc dục giới trẻ xuất ngoại học hỏi về khoa học và trao đổi kiến thức chuẩn bị cho tương lai của nước nhà.  Số báo ngày 21-4-1924:”Với đất nước An Nam không phải chỉ là việc lấy lại một nền độc lập sớm sủa, một nền độc lập sẽ có thể bị mất ngay sau khi chiến thắng do thiếu một ý thức kỷ luật và giáo dục về chính trị “. Tờ báo Tiếng Chuông Rè đã mở đầu cho việc báo chí công khai đối lập với chính quyền của nền truyền thông Việt Nam do luật tự do báo chí ban hành tại Nam Kỳ thuộc địa 29-7-1881 (chỉ áp dụng cho các báo chí Pháp ngữ mà thôi).

Do luật tự do báo chí này mà lý thuyết cộng sản qua báo chí tiếng Pháp được truyền bá rộng rải rất sớm tại Nam Kỳ, nên số sinh viên du học từ miền Nam đã nhiễm tư tưởng khuynh tả, hầu như đều gia nhập đảng Cộng sản Pháp. Một số sinh viên này được gởi đi Liên Sô thụ huấn theo Đệ Tam và Đệ Tứ Cộng sản Quốc Tế (Nguyễn văn Tạo, Dương bạch Mai, Trần văn Giàu, Tạ thu Thâu, Phan văn Hùng, Trần văn Thạch…).. Hầu hết các cán bộ được đào tạo tại Liên Xô trở về Việt Nam hoạt động bị bắt và chết trong thập niên 1940 sau cuộc “Nam kỳ khởi nghĩa” của Xứ Ủy Nam Kỳ hay thanh trừng bởi nhóm Đệ Tam năm 1945.

Đầu năm 1925 Nguyễn an Ninh qua Pháp để thi tiến sĩ luật và diễn thuyết tại Liên Đòan
Pháp-Đông Dương để ngày 28-5-1925 về lại Saigon với Phan văn Trường và Phan châu Trinh (14 năm sống tại Pháp). Ba Ông lại đứng hàng đầu trận tuyến đấu tranh công khai với thực dân Pháp và giáo dục quần chúng về chủ nghĩa quốc gia độc lập, tự do dân chủ pháp trị. Phan châu Trinh cổ động tổ chức xã hội dựa trên căn bản dân quyền pháp trị công bằng và nêu cao nền tảng đạo đức nhân bản: lòng nhân, sự tương kính lẫn nhau, biết lẽ phải, tương thân tương ái….

Nguyễn an Ninh tiếp tục đả kích chính sách cai trị của thực dân Pháp với sự hợp tác của nhà văn trẻ khuynh tả Andre Malraux qua hai tờ báo L’IndochineL’Indochine Enchainée. Năm 1926 Nguyễn an Ninh đi tù sau khi thành lập Thanh Niên Cao Vọng Đảng và Phan văn Trường thay thế phụ trách tờ Tiếng Chuông Rè rồi mở rộng ban biên tập với Tạ thu Thâu (1906-1945) để đổi thành tờ L’Annam. Ra tù Nguyễn an Ninh phải đi Pháp và lại hoạt động với Nguyễn thế Truyền. Về nước Nguyễn an Ninh lại cùng Phan văn Hùm (1902-1946) gây nên một phong trào nông dân trong năm 1928 tại miền nam và dàn xếp hai nhóm cộng sản trên liên hiệp hoạt động xuất bản báo La Lutte (tranh đấu) và đưa người ra ứng cử vào Hội đồng thành phố Saigon và Hội đồng Thuộc địa.

Từ đầu năm 1923 Nguyễn thế Truyền (1901-1969) đã dứt khoát không còn cọng tác với Nguyễn tất Thành và Đảng Cộng Sản Pháp.Nguyễn thế Truyền vẫn đấu tranh theo chủ trương của Phan châu Trinh qua bán nguyệt san Hồn Việt Nam (L’âme Annamite) từ 1926 chuyên đăng tin về sự kiện mới đang xảy ra tại Việt Nam, nhất là những cuộc đình công bải thị biểu tình chống thực dân và đòi hỏi quyền tự do chính trị, quyền thành lập nghiệp đòan và quyền dân tộc tự quyết. Ngày 14-6-1927 Nguyễn thế Truyền chính thức thành lập Việt Nam Độc Lập Đảng tại Pháp hoạt động với tờ báo Phục Quốc, thay thế tờ Hồn Việt Nam được Tạ thu Thâu (1906-1945) nối tiếp sau này. Sau 10 năm hoạt động tại Pháp, Nguyễn thế Truyền cùng gia đình và Nguyễn an Ninh về nước 1928.Gia đình Nguyễn thế Truyền ra hoạt động tại Bắc Kỳ sau đó.

Tại Paris, Nguyễn tất Thành sau khi trở thành Nguyễn Ái Quốc một thời gian ngắn, đã là đảng viên của Đảng Xã Hội Pháp và vẫn thường đi chung với Phan Châu Trinh trong những cuộc họp do đảng này tổ chức.Yêu sách tám điểm vẫn được Nguyễn ái Quốc sử dụng trong vận động tuyên truyền. Nguyễn ái Quốc là cộng tác viên của hai tờ báo khuynh tả: L’Humanité của Marcel Cachin và Le Populaire của Jean Longuet (cháu của Karl Marx 1818-1883). Vào những tháng cuối năm 1919 có lẽ nhận thấy cuộc vận động kiểu Phan châu Trinh từ trước đến nay quá ôn hoà, Nguyễn ái Quốc đã bắt đầu nghiêng sang những giải pháp đấu tranh mạnh bạo hơn của Phan bội Châu. Nguyễn ái Quốc tham gia tích cực hoạt động quyên tiền cứu trợ nạn đói khủng khiếp (5 triệu người chết) ở Nga 1920 sau cách mạng vô sản 1917, rải truyền đơn chống lại sự can thiệp võ trang của chính phủ Pháp vào nước Nga. Ngoài việc thu thập tư liệu viết Những người bị áp bức (les opprimés) chống chủ nghĩa thực dân, Nguyễn ái Quốc cũng đã bắt đầu quan tâm đến chủ nghĩa cộng sản.

Một báo cáo của viên mật thám “Edouard” đề ngày 20/12/1919, nói rõ đã có nhiều bất đồng chính kiến về phương cách đấu tranh giữa Phan châu Trinh và Nguyễn ái Quốc.Phan châu Trinh nâng đỡ Nguyễn ái Quốc suốt một thời gian dài, tuy có bộc lộ thái độ không tán thành nhiều điểm, nhưng vẫn giữ thái độ cởi mở và quan hệ thân thiết qua tình nghĩa bác-cháu (tk12).Trong báo cáo của Edouard, Nguyễn ái Quốc cho rằng người dân thuộc địa sẽ không bao giờ được gì nếu chỉ bằng cách đưa yêu sách và chờ sự nhân nhượng, xót thương của thực dân Pháp (tk14): “Tại sao 20 triệu đồng bào chúng ta lại không thể làm gì để buộc cho chính quyền thực dân phải trao trả lại nhân quyền? Chúng ta đều là người cả, vậy phải được đối xử bình đẳng.Những kẻ không chịu đối xử bình đẳng với ta thì phải coi chúng là kẻ thù “.Phan châu Trinh quay ra quở lại: “Thế anh muốn đồng bào của chúng ta không tấc sắt trong tay đối đầu lại với người Tây phương với vũ khí tối tân ư ? “, ông hỏi tiếp “Tại sao cứ phải đẩy người dân chết một cách vô nghĩa mà chẳng thu được kết quả nào? “.

Nguyễn tất Thành nhanh chóng rời bỏ quan điểm của Phan châu Trinh về phương pháp yêu sách đòi dân quyền.Những hoạt động của Nguyễn tất Thành-Nguyễn ái Quốc trong thời gian từ 1920 đến 1923 (trước khi sang Nga) hướng tới mục đích tìm đường đến với chủ nghĩa cộng sản.Tháng 7-1920, lần đầu tiên Nguyễn tất Thành tiếp xúc với tác phẩm của Vladimir Lenin (1870-1924) có tên là “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” đăng trên L’humanité của Đảng Xã hội (ngày 16-6-1920).Bài báo đã có tác dụng quyết định toàn bộ sự chọn lựa chính trị của Nguyễn ái Quốc từ đó cho đến hết cuộc đời. Trong Đại hội Tours cuối năm 1920 Nguyễn ái Quốc đã ngã theo một bộ phận của Đảng Xã hội Pháp bỏ phiếu tán thành để trở thành Đảng cộng sản. Cả một thời gian sau khi gia nhập, Nguyễn ái Quốc luôn luôn nhân danh “Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lenin để phê bình và kêu gọi Đảng Cộng Sản Pháp quan tâm thiết thực đến các thuộc địa qua hội Liên Hiệp Các Dân Tộc Thuộc Địa (l’ union intercoloniale) cùng với Nguyễn thế Truyền trong việc phát hành báo Người Cùng Khổ (Le Paria).

E rằng Nguyễn ái Quốc có thể sang Moscow, Phan châu Trinh trong thư đề ngày 18-2-1922 viết: “Thẳng như cái phương pháp của ông Phan bội Châu mà thành công thì quốc dân đồng bào vẫn nguyên là cái lưng con ngựa, chỉ thay người cởi ngựa mà thôi.” Cũng như khuyến cáo đừng ỷ lại ngoại bang và nên trở về nước sống với dân để tuyên truyền tư tưởng giải phóng: “Theo ý tôi mình đừng dùng cái lối nương nấu ngoại bang để rung chuông gỏ trống mà phải trở về ẩn nấu trong thôn dã, hô hào quốc dân đồng bào đồng tâm hiệp lực đánh đổ cường quyền áp chế ắt là thành công.Bời lẽ đó mà tôi khuyên anh thu xếp mà về.” Cụ Trinh có ý nhắn Nguyễn tất Thành là dân tộc ta chẳng có gì thay đổi mà chỉ có Nhật Bản hay Liên Xô sẽ thay thế Pháp mà thôi

Bất mãn với đảng Cộng sản Pháp, Nguyễn ái Quốc bí mật tuyên thệ gia nhập tổ chức chống chủ nghĩa cộng sản Franc-maconnerie (hội Tam Điểm) ngày 14-6-1922 do sự giới thiệu của Boulanger. Vào tháng 10-1922, D. D.Manuilsky, đại diện Đảng Cộng Sản Nga, từ Moscow qua Paris tham dự Đại hội kỳ 2 đảng Cộng Sản Pháp khuyến dụ Nguyễn ái Quốc sang Moscow tham gia Hội nghị Quốc Tế Nông Dân vào năm 1923.Nguyễn ái Quốc bí mật đi Moscow vào tháng 7-1923 để được huấn luyện trở thành học trò trung thành (bí danh Linov) của Lenin trong sự nghiệp đấu tranh giai cấp và chiến tranh giải phóng thuộc phong trào Quốc Tế Cộng Sản (Comintern).

 

Ảnh hưởng của Phan châu Trinh vẫn rất sâu rộng trong giới Việt kiều và sinh viên bấy gìờ về lòng yêu nước và sự kiên trì đề xướng dân quyền.Sau Thế Chiến thứ nhất (1914-1918), đa số “lính tòng chinh” người Việt (khoảng 100.000) chiến đấu trong quân đội Pháp đã hấp thụ một ít không khí tự do với nền văn minh tân tiến của Âu Châu và được Phan châu Trinh – Phan văn Trường cổ võ tinh thần dân tộc chống Pháp nên lúc hồi hương đã có những ảnh hưởng lên chính trường nội địa khi tham gia vào cuộc kháng chiến võ trang dành độc lập cho dân tộc.

Nhưng việc truyền thông qua văn thơ, báo chí bằng chữ quốc ngữ đã chiếm một phần khá quan trọng trong việc mở mang dân trí về văn học xã hội và về sau cả chính trị : Gia Định Báo 1869 (Trương vĩnh Ký 1837-1898), Đông Dương Tạp Chí 1913 (Nguyễn văn Vĩnh 1882-1936), Nam Phong Tạp Chí 1917 (Phạm Quỳnh 1892-1945), cuốn sách Việt Nam Sử Lược 1920 (Trần trọng Kim 1883-1953), báo Tiếng Dân 1927 (Huỳnh thúc Kháng), báo Phong Hóa 1932 (Nguyễn tường Tam 1905-1963), ….Trình độ hiểu biết về chính trị do đó được khai hóa từ từ đủ để bắt đầu chú ý đến sự khác nhau về chủ nghĩa quốc gia dân tộc và chủ thuyết cộng sản quốc tế khi chế độ kiểm duyệt báo chí quốc ngữ được bãi bỏ 1935.

Từ đây mục đích và vai trò lãnh đạo phong trào kháng Pháp đã chuyễn từ quân chủ «trung quân ái quốc» giúp vua cứu nước của giới nho sĩ qua dân chủ «dân tộc tự quyết và quốc gia độc lập» của giới tân học hay trí thức tây học trong buổi giao thời với những tồ chức có tính chất hội đoàn hay đảng phái trong hay ngoài nước biết đặt quyền lợi cuả đất nước lên trên hết.

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s