Tạ Thị Ngọc Thảo – “TIỂU THƯ” FDI VÀ KINH TẾ VIỆT NAM

“Nguồn FDI trên thế giới đang “đói” thị trường”- Tổng thư ký UNCTAD
Trong một thế giới đang tiến dần đến “phẳng” như hiện nay, nếu có một nguồn vốn nào rất dồi dào, rất hào phóng, rất quan trọng, nhưng nhạy cảm với thời cuộc, nhạy bén với thị trường và là niềm mơ ước của nhiều quốc gia, nhiều doanh nghiệp, thì đó chính là nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Những tính chất “nắng không ưa, mưa không chịu” của nguồn vốn này cho thấy FDI rất giống tiểu thư con nhà danh gia vọng tộc.

FDI từ đâu “nàng” tới?
Nguồn FDI đến từ các Công ty xuyên quốc gia (TNC) của tư nhân và một số ít là của Nhà nước. Các TNC chủ yếu tập trung ở khu vực tam giác Mỹ, EU, Nhật Bản, ba nước đã chiếm 85 trong số 100 TNC hàng đầu thế giới. Những đại công ty này có vốn, có công nghệ, có thương hiệu và có mạng lưới tiêu thụ rộng khắp thế giới, cho nên thường tìm kiếm những thị trường mới ở ngoài nước để khuếch trương hoạt động đầu tư. Tại APEC CEO Summit 2006, thông tin từ Tổng thư ký Tổ chức về Thương mại và Phát triển của Liên Hợp Quốc (UNCTAD) cho biết: đầu tư ra nước ngoài năm 2005 của TNC đạt 779 tỷ USD, lớn nhất là Hà Lan (119 tỷ USD), kế tiếp Anh, Pháp, Mỹ, Nhật. Nhóm nước đang phát triển cũng đang đẩy mạnh hoạt động đầu tư ra nước ngoài, với 133 tỷ USD, chiếm 17% tổng vốn toàn cầu. Trong đó, nhiều TNC của các nước thuộc khu vực Nam, Đông và Đông Nam Á đang có nguồn dự trữ lớn, nên hoạt động đầu tư ra nước ngoài cũng rất sôi động, đạt 68 tỷ USD tháng 5 năm 2006. Hồng Kông là quốc gia có vốn đầu tư ra ngoài lớn nhất trong các nền kinh tế đang phát triển, 33 tỷ USD.

FDI “nàng” đi về đâu?
Cũng số liệu từ UNCTAD (tại APEC CEO Summit 2006), thu hút đầu tư nước ngoài năm 2005 lên tới 916,3 tỷ USD (tăng 29% so với 2004). Đồng vốn này chảy vào các nước phát triển 542 tỷ USD, chiếm 59,2%; vào các nước đang phát triển 334 tỷ USD, đạt 36,5%; số còn lại 4,3% rớt vào nhóm nước có nền kinh tế đang chuyển đổi. Những năm gần đây, các nước Đông Á, Đông Nam Á là sự lựa chọn ưu tiên của các nhà đầu tư, năm 2005 thu hút được 165 tỷ USD, đạt 18% dòng chảy của FDI thế giới. Riêng Trung Quốc đã chiếm 72 tỷ USD, Hồng Kông 36 tỷ USD, kế là Singapore 20 tỷ USD, Indonesia 5 tỷ USD, Thái Lan và Malaysia cùng đạt gần 4 tỷ USD, Việt Nam khoảng 2 tỷ USD (tính vốn thực hiện). Nếu không tính Myanma, Lào, Campuchia thì Việt Nam là nước “tiểu thư” FDI tìm đến ít nhất.
Số liệu trên cho thấy FDI đúng là “tiểu thư”, vì được hình thành từ các TNC ở các nước phát triển và đang phát triển ở mức cao. Nhưng tại sao hai phần ba nguồn FDI lại rót ngược về những nước này? Có phải do “môn đăng hộ đối” hay do các TNC nhận ra rằng đầu tư vào các nền kinh tế đang chuyển đổi là quá phiêu lưu, mạo hiểm?

FDI “nàng” có làm sang cho nước bạn?

Nhiều nước trong khu vực nhờ nguồn FDI làm cú hích mà phát triển tăng tốc, trong đó phải kể đến Singapore. Gần như thành nguyên lý, quốc gia nào cũng trở nên giàu có nhờ vào hai nguồn vốn: con người và tài nguyên. Nhưng đất nước sư tử này hầu như không có tài nguyên; cả nước ngọt, lương thực, thực phẩm cũng phải nhập từ bên ngoài để đáp ứng nhu cầu trong nước. Vì thế, chỉ có thể trông cậy vào con người. Và chính “nguồn vốn” sáng giá này đã như nam châm hấp dẫn các TNC tuôn FDI vào thị trường Singapore. Những thành tựu mà Singapore đã đạt được cho thấy lãnh đạo Nhà nước Singapore đã định hướng đúng về mục tiêu phát triển đất nước: không chọn mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà trở thành một nền kinh tế phục vụ cho các nền kinh tế khác trong khu vực và kết nối khu vực với toàn cầu (khu vực dịch vụ chiếm tới 65% GDP). Singapore đã “nuôi” FDI bằng chất xám trong chiến lược phát triển, chất xám trong quản lý nhà nước và chất xám trong mọi hoạt động liên quan đến nguồn vốn quan trọng này. Từ ngày độc lập (1965) đến nay, trong bốn mươi năm chẵn, GDP tính trên đầu người của Singapore liên tục tăng từ 200USD/người lên 24.000 USD/người. Singapore là nước chuyển thẳng từ nước kém phát triển lên phát triển và còn là nước đi đầu chuyển đổi từ nền kinh tế mua bán, dịch vụ sang nền kinh tế tri thức.
Không riêng đối với Singapore, FDI là nguồn vốn quan trọng, kỳ vọng của các nước phát triển, đang phát triển và nhất là các nền kinh tế trong giai đoạn chuyển đổi, như Việt Nam hiện nay.

“Tiểu thư” FDI đến Việt Nam
Khi nước ta chưa tiến hành đổi mới, nguồn vốn FDI không chảy vào Việt Nam. Chỉ sau khi có Luật đầu tư nước ngoài, thì “tiểu thư” FDI mới bắt đầu tìm đến. Dòng chảy của nguồn vốn này vào Việt Nam không ổn định, năm nhiều năm ít, lúc trồi lúc sụt, do nhiều yếu tố, trong đó có sự lệ thuộc vào quyết tâm đổi mới và hội nhập kinh tế thế giới của Việt Nam. Từ cái thuở ban đầu 1987 đến nay đã 20 năm. Suốt thời gian dài đó đã có trên 7.000 dự án được cấp giấy phép, tổng mức vốn đăng ký 70 tỷ USD, tổng vốn thực hiện đạt khoảng 50%, trong đó số dự án bị rút giấy phép hoặc đề nghị rút giấy phép chiếm tỷ lệ khoảng trên 15% số vốn thực hiện. Từ 2001 – 2005, nguồn vốn này phục hồi và tăng trở lại, dù chậm nhưng đều, vốn thực hiện cũng tăng theo. Năm 2006 là năm có nguồn đăng ký FDI trên 10 tỷ USD, vốn thực hiện khoảng 3 tỷ USD. Đây là con số cao nhất từ trước đến nay.
Có thể nói, suốt hai thập niên vừa qua, nguồn FDI đã góp phần quan trọng vào nền kinh tế, giúp Việt Nam phát triển bền vững thể hiện qua tốc độ tăng trưởng GDP cao liên tục, chỉ đứng thứ ba sau Trung Quốc và Kampuchia. Năm 1976, GDP của Việt Nam khoảng 110USD/người, ba mươi năm sau, tháng 12- 2006, đạt 720USD/người. Các chuyên gia kinh tế dự đoán rằng từ năm 2007 – 2010, đăng ký FDI tại Việt Nam sẽ tăng đột biến theo chiều thuận lợi, do các yếu tố chủ quan và khách quan: (a) Thành tựu của 20 năm đổi mới, (b) Việt Nam gia nhập WTO, (c) Thành công của APEC 14, (d) Hoa Kỳ trao PNTR cho Việt Nam và, (e) Nguồn FDI trên thế giới đang “đói” thị trường, nhất là các hoạt động sát nhập, mua lại (M&A), liên doanh. Nhưng vốn đăng ký cao là một chuyện, còn làm sao để nguồn vốn này trở thành vốn thực hiện và mang lại hiệu quả thiết thực lại là một chuyện khác.
Từ số liệu của UNCTAD cho ta thấy chỉ có 4,3% trên tổng số FDI toàn cầu rơi vào nền kinh tế đang chuyển đổi. Tại sao? Các nhà đầu tư TNC chia sẻ: (i) Các vị lãnh đạo của các nền kinh tế này nhận thức về FDI chưa thống nhất, chưa đúng tầm; (ii) Hệ thống luật pháp chưa đồng bộ, khó dự đoán, tìềm ẩn nhiều ẩn số rủi ro; (iii) Quản lý nhà nước điều hành chủ yếu dựa trên mối quan hệ và chưa theo kịp với tốc độ phát triển của đất nước, hệ thống hành chính thiếu công tâm, chưa chuyên nghiệp; (iv) Chất lượng nguồn nhân lực (hiểu theo nghĩa rộng) thấp và chậm cải thiện, ý thức tôn trọng pháp luật thấp, kỷ luật lao động kém.
Nếu Việt Nam khắc phục được những điểm yếu này nhanh hơn các nước khác cùng nhóm, chắc chắn nguồn FDI sẽ chảy về Việt Nam nhanh, nhiều và bền vững hơn.

“Tiểu thư” FDI nói gì với Việt Nam?
“Tiểu thư” nói rằng: FDI là chỉ số thể hiện sự ổn định về nhiều mặt của một đất nước: chính trị, an ninh (quân sự, thiên tai, dịch bệnh…), kinh tế, xã hội, v.v… FDI còn là chỉ số dự báo sự phồn vinh, thịnh vượng của nền kinh tế. Vì vậy, Việt Nam phải tìm mọi cách thu hút FDI ngày càng nhiều về cho đất nước và cho doanh nghiệp của mình. Để “tiểu thư” FDI đến thường xuyên, liên tục và tăng cao tác động tích cực vào kinh tế thì Việt Nam rất nên có những cuộc “ngoại giao kinh tế” ở cấp nhà nước; giới thiệu, xúc tiến thương mại, mời gọi đầu tư ở cấp doanh nghiệp và tổ chức tiếp thị ở cấp địa phương (tỉnh – thành phố) v.v…
“Tiểu thư” căn dặn: thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cần lưu ý, ưu tiên thu hút FDI dài hạn hơn ngắn hạn, như một cách chia sẻ lợi nhuận và rủi ro, gắn chặt nguồn vốn này với một cơ cấu kinh tế phù hợp, bảo đảm sự phát triển bền vững, giúp hạn chế khả năng xảy ra khủng hoảng kinh tế, tài chính. Có những dự án từ FDI mang nguồn lợi trực tiếp cho nhà đầu tư đôi khi nhỏ hơn nguồn lợi gián tiếp cho Việt Nam và doanh nghiệp. Cụ thể như: tạo điều kiện cho nước sở tại mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, thiết lập quan hệ song phương, đa phương, toàn cầu; tạo cơ sở vật chất ban đầu, hạ tầng kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và kỹ năng quản trị; sử dụng và đào tạo nguồn nhân lực trung, cao cấp, tạo công ăn việc làm cho người lao động… Đó chính là nền tảng ban đầu của một nền kinh tế phát triển bền vững. Kinh nghiệm từ 20 năm thu hút đầu tư cho thấy: có những dự án khu đô thị mới từ nguồn FDI đã là đòn bẩy bật cả vùng đất hoang sơ (dự án Nam Sài Gòn – TP.HCM); có những dự án như “con chim mồi sáng giá”, làm sang nhiều mặt cho nước sở tại nhờ vào thương hiệu toàn cầu (Intel, Canon, Ford, Honda…); nhưng cũng có những dự án khai thác, vận chuyển khoáng sản (than, bauxit…), tàn phá môi trường, làm ảnh hưởng đến nhiều thị trường khác, nhất là dịch vụ du lịch (Hạ Long, Lâm Đồng, Đắc Lắc…). “Tiểu thư” FDI khuyên: Việt Nam cần định hướng cho nguồn FDI chảy vào đâu vừa có lợi nhất cho việc hình thành cơ cấu kinh tế của đất nước nhưng phải đảm bảo nhà đầu tư cũng có lời. Nên hạn chế đến mức thấp nhất các dự án ảnh hưởng đến môi trường, cảnh quan thiên nhiên…; những dự án loại này sử dụng tài nguyên của đất nước như đem “bức họa giá trị đi gói xôi” vậy.
Năm 2006, nhiều chỉ số điều tra về môi trường đầu tư – kinh doanh của Việt Nam bị tụt nhiều bậc, nhất là do quản lý Nhà nước yếu kém và tệ quan liêu nhũng nhiễu của bộ máy hành chánh; điều này thật sự làm “tiểu thư” FDI ngần ngại. Theo “tiểu thư”, giai đoạn thu hút sự quan tâm dư luận của Việt Nam đã qua. Bây giờ là lúc Việt Nam cần phải thể hiện bằng được khả năng “tiêu hóa” nguồn FDI nhanh và hiệu quả. Sử dụng nguồn vốn này như đòn bẫy, bẫy kinh tế phát triển tăng tốc. Nhớ, đừng để lòng tin của các nhà đầu tư bị giảm, vì một khi lòng tin bị mất, muốn tạo dựng lại không hề đơn giản chút nào.
Vì tính chất rất nhạy cảm với môi trường đầu tư mà FDI được ví giống “tiểu thư”. Vì vậy, Việt Nam cần có nhiều “quân tử” để giữ chân nguồn vốn quan trọng này.
FDI Nàng ôi,
Đến đây thì phải ở đây,
Cùng nhau bén rễ sanh cây đề huề…

—————————–

(Tham luận tại Hội thảo khoa học: “Kinh tế Việt Nam hội nhập – phát triển bền vững”, do Viện Kinh tế Phát triển tổ chức và bài cũng đã đăng Báo Tia sáng ngày 30/01/2007)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s