Nguyễn Thị Ngọc Dung – Giới thiệu Tác Phẩm: Khoảng cách của Biệt Ly của Lan Cung

Là một tuyển tập truyện ngắn và là tác phẩm thứ tư của Cung thị Lan,(được ra đời) sau ba tiểu thuyết dài: Nha Trang, Dấu Chân Kỷ Niệm, Hai Chị Em và Tình trên Đỉnh Sầu.
Với gần 350 trang giấy, “Khoảng Cách Của Biệt Ly” gồm nhiều truyện ngắn mà nếu lần lượt đi vào mỗi truyện, người đọc có thể thấy tuy nội dung có khác nhau, nhưng đặc tính chung của nhân vật chính lại bàng bạc khắp trong tác phẩm; cũng như phảng phất ở các truyện dài khác mà Cung thị Lan đã viết trước đây. Đó là một chuỗi những cảm nghĩ cuả nhân vật chính trong truyện về người, về sự việc và cảnh ngộ chung quanh. Nhưng quan trọng hơn hết là hầu như tất cả đều như có liên quan vớí nhau, một cách có hệ thống.
Khởi đầu toàn tập là truyện “Những tấm Lòng Nhân Ái”: Với một chiều dầy gần 200 trang, truyện mô tả một cuộc hành trình đầy gian nan và không kém phần “hồi hộp” như một cuốn phim với những màn vô cùng gay cấn. Qua truyện này, người đọc có thể cảm nhận rằng tác giả muốn lưu lại nhiều nhất, cảm xúc của mình cùng vớí những kinh nghiệm cam go trên bước đường đi tìm tự do. Truyện có giá trị như một tập hồi ký, sống thực và không hư cấu, đánh dấu một giai đoạn mà trong đó tinh thần con người gần như bị khủng hoảng. Khủng hoảng vì thời thế đổi thay, vì cuộc sống không có lối thoát, vì tương lai vô định và còn vì rất nhiều lý do khác nữa. Tất cả đã khiến con người quên cả nguy hiểm để tìm đường đi, để mong sao thoát khỏi cuộc sống ngột ngạt với nhũng đòi hỏi phi lý của chế độ mới. Con người, do đó, đành “một liều ba bảy cũng liều” để tìm đường ra đi. Dù không xong, vẫn tiếp tục đi mãi, mang theo trong lòng bao nỗi xót xa khi phải rời bỏ quê hương, khi không còn cách lựa chọn nào hơn.
Hành trình đi tìm tự do này có thể nói là vô cùng gian truân và đầy thử thách. Dưới ngòi bút của Cung thị Lan – tác giả- đồng thời cũng là nhân vật chính trong truyện, người đọc như hình dung ra được, rất rõ, cảnh tượng sóng to gió lớn mà chiếc ghe thì mỏng manh, lênh đênh trên biển cả…Người trên ghe thì đa số là phụ nữ với trẻ em; mà người chèo lái thì chỉ có hai người thay phiên nhau và một hai người phụ giúp không chuyên nghiệp! Tình trạng ấy đã được mô tả lại, tường tận, với đầy đủ chi tiết cùng với tâm trạng con người trải qua nhiều giai đoạn, đã được mô tả rất chính xác : Từ khắc khoải chờ mong lúc còn khởi đầu để có cơ hội vượt thoát, đến hồi hộp, lo lắng vì sợ bị công an bắt khi đến điểm hẹn; và nhất là rối rắm, hoang mang khi phải mò mẫm đi sâu vào rừng cây giữa lúc màn đêm đã phủ dày đặc, không chút ánh sáng. Kế đến là cả một sự hãi hùng khi phải leo xuống dốc đầy ghềnh đá trong rừng cây giữa cơn mưa gió lớn trong đêm. Lúc hết mưa bão thì lại phải chịu đựng cơn nắng phũ phàng khi leo lên nguợc lòng sông cạn với đầy ghềnh đá lởm chởm, bỏng rát để quay về, vì bãi bị “bể”(!). Cả một điều thất vọng lớn.
Thế cũng vẫn chưa bằng nỗi kinh hoàng khi trực diện với phong ba bão tố giữa đại dương, dù chỉ mới loanh quanh ở ngoài hải phận quốc tế. Đây mới là “xen” gay cấn khi mọi người phải sống trong tình trạng hiểm nghèo: Chưa hết căng thẳng vì những đợt sóng dữ, hãi hùng khi va đập vào thành ghe, đã lại khiếp đảm vì những đợt sóng “hung hãn” kế tiếp. Nhiều pha “hấp dẫn”, trong đó tác giả còn tỉnh táo trong nỗi…kinh hoàng, để nhận biết những gì đang xảy tới ! Có những lúc tuởng như bình minh sắp ló rạng, nhưng rồi lại chìm vào cơn tuyệt vọng với những giông tố liên tục và phũ phàng. Trong giây phút ấy, người trên thuyền chỉ còn biết cầu nguyện ; và không tránh khỏi ý nghĩ đành phó thác cho số phận . Trong hoàn cảnh cam go ấy, tâm trạng con người cũng giao động khủng khiếp từng giây, từng phút .Từng chi tiết của cảnh tượng chống chọi với phong ba bão tố đầy nguy hiểm nhưng lại cũng rất “ngoạn mục”, dưới ngòi bút của tác giả . Hết chống chọi với phong ba lại đến chuyện ghe đi lệch hướng…Thế là lại thêm một phen điêu đứng!
Nhưng rồi, may thay, cuối cùng chiếc ghe nhỏ cũng vượt qua được mọi thử thách để kết thúc bởi niềm vui mừng khôn tả khi được tầu Đan Mạch đến vớt. Bao nhiêu lo sợ hãi hùng trong giây phút đã tan biến và được thay thế bằng niềm hạnh phúc vô biên, tuởng như đã được đền bù xứng đáng bởi bàn tay Thượng đế. Niềm khao khát được thấy Tự do đã được biểu lộ trong ý nghĩ rất đơn giản “được tàu vớt, được tới đất liền, giấc mơ tự do của chúng ta đã trở thành hiện thực, còn những người kém may mắn phải mang ước mơ của họ xuống tuyền đài” làm độc giả không khỏi chạnh lòng. Và, thế đủ biết là mơ ước được sống tự do là niềm mơ ước chung của con người và là một điều không thể phủ nhận được. Ý thức đi tìm tự do này thể hiện rất rõ ràng trong ý nghĩ của những người bình dân. Và ở nơi tác giả thì ý thức này lại càng sâu sắc hơn “khi chỉ nghĩ đến những thuyền nhân kém may mắn, tôi hiểu sự dày vò trong nội tâm của họ trước khi họ quyết định bỏ lại quê hương, bà con ruột thịt, nhà cửa và tài sản để vượt biên, mà chắc chắn là họ không lường được những gì xảy ra…” (trang 181)
Nếu “Những Tấm Lòng Nhân Ái” chỉ nói đến những gian nan của cuộc hành trình đi tìm tự do thì cũng không có gì khác lạ hơn những chuyện vượt biên khác. Một điều không thể không nhắc tới ở đây là: Qua tác phẩm của Cung thị Lan, luôn luôn người đọc thấy đươc sức chịu đựng phi thường của phụ nữ và trẻ em trong cùng một chuyến đi. Nổi bật nhất là tấm lòng của người mẹ, được bộc lộ qua ý nghĩ rằng, nếu có phải hi sinh sự sống của mình cho sự sống còn của con thì người mẹ cũng sẵn sàng. Một điểm khá thú vị khác, đồng thời cũng là niềm vui cho tác giả là một nhân chứng tí hon trong truyện: Cậu bé chưa đầy hai tuổi “Tinô” hai mươi năm sau đã trở thành môt thanh niên chững chạc, có chiều sâu và chứa đựng bàng bạc nhân cách của mẹ. Lời bộc lộ của cậu về một bài hát phổ biến “Dấu Chân Việt Nam” rằng “Con rất thích bài này” là cả một sự ngạc nhiên thích thú cho bà mẹ. Tưởng không còn gì cảm động hơn : Vừa là một phần thuởng cho cuôc đời và là niềm tự hào của tác giả. Cậu bé “Tinô” trên chiếc ghe hai mươi năm về trước chính là cậu thanh niên Tùng của hiện tại, mang đầy đủ đức tính của một người con ngoan, học giỏi, làm vui lòng cha mẹ. Hơn thế nữa, một phần thưởng vô giá, một kỷ niệm không thể mua được, đánh dấu một thời lận đận và gian nan trên đường đi tìm sự sống trong cái chết, của hai mươi năm trước đó.
Vượt lên trên tất cả là sự biết ơn sâu xa đối với những người có trái tim nhân hậu, được biểu tỏ qua thái độ cư xử ân cần, mà lòng thương ngườì vốn đã có ngay từ trong bản chất. Chíếc tàu chở dầu Đan Mạch là môt bằng chứng hùng hồn cho những tấm lòng vàng vô vị lợi này của cả ông thuyền trưởng lẫn thuỷ thủ đoàn. Sau hai mươi ngày “dập dềnh” trên biển, mọi người được đưa đến tạm trú tại trại tị nạn ở Nhật để chờ đi định cư ở nuớc thú ba. Ước mơ Tự Do đã đạt được. Đó là cả một sự tương phản sống động giữa hai hoàn cảnh khác xa một trời một vực. Đến đây tác giả chắc không thể quên biết ơn tài chèo lái cực kỳ tài tình và linh động của “ông chủ ghe” và “anhThảo“ mà nếu không khéo thì chưa chắc mọi người đã sống sót để thấy được chiếc tàu Đan Mạch (!) . Quả thật là một kỷ niệm đáng ghi nhớ và một kinh nghiệm để đời …
Khoảng Cách của Biệt Ly không chỉ dừng ở hoàn cảnh vượt biên gian khổ, mà còn tiếp tục nói lên một số những khía cạnh khác của cuộc sống nơi xứ người: Cuộc sống mới của người Việt tị nạn, sau khi đã được định cư. Qua mẩu đối thoại nội tâm, người đọc có thể thấy cả một kinh nghiệm thực tế về người dân và cuộc sống nơi đất khách, sự ý thức về lề lối làm việc và cách ứng xử vớí người bản xứ. Đó là một chuỗi rút tỉa những kinh nghiệm của bản thân rất bổ ích và thiết thực. Tính mạnh dạn, quả quyết rất quan trọng cho việc thành công nơi nghề nghiệp cũng như trong cuộc sống. Mà điều quan trọng là nắm vững nguyên tắc làm việc và làm với công tâm thì vẫn đứng vững trước những sự kỳ thị ,nếu có.(TâmTình với Ý Nghĩ).
Trong khi phải hội nhập với đới sống mới, phấn đấu học tiếng Anh, hăng hái đi kiếm việc làm, người Việt tị nạn CS cũng không quên những kỷ niệm cũ nơi quê hương yêu dấu .Tình gia đình, lòng yêu mến quê hương và tình bạn thuở học trò v.v cũng là những tình cảm đáng được nâng niu. Trong khi đó, có những kỷ niệm ghi lại cuộc gặp gỡ giửa hai người bạn cùng trường ngay trên đất khách cũng thật cảm động. Sự chia xẻ tâm tình, tấm lòng hiều thảo đối vớí mẹ của người bạn gái nơi đất khách quê người đã làm ấm lòng tác giả khi thấy tình mẹ con thật đáng cảm phục (Học Sinh Lớp Chín Năm). Trong một hoàn cảnh khác, tác giả còn chia xẻ kinh nghiệm phong phú của mình với tư cách là một giáo viên viếng nhà (home teacher). Vốn đã từng làm việc với người đồng hương, từng lắng nghe những hoàn cảnh khó khăn của những người lao động, Cung thị Lan có thể thấu hiểu nỗi lòng của họ, từng chia xẻ với họ, học hỏi nơi họ rất nhiều điều mà trong sách vở không có. Một mối tình cảm gần gũi, gắn bó với những gia đình vốn là những khách hàng lâu năm của mình. Qua cuộc sống của họ, tác giả có thể hiểu được tâm trạng họ và quen thuộc với nếp sống quây quần, tụ tập gần gũi nhau ở cuộc sống chung cư, như một “xâ hội dân sự”nhỏ bé, thân thương và gắn bó (Những điều không thể hỏi). Cũng trong khung cảnh đó, qua phạm vi nghề nghiêp, tác giả còn có dịp thấu cảm với mọi cảnh ngộ, từng người, từng nhà. Đặc biệt là cảnh ngộ của một phụ nữ Việt Nam đứng tuổi – `Dì Út` – trong “Mùi Cơm Sôi Cạn Nước” thật cảm động. Dì Út sống cô đơn một mình, hưởng trợ cấp tàn tật, nhưng lại sống rất chan hòa với moị người. Dì có nhiều đức tính tốt khiến cho ai nấy đều thương quý. Tác giả Cung thị Lan cũng đã thật sự sống hòa mình với những người bình dân biết trọng lễ nghĩa và những giá trị truyền thống Việt Nam. Những người này, trong khi cố gắng vươn lên trong xã hội mới mà họ mang ơn đã ý thức được sự tự do no ấm mà họ được hưởng nơi xứ người. Những tình cảm ấy thể hiện một tính nhân bản trong cách cư xử và trong tâm thức.
Cuối cùng là truyện ngắn “Khoảng Cách Của Biệt Ly” mà Cung thị Lan để vào đoạn cuối và dùng làm đầu đề cho toàn cuốn truyện. Tác giả hư cấu một mẩu đối thoại giữa hai người cõi âm. Hay nói cho đúng ra là hai linh hồn bay khắp chốn không gian và chia xẻ với nhau về hoàn cành của mình khi còn sinh tiền. Đặc biệt, qua mẩu đối thoaị ta có thể thấy được một số bài học hay. Trước hết là tính chất nhân bản của câu chuyện: Cả hai vong hồn của hai ngưòi mớí chết nên hồn còn quanh quẩn gần gũi và có thể nhìn đưọc cõi dương. Các nhân vật vẫn còn mang tính chất rất “người”, còn hờn, giận, oán trách, vui buồn đủ cả…Câu chuyện cho thấy tác gìả tin tưỏng rất đơn giản rằng “Sống và Chết là sự tương quan trong vũ trụ ; nhưng chết là sự biến mất ngôn từ của người sống mà thôi”.
                                                * *
Có thể nói, trong tuyển tập “Khoảng Cách Của Biệt Ly” tất cả mọi truyện đều có liên hệ mật thiết với nhau. Tất cả mọi cảnh ngộ đều cùng xảy ra trên đất Mỹ, nơi định cư cho cả hàng triệu người Việt nam. Và kết cấu của quyển truyện cho thấy một trình tự mạch lạc trong cuộc sống của những nhân vật trong truyện, kể từ ngày rời bỏ quê hương, vật lộn với cuồng phong và ba đào, cho đến khi định cư trên đất Mỹ. Đó là cả một quá trình phấn đấu không ngừng dưới nhiều hình thức, phù hợp với từng giai đoạn. Bao trùm lên cả là lòng biết ơn sâu xa đối với những ân nhân đã cứu người trong hoàn cảnh tưởng chừng như thập tử nhất sinh. Đó là điều không thể nào quên mà còn khắc sâu trong tâm khảm những người có một trái tim hiểu biết. Ghi nhận sự kiện này để con người tiếp tục nuôi dưỡng thêm lòng vị tha tiếp tục xây đắp cuộc sống nội tâm và gia đình theo một chiều hướng lành mạnh. Và như thế cũng là để làm guơng cho thế hệ mai sau, thế hệ của cậu bé “Tinô”.
Chúng tôi xin dứt lời ở đây vì còn nhiều điều đáng nói, xin để dành cho độc giả tiếp tục tìm hiểu thêm.

Vancouver, tháng giêng 2010
Nguyễn thị Ngọc Dung

One comment

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s