GS Tôn Thất Trình – Tỉnh Ninh Thuận, Phan Rang – Tháp Chàm

Tỉnh lỵ nay là thị xã Phan Rang – Tháp Chàm và Ninh Thuận có 6 quận : Bác Ái , Ninh Hải , Ninh Phước , Ninh Sơn , Thuận Bắc , Thuận Nam. Thị xã Phan Rang – Tháp Chàm ở ngã ba : đường xe lữa Nam Bắc, quốc lộ số 1, đường liên tỉnh số 27 lên Đà Lạt ( tỉnh Lâm Đồng), Đắc Lắc ( Buôn Ma Thuột ). Thị xã Phan Rang – Tháp Chàm cách Nha Trang 105km, Đà Lạt 110km, TP Sài Gòn – HCM 350km và thủ đô Hà Nội 1382 km

* * *

Phần I – Tổng quát

Vị trí

Trong Việt Nam, tỉnh Ninh Thuận nằm vào kinh tuyến Đông 1080 E và vĩ tuyến Bắc 11 0 45’ N.
Trung tâm Panduranga, tên Chăm ( Chàm, Chiêm Thành ) của Phan Rang là ở Ninh Thuận, cũng gồm thêm phần lớn đất tỉnh Bình Thuận ngày nay. Panduranga là trung tâm chính trị của tiểu quốc Champa sau khi Vijaya thất thủ năm 1471. Nhưng vẫn độc lập mãi đến năm 1832 , khi vua Minh Mạng sáp nhập tiểu quốc này vào Đại Việt -Việt Nam. Năm 1976, Ninh Thuận nhập vào Bình Thuận cùng lúc với tỉnh Bình Tuy và tỉnh Khánh Hòa, thành tỉnh Ninh- Khánh- Thuận. Năm 1991, tỉnh này lại tách ra ba và tỉnh Ninh Thuận thành tỉnh riêng mình. Trong việc chia miền hành chánh mới, tỉnh Ninh Thuận cũng như tỉnh Bình Thuận nay thuộc Miền Đông Nam Bộ – North East South; trong khi đó tỉnh Lâm Đồng thuộc Tây Nguyên – Central Hihghlands và Khánh Hòa là tỉnh cuối Duyên hải Nam Trung Bộ- South Central Coast, trải dài từ Đà Nẳng xuống Khánh Hòa. Còn Bắc Trung Bộ – North Central Coast trải dài từ Thanh Hóa xuống Thừa Thiên – Huế .
Diện tích Ninh Thuận là 3,358 km2 ( 1,296 .5 dặm Anh vuông ). Bắc giáp Khánh Hòa,Tây giáp Lâm Đồng, Đông giáp Biển Đông và Nam giáp Bình Thuận. Tổng dân số năm 2009 là 565700 người; năm 1991, năm Ninh Thuận tách rời thành tỉnh riêng biệt chỉ mới là 421 600 người . Các tộc dân đông nhất tỉnh là Kinh, thứ đến là Chăm chiếm chừng 12 %( ? ) dân số tỉnh, khỏang 90 000 người, Raglai, Cơ Ho và Hoa. Đa số dân Chăm sống gần thị xã Phan Rang- Tháp Chàm. Dân Raglai sống nơi xa xôi hẻo lánh như ở quận Ninh Hải phía đông Bắc tỉnh và vùng núi non phía Tây. Điểm đáng lưu ý là dân đô thị Ninh Thuận tăng mau , lên đến 185 700 hay 32 ,3 % năm 2007, thay vì chỉ là 123 700 năm 2000, nghĩa là mức tăng này trung bình 6 % từ năm 2000 đến năm 2007. Trong khi đó, dân nông thôn lại tương đối giảm đi, tăng trưởng âm; dù rằng mức tăng trưởng dân số trung bình là 1.5 %, cao nhất miền Nam Duyên hải Trung Bộ, chỉ sau Đà Nẳng .
Tỉnh lỵ nay là thị xã Phan Rang – Tháp Chàm và Ninh Thuận có 6 quận : Bác Ái , Ninh Hải , Ninh Phước , Ninh Sơn , Thuận Bắc , Thuận Nam. Thị xã Phan Rang – Tháp Chàm ở ngã ba : đường xe lữa Nam Bắc, quốc lộ số 1, đường liên tỉnh số 27 lên Đà Lạt ( tỉnh Lâm Đồng), Đắc Lắc ( Buôn Ma Thuột ). Thị xã Phan Rang – Tháp Chàm cách Nha Trang 105km, Đà Lạt 110km, TP Sài Gòn – HCM 350km và thủ đô Hà Nội 1382 km .

Địa hình, đất đai

Ninh Thuận có địa hình điển hình cho miền duyên hải Trung Bộ , là có núi cao không những gần biên giới phía tây tỉnh đến Tây Nguyên , mà núi non cũng nhiều gần bờ biển. Cao nhất là Núi Chúa, đỉnh đạt 1040m ở Đông Bắc tỉnh. Đỉnh khác là Núi Đá Bạc cao 643 m ở bờ biển phía Nam. Cả hai núi đều thấp hơn các đỉnh núi vùng ranh giới với hai tỉnh Khánh Hòa và Lâm Đồng. Vùng ranh giới này có ba ngọn núi cao trên 1600m , cao nhất là đỉnh Núi Sương Mù 1652 m. Chỉ có một phần nhỏ tỉnh Ninh Thuận gần tỉnh lỵ Phan Rang là thấp hơn 50 m.Trên phương diện sinh thái ,vùng núi Ninh Thuận cũng như vùng từ Đèo Cả ( Cap Varella, Mũi Diều …) ranh giới Phú Yên – Khánh Hòa xuống đến Mũi Né- Bình Thuận ( theo Thái Công Tụng 2005 ), ngòai cao độ khác nhau còn có nhiều lọai đá acid như đá thạch cương, sa thạch, phiến thạch hoặc đá vôi khác nhau tạo ra nhiều lọai đất đai khác nhau. Vì giãy núi gần biển nên nước mưa chảy tràn rất mạnh nhất là khi triền dốc lớn, tuy nhiên may mắn là tỉnh Ninh Thuận ít mưa nhất nước, khô hạn nên ít lụt lội xảy ra. Vùng gò đồi chân núi ở giữa núi non và đồng bằng duyên hải, cũng có cao độ khác nhau và ở nơi núi thấp hay có thung lũng ngang cải biến thành ruộng lúa. Tiếp theo đất đai vùng núi là vùng thềm phù sa cổ sinh do nước biển rút tạo thành. Dưới lớp đất mặt luôn luôn có những cuội sỏi đang phong hóa, nhiều nơi dạng lượn sóng và có nhiều sỏi latêrit kết thành đá ong. Vùng các giải đồi cát duyên hải tạo ra các bải biển rất nổi tiếng do bồi lắng phù sa và quá trình lấn biển làm ra, rộng hẹp khác nhau, màu sắc cát khác nhau trắng, trắng xám hay đôi khi màu đỏ vì chứa nhiều oxýt sắt, tuổi địa chất xưa cũ hơn các đồi cát trắng. Đồng bằng Phan Rang là một phần đồng bằng Tam Phan – Ba Phan là Phan Rang , Phan Rí và Phan Thiết ( Phan Rí và Phan Thiết, thuộc Bình Thuận ). Diện tích đồng bằng Ninh Thuận nhỏ nhất 220 km2 của ba tỉnh nhập một (cũ) sau 1997; đồng bằng Khánh Hòa rộng 400 km2 , đồng bằng Bình Thuận 310km2.
Các lọai đất, cũng theo Thái Công Tụng( 2005 ), gặp ở Ninh Thuận là đất cồn cát trắng vàng- Luvic arenosol, sát biển hay song song dọc bờ biển , độ giữ nước kém, độ phì nhiêu thấp ; một vài đất cồn cát đỏ – Rhodic Arenosols hay pha đỏ ít gặp hơn là ở Bình Thuận, cồn cố định tương đối phì nhiêu hơn cát vàng và đất cát biển Haplic Arenosols ở địa hình bằng do bồi lặng phù sa và quá trình lấn biển hình thành, trong đất có vỏ sò , vỏ hến tuy nghèo nàn dinh dưỡng, nhưng đã được cải biến thành vườn rau đậu( hành tỏi … ), hoa màu ( khoai lang , đậu phụng- lạc… ) cây ăn trái ( dừa … ) Nhóm đất nâu vùng bán khô hạn đồng bằng Tam Phan, có pH cao, đất ít bị rữa trôi vì khí hậu khô hạn độ bảo hòa baz tương đối cao . Chia ra làm hai đơn vị: đất đỏ vùng khô hạn – Chromic Lixixols tập trung ở thị xã Phan Rang – Tháp Chàm và đất nâu vùng bán khô hạn – Haplic Lixixols, hình thành từ các phù sa cổ hay đá mẹ giàu Thạch Anh . Vài lọai đất đồng bằng Ninh Thuận, mùa nắng nước bốc hơi nhiều, các bọt màu trắng đục trồi lên mặt đất chứa nhiều carbonat sodium, địa phương gọi là “ đất Cà Giang” . Nhóm đất ferralit vàng đỏ – Ferralic Acrisols tại các vùng núi tên những lọai đá acid. Và cuối cùng là nhóm đất núi gồm nhiều lọai đất Ferralit , có thể có mùn ở cao độ – Humic Acrisols …

Rừng và thực vật đặc trưng

Tính đến năm 2007, Ninh Thuận có đến 55.7% tổng diện tích còn rừng bao phủ, là tỉnh còn nhiều rừng nhất các tỉnh miền Nam duyên hải Trung Bộ cũ . Rừng bao phủ phần lớn bờ biển Đông Bắc tỉnh ở quận Ninh Hải và phần lớn đất đai Bắc và Tây Nam tỉnh. Tỉ số rừng này cao hơn tỉ số tổng số diện tích còn rừng thống kê 10 năm trước ( 1997 ) là 169 400 ha ( 50 . 5 % ) ; có lẽ nhờ trồng lại được nhiều rừng hơn chăng, vì năm 1997 thống kê ghi là chỉ trồng 3800 ha rừng ở tỉnh nhà. Hay là nhờ hiệu quả của chương trình Rừng Bảo vệ đa số rừng tỉnh nhà đặc biệt ở Công viên Quốc gia Núi Chúa và và Công viên Quốc Gia Phước Bình. Tuy nhiên rừng Ninh Thuận hiệu năng rất kém trị giá thương mãi chỉ là 1.8% trị giá sản xuất lâm nghiệp các tỉnh Duyên Hải miền Nam Trung Bộ ( cũ ), thua kém ngay cả Thành phố Đã nẳng. Vì khí hậu khô hạn, rừng Ninh Thuận thuộc nhóm rừng vùng bán khô hạn – tropical dry forests, mà vì tương đối không đủ cao độ nên ít thấy các lọai cây lá kim -tùng bách , như thông ba lá , hai lá , du sam ( Kateleria davidiana ) , cây họ kim giao – Podocarpaceae, cây họ Bách – Cupressaceae( pơ mu Fokiena hodginsi ) hay họ Bách Tán ( Araucaria excelsa , samu Cunninghamia lanceolata ). Nhưng lại chứa nhiều lòai cây chịu đựng khô hạn lá nhỏ có gai, chẳng hạn họ Cáp Capparaceae như Capparis ( C ) sp.; cáp chưn rít, cáp thơm C. beneolens hoa trắng trái vàng vùng nhiều đá, cáp vàng C. flavicans lá tăng tiết sửa, hoa ăn như rau, cáp gai đen C. horrida, lá có gai cong dài, mũi nhọn là một dây leo hoa hường, trái đỏ ( không biết đây có phải là dây “ chùm né “ai đạp nhầm bàn chân thối khó chữa loan truyền Phan Rang xưa cũ: “ thứ nhất là rắn dọc- đọt nưa , thứ nhì là gai Chùm né” không ?, cáp cứng C. rigida , một dây leo gai rất nhỏ và rất nhọn ( một gai chùm né thứ hai ?) mọc nhiều ở vùng đá Cà Ná, cáp Thorel C . thorelii var pranensis, một bụi hoa trắng, trái to 1.5 cm màu đỏ, cáp Tích Lan – cáp gai đen C . zeylanica, một dây leo dài, lá có lông , gai cong dài 6mm , hoa hường, trái đỏ rồi chín đen ( một lọai gai chùm né khác chăng ? )… Ngòai một số cây họ dầu Dipterocarpacea , trên núi đá vôi rừng bán khô hạn, cũng gặp rừng lá rộng thường xanh nhiệt đới, những lòai cây ưa vôi phát triễn chậm nhưng gỗ rất cứng. Đặc biệt ở rừng Ninh Thuận, theo G S Phạm Hòang Hộ kiểm kê lại chứa nhiều lòai cây họ thị – họ hồng Ebenaceae, họ cây trái hồng kaki- persimmon . Tông chi Diospyros có 69 lòai kiểm kể ở Việt Nam, 5 lòai cho gỗ quí , đặc biệt là lòai gỗ mun, 11 là lòai cây rừng hoang dã cho trái ăn được. Đáng tiếc là lòai trái hồng Diospyros kaki , tuy yêu cầu lạnh rất ít( chỉ 100 giờ ) và cao hơn ( 110C thay vì 70C ) không trồng được ở Phan Rang Ninh Thuận, không có lạnh như Lâm Đồng kế cận. Đáng kể ra ở Ninh Thuận là thị lọ nồi Diospyros apiculata, đại mộc nhỏ gỗ làm cột, thị Bà Râu Diospyros barauensis trên đất nhiều đá, thị da – thị đen Diospyros crumenata , thị Collins Diospyros collinsae, thị đất- thị Phan Rang Diospyros phanrangensis , một đại mộc hay thấy ở thị trấn Tháp Chàm, thị hồng – thị nha trang Diospyros nhatrangensis, một đại mộc có trái ăn được,gỗ lõi đỏ tốt, thị đen lông vàng nâu trên đài hoa Diospyros rhodocalyx một đại mộc trái ăn được, thị đỏ Diospyros rubra một đại mộc, trái màu đỏ cam . Còn gỗ Mun tốt nhất cũng theo GS P.H. Hộ, lại thuộc loài Diospyros lobata tên Việt là thị trâm – sang đen – cậy, tìm thấy ở Nha Trang, hoa trắng rất thơm, trái nhỏ ăn được, gỗ cho một thứ Mun tốt nhất. Hai lòai khác cho gỗ Mun tốt ghi là thị Bejaud Diospyros bejaudii, một đại mộc vỏ đen lúc khô, trái đen mọc tại vùng Bảo Chánh -Đồng Nai và thị lông phún Diospyros hirsuta , một đại mộc gỗ cho Mun lại tìm thấy ở Châu Đốc . Không thấy kiểm kê ghi cây gỗ Mun Diospyros Mun ở Phan Rang như thời thơ ấu thập niên 1940 , có lúc sống ở Phan Rang, chúng tôi cứ tưởng là tỉnh Ninh Thuận là nguồn gốc cây gỗ Mun, tiếng đồn là đủa hay bát chén gỗ Mun có khả năng sủi bọt tiết lộ chất độc trong đồ ăn !.

Khí hậu , sông ngòi

Khí hậu Ninh Thuận là phối hợp giữa gió mùa nhiệt đới và thời tiết khô hạn nhiều gió thổi. Nhiệt độ trung bình là 270 C ( khỏang 800 F ). Ninh Thuận là tỉnh có số giờ nhật chiếu cao nhất nước và là tỉnh khô hạn nhất nước như đã nói trên. Vũ lượng trung bình hàng năm chỉ chừng 700mm. Vũ lượng tăng lên đến 1100 mm ở các vùng núi non. Chính vì các điều kiện khí hậu khắc nghiệt này cho nên trước khi mới đây phát triễn du lịch và doanh nghiệp, tỉnh Ninh Thuận vào cuối thập niên 1970 và các thập niên1980 – 1990 là một trong bốn tỉnh nghèo nàn nhất nước!.
Sông chánh ở Ninh Thuận là sông Dinh hay sông Phan Rang, còn gọi là sông Cái, có nhiều chi lưu như sông Me Lâm , sông Sắt – Iron River, sông Ong , sông Quao … ; ở thượng nguồn có đập Nha Trinh ,chảy ngang qua các vùng đất thấp của tỉnh và của thị xã Phan Rang. Dòng sông thường khô nước hay rất ít nước. Nay nhờ thiết lập đập Đa Nhim, đổ nước thượng nguồn lưu vực sông Đồng Nai từ hồ Đa Nhim – Đơn Dương( Dran ) về lưu vực sông Phan Rang, tăng thêm nhiều nước tưới tiêu ruộng đất. Ngòai hệ thống sông Phan Rang này, ở phía Bắc tỉnh còn có những sông, suối nhỏ như sông Trâu ( ? ) chảy từ quận Du Long qua gần Hội Diêm rồi vào Đầm Nại, quận Ninh Hải; phía Nam thì có sông Bà Râu (? ) chảy ra Biển Đông gần Cà Ná và Mủi Sừng Trâu, phía dưới Mủi Dinh ( Cap Padaran ).

Suôi dòng lịch sử tỉnh Phan Rang, theo Hưng Vong nước Chàm – Chăm – Chiêm
… Chiêm nương ơi, xin cười đi em hởi,
Cho lòng anh quên một phút buồn lo …

Chế Lan Viên (1920 – 1989)
Nước non ngàn dặm ra đi,
Mối tình chi ?
Mượn màu son phấn đền nợ Ô Ly,
Đắng cay vì
Đương độ xuân thì,
Má hồng da tuyết,
Tuyết sương dầm, thân này bao xiết
Vàng lộn theo chì ! …

( bài ca điệu Nam bình, công chúa Huyền Trân đặt ra ? )

Phan Rang là tiếng Việt dịch thủ phủ Panduranga, nên có lẽ nhân cơ hội xin nói qua về lịch sử nước Champa- Chiêm Bà, nước Chăm- Chàm -Chiêm Thành. Cham theo tiếng Phạn- Sanskrit là một bụi cây và một bông hoa. Hậu duệ của vương quốc Champa, được dân Việt tộc dân Kinh gọi là Chàm hay người Champa. Ở vùng núi ba tỉnh Khánh Hòa , Ninh Thuận và Bình Thuận, tộc dân Chàm hay Chiêm và các tộc dân liên hệ như Raglai , Chu Ru … cũng còn có tên là Hời ( Ha )? . Từ thời Thang ( Thương ) – Chu ( Chu ) , trước Công Nguyên tòan miền Nam Á( ? ) giáp Trung Hoa có mệnh danh là : “Việt Thường Thị”. Nhà Tây Hán , năm 111 trước Công Nguyên cải thành Giao Chỉ Bộ, chia ra làm 9 quận, trong đó có An Nam Đô hộ Phủ sau này . Chiêm Thành – Champa thuộc quận Nhật Nam. Bang giao giữa “ các bộ lạc” Việt Nam và Chiêm Thành không vượt qua giới hạn sông Gianh, ngọn Hòanh Sơn ( Đèo Ngang ). Năm 102 sau Công Nguyên, đời Đông Hán lập ra huyện Tượng Lâm phía Nam quận Nhật Nam , sai quan cai trị vì người Tượng Lâm hay đến cướp phá Nhật Nam. Như vậy đời Hán, nước Chiêm có lẽ chỉ là một bộ lạc phía Nam quận Nhật Nam .

Niên đại lịch sử Chiêm Thành có ý nghĩa

Đời vua Thuận Đế nhà Đông Hán (Tàu), năm 137 sau Công nguyên, ở Tượng Lâm Khu Lân cùng mấy nghìn người nổi lên đánh huyện Tượng Lâm, giết trưởng lại. Thứ sử Giao Chỉ là Phần Diễn phải đem cả vạn binh hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân hợp sức đánh dẹp, nhưng bị vây hơn một năm. Triều đình nhà Hán phải sai Trương Kiều làm thứ sử Giao Chỉ, Chúc Lương làm thái thú Cửu Chân đến vỗ về, dẫn dụ mới yên được. Cuối đời Đông Hán, con công tào huyện Tượng Lâm là Khu Liên ( Theo G S Trần Kinh Hòa, Khu Lân hay Khu Liên không phải là tên người mà là dịch thổ âm từ ngữ Kalinga, nghĩa là chủng tộc lảnh đạo cuốc độc lập ) giết quan huyện lệnh và tự lập làm vua .
Vương quốc Chiêm Bà , sử Tàu gọi là Lâm Ấp, thành lập và đánh phá Việt Nam, còn bị Tàu đô hộ .
Năm 192 sau Công Nguyên ( A.D.) có thể là năm thành lập Vương quốc Champa, Việt Nam gọi là Vương Quốc Chiêm. Từ Chiêm Thành có thể chỉ là kinh đô ( kinh thành ) của nước Chiêm Bà – Champa. Theo lời ghi khắc trên một tấm bia tìm được của người Chàm, vị vua đầu tiên nước Chàm là C$ri Mara , như vậy có thể là Khu Liên ?
Các năm 220- 230: lần đầu tiên, sử biên Tàu ghi tên Champa là nước Lâm Ấp -Lin Yi. Lâm Ấp lấy đất Quảng Nam ngày nay làm trung tâm điểm, dựng đô ở Trà Kiệu. Tổ tiên người Chàm từ các hải đảo Mã Lai, Nam Dương tràn lên bờ biển Trung Bộ ngày nay nhiều thế kỷ trước Công Nguyên. Họ tiếp xúc với thổ dân là người Kiritas cũng thuộc giống Inđô nêxia – Nam Dương. Khi bước vào lịch sử năm 192, từ tổ chức quốc gia đến xã hội, mọi phong tục đều theo Ấn Độ. Tôn giáo là Ấn độ giáo thờ các thần Brahma, Visnu, Civa cùng các Cacti là vợ hai thần sau. Phật giáo cũng được sùng bái. Còn Hồi giáo thì chỉ mới truyền vào từ thế kỷ thứ XI, Xã hội cũng chia làm 4 giai cấp: Gíáo sĩ – Quí tộc, điền chủ, thương gia và hạ lưu – nô lệ ; nhưng phân chia không nghiêm khắc như ở Ấn Độ. Trong gia đình quyền thừa kế theo dòng mẹ, nhưng quyền nối ngôi vua phải theo dòng cha. Lúc này Chiêm Thành chia ra 3: Bắc là Amarâvâti vùng Quảng Nam ngày này có Indrapura – Đồng Dương và thành phố Sinharpura trên sông Thu Bồn ở Trà Kiệu. ; Giữa là Vijaya, vùng Bình Định ngày nay. Sau năm 100 (? ) kinh đô Phật thệ tức Trà Bàn hay Chà Bàn ( gọi sai là Đồ Bàn? chăng ); Nam là Panduranga vùng Phan Rang. Vào thế kỷ VIII, kinh đô Chàm đóng ở đây và mở rộng nhất gồm luôn cả Kauthara là vùng Khánh Hòa ngày nay. Có lúc Kauthara tách rời thành khu vực Chàm thứ tư là Yanpunagara, thị trấn Khánh Hòa ngày nay làm thủ phủ.
Năm 240, quân Chàm tiến đánh cổng An Nam – Gate of Annam và vị trí Huế. Sử Tàu Tam Quốc Chí Lục Dận truyện, ghi chép là năm 248, Lâm Ấp đem quân xâm lăng Giao Chỉ, Cửu Chân, cướp thành ấp. Giao Châu và Lâm Ấp đánh nhau ở Cổ- Châu- Loan, tuy Lâm Ấp mất Khu Túc, nhưng lại chiếm huyện Thọ Linh là tỉnh Thừa Thiên – Huế ngày nay .
Thế kỷ thứ 4 – thứ 5: nhiều cuộc chiến tranh xảy ra. Năm 347, vua Lâm Ấp là Phạm Văn đem quân đánh Nhật Nam, giết chết 5- 6 ngàn người, chiếm cứ Nhật Nam. Năm 348, lại đánh Cửu Chân giết hại 8-9 phần 10 nhân dân Cửu Chân. Đô hộ Tàu đem quân Giao- Quảng ( Giao Chỉ và Quảng Châu ) đi đánh, bị thua ở Lô Dung ( ? ). Năm 399, Phạm Hồ Đạt vua Lâm Ấp, đem quân xâm chiếm đất Tàu bảo hộ là Nhật Nam, bắt Thái Thú và tiến chiếm Cửu Đức ( Hà Tĩnh ). Năm 407, vào cướp Nhật Nam. Năm 413, vào cướp Cửu Chân. Các năm 414- 417, vua Lâm Ấp thứ 3 là Phạm Dương Mại hàng năm đánh chiếm Nhật Nam, Cửu Chân, Cửu Đức, chém giết rất nhiều, làm Giao Châu kiệt quệ. Sau đó, sai sứ triều cống Tàu, xin lảnh đất Giao Châu làm An Nam tướng quân Lâm Ấp Vương. Tống Văn Đế không nghe, phái Thái thú Đàn Hòa Chỉ đánh dẹp, bị thua, lại phải phái tướng Tô Xác đi tập kích, mới phá nổi thành Champapura. Thành quả là quân Tàu chiếm đóng các vùng bờ biển và châu thổ Bắc Việt và đây cũng là thế kỷ đuổi lui quân Chàm.
Từ nước Hòan Vương đến nước Chiêm Thành: chiến tranh giữa Việt Nam độc lập và Chiêm Thành
Thế kỷ thứ 8: giai đọan xâm lăng và cướp bóc của giặc cướp biển, từ Java – Chà và , Inđônexia ngày nay. Năm 749, vua Lâm Ấp là Chư Cát Địa, triều cống nhà Đường, xin đổi tên nước là Hòan Vương Quốc. Người nước Hòan Vương lại sang quấy nhiễu Giao Châu, chiếm lấy Châu Hoan ( Nghệ An ), Châu Ái ( Thanh Hóa ). Năm 808, vua Đường sai Đô hộ Trương Châu ( Chu ) đem binh thuyền vào đánh quân Hòan Vương, giết hại rất nhiều, vua nước này phải rút lui về Nam vào Quảng Nam – Quảng Ngãi bây giờ và đổi quốc hiệu là “ Chiêm Thành” từ đó. Chiêm Thành thực tế gồm nhiều thị tộc khác nhau , nhưng chia ra hai thị tộc chánh. Thị tộc mạnh nhất ở phía Bắc là Cây Dừa – Narikelavamca, vùng Indrapura – Đồng Dương , Quảng Nam, thủ phủ là Trà Kiệu. Thị tộc mạnh nhất ở miền Nam là Cây Cau – Kramukavamca, thủ phủ là Phan Rang – Panduranga và Nha Trang – Kauthara.
Thế kỷ thứ 10: Sau khi đẩy lui quân Tống ( Tàu ) xâm lăng năm 891, Lê Hòan ( Vua Lê Đại Hành ) nhà Tiền Lê, năm 982, tự mình cầm quân đánh Chiêm Thành, vì Chiêm muốn liên minh với nhà Tống cố tình gây hấn bắt sứ giả Việt. Vua Lê Đại Hành là vị vua Việt Nam đầu tiên chinh phạt Chiêm Thành, hạ kinh đô Indrapura- Đồng Dương, giết vua Chiêm, lấy nhiều tiền bác bảo vật đem về . Sau biến cố này, một người Việt là Lưu Kỳ Tông cướp quyền vua Chiêm mới, trị vì Chiêm Thành từ năm 983 đến năm 989 thì mất. Vua kế tiếp Vijaya Sri Harivarman II , trị vì các năm 989 -998 , dời đô xuống Trà Bàn ( Vijaya ) thuộc tỉnh Bình Định ngày nay.
Thế kỷ thứ 11: Năm 1043, vua Chiêm là Sạ Đẩu – Jaya Simhavarman II trị vì 1040 – 1044, đem hải quân tấn cống miền Nam Việt Nam, nhưng bị đẩy lui. Đầu năm 1044, vua Lý Thái Tông thân chinh đánh Chiêm Thành qua cửa Đại An ( Nam Định) , đánh tan tành quân Chiêm dàn trận ở sông Ngũ Bồ ( sông Bồ, huyện Quảng điền – Thừa Thiên ngày nay) chận quân Việt. Vua Sạ Đẩu tử trận, rồi quân Việt tiến hạ dễ dàng kinh thành Trà Bàn, bắt 5000 người Chiêm đưa về nước Việt trong đó có vợ vua Sạ Đẩu là vương phi Mỵ Ê cùng các cung nữ giỏi ca múa. Trên đường về Thăng Long, Mỵ Ê không chịu sang hầu thuyền vua Lý, gieo mình xuống sông tử tiết, vua khen Mỵ Ê trinh tiết, phong làm “ Hiệp Chính Hựu Thiện Phu Nhân”. Chiếm đất Chiêm là từ vua Lý Thánh Tông, năm 1069, thân chinh đánh Chiêm Thành, bắt được vua Chiêm là Chế Củ -Rudravarman III, thâu nhận 3 châu Địa Lý( Trung và Nam Quảng Bình, Ma Linh( Bắc Quảng Trị) và Bố Chính ( Bắc Quảng Bình ), Chế Củ dâng chuộc tội .
Chiến tranh hơn 100 năm giữa Chân Lạp và Chiêm Thành
Năm 1120 , vua Chân Lạp mới là Suryavarma II ( trị vì 1113- 1150 ) tấn công Champa, khiến nhiều đòan người Chiêm Thành và Chân Lạp chạy sang nhà Lý, đời vua Lý Nhân Tông xin lánh nạn. Nhưng năm 1128, năm đầu vua Lý Thần Tông, Suryavarman II sai 20 000 quân vào cướp phá bến Ba Đầu, châu Nghệ An. Thái phó Lý Công Bình đánh bại quân Chân Lạp. Mấy tháng sau Chân Lạp lại đem hơn 700 chiến thuyền vào cướp phá huyện Đổ Gia ( huyện Hương Sơn , tỉnh Hà Tĩnh ngày nay ), bị Tri Phủ Thanh Hóa là Nguyễn Hà Viêm và tri châu Nghệ An là Dương Ổ đánh bại.
Năm 1132, Chân Lạp và Chăm hợp nhau chống Việt Nam, đem quân quấy nhiễu Nghệ An, bị tướng nhà Lý là Dương Anh Nhỉ đánh thua, phải lui. Nhưng năm 1135, vua Chiêm Chế Mana –Jaya IndravarmanII , không muốn tiếp tục liên minh nguy hiểm cho Chiêm Thành này nữa, sai sứ sang cống vua Lý. Năm 1137, quân Chân Lạp một mình đánh châu Nghệ An – Chiêm Thành, lần này cũng bị Lý công Bình đánh bại.
Năm 1145, Chân Lạp dồn hết ý chí đánh Chiêm Thành, chiếm khinh đô Vijaya, làm chủ tòan quốc Chiêm Thành. Jaya Indravarman III mất tích. Ngôi vua truyền cho Rudravarman IV , nhưng vua này phải trốn Chân Lạp , chạy trốn vào Panduranga. Vua chết, dân Paduranga mời con vua lên ngôi năm 1147, lấy hiệu là Chế Bì La Bút – Jaya harivarman I . Thắng được người Chiêm, vua Chân Lạp Suryavarman đặt em vợ mình là Harideva lên ngôi vua Chiêm, buộc dân Chiêm miền Bắc phải thừa nhận. Chế Bì La Bút đem quân từ Pandarunga ra đánh thành Chà Bàn- Vijaya, đánh tan Harideva và đuổi quân Chân Lạp ra khỏi bờ cõi, lên ngôi vua ở Chà Bàn, năm 1149.
Năm1150, nước Chiêm khởi sự quyền lảnh đạo cao nguyên Darlac ( Đắc Lắc, Dak Lak ). Năm 1151, Chế Bì La Bút đem quân, đánh bại hết mọi đạo quân người Kiritas ( Cao Nguyên ) đang tràn xuống chiếm vùng đồng bằng và cả quân lọan nội bộ là quân của Ung minh Ta Diệp – Vancarâja, anh vợ của Jaya Harivarman các tộc dân Kiritas tôn lên làm vua . Thừa thắng, Chế Bì La Bút đuổi theo các đạo quân Thượng, chiếm miền Bắc Darlac ngày nay và miền cao nguyên từ Bình Thuận ra Phú Yên, khuất phục các bộ lạc Gia rai, Rongao, Roglai Blao v.v… , làm chủ cai trị các vùng này một thời gian lâu dài, nên di tích Chàm còn rải rác từ các vùng này đến gần Pleiku, Kontum.
Năm 1170, sau khi giao hảo với Đại Việt rồi, Jaya Indravarman IV quay sang đánh Chân Lạp đem quân đi đường bộ, nhưng cuộc chiến bất phân thắng bại. Năm 1177, vua Chiêm đổi chiến lược, cho thủy quân lên sông Khung ( Mêkong ? ) đến Biển Hồ, đánh úp kinh thành Angkor , giết vua Chân Lạp, cướp bóc rất nhiều và chiếm cứ vuơng quốc Chân Lạp. Nhưng năm 1181, một vì hòang thân Chân Lạp nổi lên đánh đuổi quân Chiêm chiếm đóng, lấy lại Angkor, lên ngôi vua hiệu là Jaya varman VII. Năm 1190, Chiêm trở lại khiêu khích Chân Lạp. Vua Chân Lạp Jaya varman VII, tấn công Chiêm Thành, lấy kinh đô Vijaya, bắt vua Chiêm là Jaya Indravarman IV đưa về Chân Lạp , đặt em rễ mình là In lên ngôi vua Chiêm, lấy hiệu là Suryavarmandeva. Đồng thời cũng lập một vương quốc ở miền Nam tại Panduranga, đưa một tướng Chàm nuôi dưỡng từ bé ở triều đình Angkor là Vidyânandana lên làm vua, cũng lấy hiệu là Suyravarmandeva. Nhưng chẳng bao lâu nội lọan ở Chà Bàn nổi lên đuổi In về nước , đặt một hòang thân thân Chiêm là Rashupati lên ngôi, hiệu là Indravarman V. Năm 1192, vua cai trị Panduranga là Vidyânbana – Bố Trì, tiến chiếm Vijaya , giết Rashupati, giải thóat sự thống trị của Chân Lạp , thống nhất đất nước. Vua Chân Lạp giận sự phản trắc của Bố Trì, sai quân sang đánh, nhưng bị thua. Để cũng cố địa vị mình, năm 1198 , Bố Trì sai sứ sang cống Đại Việt và năm 1190 vua Lý Cao Tông sai sứ phong vương cho Bố Trì. Năm 2003, người chú của Bố Trì là Bố Điền ( có khi chép là Bố Do ) nhờ vua Chân Lạp giúp sức, đuổi Bố Trì dành ngôi vua. Từ năm 2003, Chiêm thành đã trở thành một lảnh thổ Chân Lạp. Năm 1216, đời vua Lý Huệ Tông, Chiêm Thành và Chân Lạp đến đánh cướp Châu Nghệ An, nhưng bị châu bá là Lý Bất Nhiễm đánh tan. Năm 1218 , quân hai nước này lại ra đánh cướp châu Nghệ An, và một lần nữa bị Lý Bất Nhiễm đánh bại. Năm 1226, một hòang thân Chiêm tên là Ôn vốn là cháu của Jaya Harivarman I và đã được nuôi dưỡng tại triều đình Chân Lạp và nhiều lần đem quân đánh phá Đại Việt, về nước lên ngôi vua, lấy hiệu là Paranecvara – varman II. Người Chân Lạp tự ý rút lui khỏi Chiêm Thành và trao ngôi vua lại cho người Chiêm vậy . Chấm dứt một cuộc chiến tranh kéo dài 100 năm giữa Chiêm Thành và Chân Lạp . Chân Lạp từ đây phải bận đối phó với một kẻ thù mới là Tiêm La. Còn triều vua Jaya Paramecvarman II thì lo tu bổ lại các đền thờ, xây dựng các đền thờ khác, mở mang canh tác ruộng đất bỏ hoang vì chiến tranh , sửa chửa hệ thống dẫn thủy nhập điền …
1282, quân Nguyên- Mông Cổ xâm chiếm Chiêm Thành
Hốt Tất Liệt diệt nhà Tống rồi, năm 1280 truyền lệnh cho các nước chư hầu ngọai phiên Tàu, phải sang chầu. Cả Đại Việt đời vua Trần Thánh Tông lẫn Chiêm Thành đời vua Indravarman V, đều từ chối sang chầu . Hai sứ Nguyên Hà tử Chí và Hòang Phủ Kiệt, đi sang Tiêm La và Malabar ngang qua Chiêm Thành đều bị bắt giữ . Vua Nguyên nghe tin sai Hửu Thừa là Toa Đô đem quân sang đánh Chiêm. Năm 1282 Toa Đô mượn đường Đại Việt cho quân đi , nhưng vua Trần không thuận , Toa Đô phải đem 1000 chiến thuyền từ Quảng Châu đến cảng Chiêm Thành, cho quân lên đồn trú trên bờ . Quân Chiêm chống cự kịch liệt nhưng thua . Vua Indravarman V đốt kho lúa , bỏ kinh thành , rút lên núi , tập hợp lại quân lính đánh quân Nguyên. Toa Đô tiến quân đến Đại Châu ( ? ) bị bị phục binh Chiêm đánh thua. Hai bên cầm cự. Vua Nguyên gửi thêm 15000 quân sang cho Toa Đô, Nhưng vua Trần không chịu cho đi qua nước Đại Việt , nên quân tiếp viện không đến được. Vua Nguyên lại sai Ô Mã Nhi đem 20 000 quân Giang – Hòai sang tăng viện cho Toa Đô, nhưng đến nơi thì Toa Đô đã bỏ Chiêm Thành ra đi rồi. Nhắc lại là năm 1284, Vua Nguyên sai Trấn Nam Vương Thóat Hoan sang đánh Đại Việt và năm sau 1285, Toa Đô được chỉ đem quân ra Nghệ An hội với quân Nguyên đánh Đại Việt, nhà Trần. Indravarman V không muốn vua Nguyên tức giận, liền sau đó sai sứ sang cống vua Nguyên Thái Tổ. Quân Nguyên ra khỏi nước, Indravarman V truyền ngôi cho thế tử Harijit là Chế Mân .
Năm1306, vua Chế Mân Simhavarman III, trị vì 1287- 1307, xin cưới công chúa Huyền Trân, con gái vua Trần Nhân Tông với sinh lễ là hai châu Ô và Ri ( hay Lý, tên Chăm là Ulik ), đưa biên giới Chiêm -Việt xuống tới Bắc Quảng Nam ngày nay. Thân tình Chiêm Việt sớm đọan tuyệt sau khi Chế Mân chết, Trần Huyền Trân bị cướp trở về đất Việt. Thân gia đổi thành oan gia, vì vua kế vị Chế Chí, con của Chế Mân lên ngôi hiệu là SimhaharmanIV, bị vua Trần Anh Tông lừa bắt đem về nước Việt, vì Chế Chí tuy thần phục nhà Trần nhưng hối tiếc việc nhượng đất của vua cha , nên Đại Việt cho là “ phản trắc”. Chế Chí chết ở Gia Lâm, gần Thăng Long năm 1323, gây mãi óan thù Chiêm -Việt.
Các năm 1312 – 1326, Chiêm Thành trở thành một tiểu quốc chư hầu của Đại Việt. Năm 1313, Đỗ Thiên Nghiễn được bổ làm kinh lược sứ ,cả đất Nghệ An lẫn đất Lâm Bình. Cai trị nội bộ giao cho người bản xứ lo liệu lấy, chỉ cho mấy đạo binh đến đóng đồn phòng ngự bảo hộ, mỗi năm thu thuế và thúc dân bản xứ phải triều cống vua Đại Việt.
Các năm 1350- 1400, Chiêm- Việt chiến tranh liên miên. Năm 1367, vua Trần Dụ Tông sai Thế Hưng và Tử Bình đi đánh Chiêm Thành. Quân Chiêm phục kích bắt được Thế Hùng,Tử Bình bỏ chạy. Năm sau, vua Chiêm anh dũng là Chế Bồng Nga- Po Bin Swor, trị vì 1360 – 1390 ) cho sứ sang đòi đất Hóa Châu. Năm 1376, quân Chiêm đánh Hóa Châu. Vua Duệ Tông thân chinh đi đánh, đóng quân ở cửa Nhật Lệ ( Quảng Bìn h, sông Nhật Lệ tên Chăm là sông Jriy )và năm 1377 kéo quân vào đánh thành Chà Bàn, trên sông Côn ở Bình Định. Gần đến thành, quân Chiêm đổ ra vây, quân Việt thua to, Duệ Tông chết trong trận; tướng sĩ cũng chết rất nhiều. Đồ Tử Bình lĩnh hậu quân không đến cứu, Lê ( Hồ ) Quí Ly bỏ chạy về. Thừa thắng Chế Bồng Nga liền đem quân dánh vào Thăng Long , cướp phá không ai giữ nổi. Năm 1378. Chiêm Thành lại sang đánh Nghệ An, vào sông Đại Hòang lên đánh kinh đô Thăng Long. Năm 1 380, Chiêm Thành sang đánh Nghệ An- Thanh Hóa, bị quân Quí Ly đánh đuổi được. Năm 1382, quân Chiêm lại sang cướp Thanh Hóa, bị Quí Ly và Đa Phương đuổi đến Nghệ An. Năm 1834, Chế Bồng Nga với tướng La Khải đem quân di đường núi vào đóng tận Quảng Oai. Thượng Hòang Trần Nghệ Tông nghe tin, cùng vua bỏ kinh đô chạy sang Đông ngạn. Nhưng rồi năm 1390, Chế Bồng Nga bị tướng nhà Trần Khát Chân phục kích, giết ở địa hạt Hưng Yên. Từ đây về sau Chiêm Thành mới bớt nhuệ khí, trong nước lục đục, hai con Chế Bồng Nga sang hàng Việt Nam đều được phong hầu .
Năm 1402, để trả đủa Chế Bồng Nga trước đây nhiều lần tấn công nước Việt, vua Hồ Hán Thương ( trị vì 1401 – 1407 ) sai tướng Đỗ Mãn đem quân đánh Chiêm Thành. Vua Chiêm La Bích Đại – Indravarman XII thất thế xin tặng Chiêm Động ( Nam Quảng Nam ) và Cổ Lũy Động ( Quảng Nghĩa ). Nhà Hồ đổi thành bốn châu Thăng (nay là quận Thăng Bình ) Hoa ( Mộ Hoa sau cải tên là Mộ Đức ), Tư, Nghĩa , ( Tư Nghĩa thành quận Tư Nghĩa ), đặt người cai trị , đem dân không có ruộng đất khắp nước đến đó định cư, khai khẩn. Phía Nam tỉnh Quảng Ngãi là núi Bình Đê, ngăn cách với tỉnh Bình Định. Phỏng định biên cương Chiêm Việt thời nhà Hồ là núi Bình Đê.
Năm 1471, Vua Lê Thánh Tông nam chinh, chiếm cửa Thị Nại, hạ thành Chà Bàn, bắt vua Chiêm Bàn La Trà Toàn ( trị vì 1460- 1471 ) đưa về Thăng Long. Chiếm vùng đất mới đổi thành phủ Hòai Nhơn, sáp nhập vào 4 châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa, lập ra thừa tuyên đạo Quảng Nam. Đất Chiêm Thành còn lại chia ra làm 3 nước nhỏ là Hòa Anh ( Phú Yên – Khánh Hòa ), Chiêm Thành ( Phan Rang và Nam Phan ( Gia lai – Pleiku , Kontum, Dar Lac) . Thật ra, Chiêm Thành vốn là một nước gồm nhiều thị tộc khác nhau như đã kể trên, sự phân chia hành chánh, cai trị của vua Lê Thánh Tông hầu như trở lại truyền thống cũ giữa các thị tộc Chiêm Thành. Người Việt nay đã đặt chân tới vùng Bình Định ngày nay và biên giới lúc đó là núiCù Mông, nằm giữa tỉnh Bình Định và Phú Yên. Dừng lạiở đây khá lâu, mãi cho đến khi Chúa Tiên Nguyễn Hòang mở lại cuộc nam tiến năm 1611.
Các năm 1579-1535 , các quận vương Chiêm Thành dùng Phan Rang Panduranga làm thủ phủ . Nhưng năm 1611, Chúa Tiên sai Chủ sự là Văn Phong đem quân vào đánh Chiêm Thành, lấy đất phía Nam Đèo Cù Mông đến núi Thạch Bi đặt làm phủ Phú Yên gồm hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa. Năm 1629, Văn Phong dùng quân Chiêm làm phản , chuá Tiên sai cháu rễ là Nguyễn Phước Vĩnh , con trưởng Mạc Cảnh Huống lấy công nữ Ngọc Liên con gái đầu chúa Sải Nguyễn Phước Nguyên, đi dánh dẹp yên, và đổi phủ Phú Yên thành dinh Trấn Biên ( dinh địa đầu nước nhà ). Năm 1653 , nhân vua Chiêm là Bà Tấm xâm lấn Phú Yên, chúa Hiền Nguyễn Phước Tần sai Hùng Lộc làm thống binh, đem 3 quân đi đánh, vượt đèo Hổ Dương , núi Thạch Bi, đuổi quân Chiêm bỏ chạy chiếm đất đến sông Phan Rang. Chúa Tần lấy sông Phan Rang làm biên giới mới , từ phía Tây sông trở vào vẫn để cho Chiêm Thành cai quản, nhưng Chiêm Thành phải giữ lệ cống. Từ phía Đông dòng sông Phan Rang đến Phú Yên, xứ Đàng Trong lấy , đặt làm Phủ Thái Khương , sau đổi làm Bình Khương là tỉnh Khánh Hòa ngày nay, chia ra làm 2 phủ là Bình Khương ( Ninh Hòa ngày nay) và Diên Ninh ( Diên Khánh ngày nay).
Đời Chúa Minh Nguyễn Phúc Chu vua Chiêm là Bà Tranh đem quân đắp lũy, cướp giết nhân dân phủ Diên Ninh, Chúa sai Cai Cơ Nguyễn hửu Kính, con của Nguyễn Hửu Dật làm thống binh đem quân đi đánh. Năm 1692 , quân Việt đánh bại Quân Chiêm, bắt được Bà Tranh cùng một viên quan là Kế Bà Tử ; Chúa Nguyễn sáp nhập nước Chiêm vào bản đồ xứ Đàng Trong, đặt làm một trấn tên là Thuận Thành. Năm 1693( ? ), đổi trấn Thuận Thành làm phủ Bình Thuận. Giam Bà Tranh ở Núi Ngọc Trản ( điện Hòn Chén ). Năm 1684 Bà Tranh mất. Khi Bà Tranh bị bắt một viên quan Chiêm là Ốc Trảo Nha liên kết với một người Tàu tên là A Ban, sau đổi tên thành Ngô Lãng chạy về đất Đại Đồng ( ? ) mưu nổi lọan Một người Chiêm tên Chế Vinh đốc xuất nhiều dân Chiêm theo Ngô Lãng. Cuối năm 1692, Ngô Lãng cướp Phố Hài ( ? ) giết Cai đội Nguyễn Trí Thắng, Cai đội dinh Bà Rịa đêm quân cứu viện cũng bị phục kích giết . Ngô Lảng bèn mưu đánh Phan Rí, giết Cai Cơ Nguyễn Tấn Lễ, chiếm dinh trại, rồi kéo binh đánh Phan Rang. Cai đội Phan Rang Chu Kiềm Thắng ,ít quân, đóng cửa thành tự thủ. Tháng giêng năm 1694, Ngô Lãng vây Phan Rang.Trấn thủ Nguyễn Hửu Oai đem quân đi đường thượng đạo đến cứu giải vây Phan Rang. Ngô Lãng chạy về Phố Châm, rồi về Thượng dã là biên giới Chân Lạp – Cao miên. Cai cơ Nguyễn Thắng Hổ đem quân tiến đánh, mới dẹp yên bọn Ngô Lãng . Trong các biến cố này một số người Chiêm chạy sang Chân Lạp – Cao miên, một số khác chạy lên miền Cao Nguyên ( Tây ngày nay ) . Tháng 11 năm 1694, thấy đổi ngay nước Chiêm Thành đặt dưới quyền cai trị của người Việt chưa tiện, Chúa Minh đổi phủ Bình Thuận lại thành trấn Thuận Thành và phong Kế Bá Tử làm Phiên Vương Thuận Thành để cai trị người Chiêm, nhưng hàng năm phải nạp cống. Năm 1697, Chúa Minh lại lấy đất từ Phan Rang, Phan Rí trở về tây, đặt ra phủ Bình Thuận, chia ra hai huyện là An Phước và Hòa Đa. Người Chiêm vẫn cố gắng thỉnh thỏang nổi lên chống đối. Như vậy trong thực tế năm 1693, chúa Nguyễn đã chiếm hết đất Chiêm Thành, chỉ để lại cho Chiêm Thành một khỏanh đất Thuận Thành và một tước Phiên Vương cũng do quan xứ Đàng Trong kiểm soát, cốt để an ủi tộc dân Chiêm mà thôi.
Năm 1698, chúa Minh sai Thống Suất Nguyễn Hửu Kính vào kinh lược phần đất Chân Lạp mới chiếm được, chia đất Đông Phố lấy xứ Đồng Nai đặt huyện Phước Long , lập dinh Trấn Biên ( Biên Hòa ngày nay) ; lấy xứ Sài Côn- Preykor đặt huyện Tân Bình , lập dinh Phiên Trấn ( Gia Định ngày nay ). Dinh Trấn Biên nay là Biên Hòa rồi không còn là Phú Yên nữa và Phiên Trấn là Gia Định thay vì là Thuận Thành . Tên Thuận Thành cũng bị bỏ và Chiêm Thành bị xóa hẳn trên bản đồ . Tuy nhiên, năm 1746, đời chúa Vỏ Nguyễn Phước Khóat, ở Thuận Thành hai người Chiêm là Dương Bao Lai và Diệp Mã Lăng nổi loạn. Bị LưuThú dinh Trấn Biên là Nguyễn Cương đánh úp, bắt được cả hai đem giết đi. Năm 1762, quân Tây Sơn vào đánh, Cai cơ Tá ( họ ? ) quản hạt trấn Thuận Thành sau khi Kế Bá tử chết, đầu hàng Tây Sơn, đem bửu khí truyền quốc của Chiêm Thành nạp cho Tây Sơn.

Phần II : Lạm bàn Phát triễn tỉnh Ninh Thuận

1- Du lịch tham khảo văn hóa Chàm và các Tháp Chàm

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s