Ngô Viết Trọng – Chế Bồng Nga: Anh Hùng Chiêm Quốc CHƯƠNG 1

CHƯƠNG 1
Sau khi quân Mông Cổ bị thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lược hai nước Đại Việt và Chiêm Thành, hai dân tộc này đã trải qua một thời gian sống hòa bình, thân thiện bên nhau ngót hai mươi năm. Vua Đại Việt Trần Nhân Tôn cũng như vua Chiêm Chế Mân đều rất cảm kích lòng dũng cảm, ý chí bất khuất của nhau trước lũ giặc lớn Mông Cổ. Khi vua Nhân Tôn đã xuất gia, trong một lần vân du sang Chiêm Thành, ngài đã hứa gả người con gái út của ngài là Huyền Trân công chúa cho vua Chế Mân. Thế nhưng khi vua Chế Mân xin thực hiện lời hứa đó, triều đình Đại Việt lúc bấy giờ đã do vua Anh Tôn lãnh đạo lại dùng dằng không muốn chịu. Bất đắc dĩ vua Chế Mân phải dâng hai châu Ô và Rí cho Đại Việt để làm sính lễ. Việc này đã làm cả triều đình lẫn dân chúng nước Chiêm bất mãn.
Năm Bính Ngọ*, Huyền Trân công chúa được vua Chế Mân phong làm hoàng hậu. Nhưng cuộc tình duyên này không được lâu dài. Vua Chế Mân sống với Huyền Trân công chúa chưa được một năm thì mất. Hoàng tộc Chiêm Thành tôn hoàng tử trưởng Chế Chí lên kế vị vua cha.
Vua Anh Tôn thương em, sợ Huyền Trân sẽ bị hỏa thiêu với chồng theo tục lệ Chiêm Thành – vua mất thì các hậu, phi của vua cũng phải hỏa thiêu theo vua(?) nên sai Đại hành khiển Trần Khắc Chung lập mưu cướp bà đem về Đại Việt.
Vụ cướp lại công chúa đã làm người Chiêm càng thêm bất bình. Vua Chế Chí quá tức giận, đã tìm cách chiếm lại hai châu đất cũ. Thế là tình hình giao thiệp giữa hai nước bấy giờ càng ngày càng trở nên căng thẳng. Năm Nhâm Tý*, vua Anh Tôn thân hành đem quân đánh Chiêm Thành. Vua Chế Chí thấy quân Trần quá mạnh, có ý muốn đầu hàng. Ngặt nỗi quân dân Chiêm vì quá phẫn uất, thúc ép ông phải kháng cự. Kết quả vua Chế Chí đã bị bắt sống. Vua Anh Tôn bèn hội các quan ở Đồ Bàn để bàn định việc cai trị nước Chiêm. Vua hỏi:
-Nay vua Chiêm đã bị bắt, quân Chiêm đã tan rã, ta có nên nhân dịp này đặt quan lại để cai trị nước Chiêm không?
Thiên tử chiêu dụ sứ Đoàn Nhữ Hài thưa:
-Đánh bại quân đội một nước có thể dễ nhưng cai trị một nước thì rất khó! Muốn cai trị nước Chiêm không phải bệ hạ chỉ để lại một số quan lại là đủ! Tuy rằng có thể tuyển mộ những binh lính tại địa phương nhưng làm sao tin tưởng chúng được? Còn nếu để lại nhiều binh lính của ta thì rất bất tiện: nào giải quyết vấn đề lương thực, vấn đề tình cảm gia đình, làm sao cho lớp binh lính xa nhà ấy được yên tâm để phục vụ? Chưa hết, nếu lỡ quân Bắc lại sang xâm lấn, lực lượng ta đã bị xé mỏng, bấy giờ tính sao? Theo thiển ý của thần, bệ hạ nên lựa chọn một người nào đó trong hoàng tộc nước Chiêm, phong cho y làm chúa rồi bắt y triều cống hàng năm thì vẫn lợi hơn là cai trị nước Chiêm để rồi gánh thêm bao nhiêu mối lo âu, xin bệ hạ xét định!
Các quan đều tán thành ý kiến ấy. Vua Anh Tôn nghe lời, phong cho người em Chế Chí là Chế Đà A Bà Niêm làm Á hầu để cai quản nước Chiêm, lấy hiệu là Chế Năng. Ổn định tình hình nước Chiêm xong, vua Anh Tôn cho rút quân về nước.
*
Nhưng Chiêm Thành thần phục Đại Việt chưa bao lâu lại trở chứng. Do tinh thần phẫn nộ của dân Chiêm về mối hận Ô Rí thúc đẩy, Chế Năng lại bước theo con đường Chế Chí đã đi. Năm Mậu Ngọ* Chế Năng kéo quân xâm phạm hai châu Ô và Rí. Lúc bấy giờ ở Đại Việt vua Trần Minh Tôn đã lên thay vua Anh Tôn, ông cử Huệ Vũ vương Trần Quốc Chẩn đem quân chinh phạt Chiêm Thành. Trước khi xuất quân, vua Minh Tôn nói với Huệ Vũ:
-Với uy vũ của thúc phụ, chuyến đi này nhất định phải thành công. Tuy thế, trẫm chưa biết phải xử trí thế nào khi đã chiến thắng. Thúc phụ có cao kiến gì không?
Huệ Vũ đáp:
-Trước đây Thượng hoàng đã chinh phạt Chiêm Thành, bắt được vua Chiêm. Thượng hoàng có hỏi ý các quan có nên chiếm đất Chiêm không, các quan đều bàn chưa nên. Lý do là sợ phải xé mỏng lực lượng của ta trong khi mối đe dọa của phương Bắc vẫn còn đó. Thượng hoàng bèn lựa một người trong hoàng tộc Chiêm phong làm chúa để y cai quản lấy nước Chiêm, buộc hàng năm triều cống Đại Việt. Lần phạt Chiêm này cũng chẳng xa cách lần trước mấy, tình hình cũng chẳng khác nhau, tôi nghĩ ta cũng nên bắt chước kế hoạch của Thượng hoàng là hơn!
Vua Minh Tôn nói:
-Nếu thúc phụ cũng có ý ấy, xin thúc phụ cứ tùy tiện!
Huệ Vũ bèn cử Hiếu Túc hầu Lý Tất Kiến đi tiên phong. Trong trận đụng độ đầu tiên, quân Chiêm đã kháng cự rất mãnh liệt. Quân Đại Việt thua lớn, Hiếu Túc hầu Lý Tất Kiến bị tử trận. May có Điện súy Phạm Ngũ Lão tiếp ứng kịp thời quân Đại Việt mới chuyển bại thành thắng. Quân Chiêm lại tan tác chạy. Huệ Vũ thừa thế tiến thẳng vào tới Đồ Bàn. Chế Năng hoảng sợ phải dẫn cả hoàng gia chạy sang nương náu ở Java là quê mẹ của ông ta. Triều đình Chiêm Thành như rắn mất đầu, các quan lại, các lãnh chúa người đầu hàng, kẻ chạy trốn hết.
Chiếm xong Đồ Bàn, Huệ Vũ bèn cho yết bảng phủ dụ chiêu an dân Chiêm. Ông kêu gọi ai làm công việc gì nay trở về với công việc nấy. Ông cũng ra lệnh cấm tuyệt quan quân Đại Việt quấy nhiễu dân Chiêm. Ai phạm tội nặng như giết người, hiếp dâm đều bị xử chém. Tội vừa như cướp bóc, trộm cắp thì phải chịu đánh đòn, trường hợp nghiêm trọng có thể bị tước quân tịch và bắt làm nô lệ. Nhờ lệnh đó, dân Chiêm có phần yên lòng, dần trở lại làm ăn như cũ.
Một hôm Huệ Vũ cho đòi tất cả các quan chức lớn nhỏ cũ của nước Chiêm đã đầu hàng tập trung tại nhà hội Vĩnh Xương trong thành Đồ Bàn rồi tuyên bố:
-Trước đây Trần đế đã đánh bại Chế Chí, đáng lẽ ngài đã sát nhập nước Chiêm vào lãnh thổ Đại Việt! Thế nhưng vì lòng nhân ái, ngài đã phong Chế Năng làm Á hầu để cùng các ngươi cai quản nước Chiêm! Không hiểu sao Chế Năng và các ngươi lại ôm lòng phản trắc, gây hấn tạo tình trạng bất an cho dân cả hai nước. Trần triều bất đắc dĩ lại phải ra tay trừng phạt. Nay nước Chiêm thêm một lần nữa coi như đã mất! Với quyền lực trong tay, ta sẽ đặt các quan Đại Việt cai trị dân Chiêm! Còn các ngươi, ta có thể giam vào ngục thất hoặc đày ải làm nô lệ suốt đời cho biết thân, các ngươi nghĩ thế nào?
Nghe Huệ Vũ hỏi thế, các quan chức Chiêm Thành đều lộ rõ nét mặt buồn bã lo âu nhưng chẳng ai dám hé môi. Huệ Vũ nhìn khắp bọn họ một lượt rồi nói tiếp:
-Ta nói như thế có phải không? Tại sao triều đình Đại Việt đã dung dưỡng các ngươi, trả quyền chức cho các ngươi, cho các ngươi tự cai trị lấy nhau, thế mà các ngươi lại a tòng với kẻ phản bội chống lại Trần triều như các ngươi đã hành động vừa rồi? Tại sao các ngươi không biết khuyên Chế Năng bỏ cái thói ăn cháo đá bát ấy? Một người khuyên y có thể không nghe nhưng nhiều người khuyên lẽ nào y lại chẳng nghe? Cũng bởi các ngươi không tốt nên y mới dễ dàng thuyết phục cùng nhau làm cái việc vong ân bội nghĩa ấy! Kinh nghiệm xương máu đã rành rành trước mắt, Đại Việt ta đâu còn dám để các ngươi tự trị? Chính các ngươi đã tự đưa dân tộc các ngươi đến chỗ diệt vong! Các ngươi còn có lời gì để nói nữa không?
Không khí im lặng ngột ngạt bao trùm cả sân hội. Đám cựu quan chức Chiêm Thành hầu hết gục mặt âu sầu tuyệt vọng. Bỗng một cụ già khoảng ngoài bảy mươi lấy can đảm đứng dậy tiến lên quì lạy Huệ Vũ rồi nói với giọng tha thiết:
-Bẩm Đại vương, chúng tôi đã lỡ dại phạm tội với thiên triều! Cúi xin thượng quốc mở lượng hải hà bỏ qua lỗi lầm cho lũ mán mọi lạc hậu này! Nếu Đại vương cho nước Chiêm chúng tôi được tự trị một lần nữa, dân Chiêm chúng tôi xin thề chẳng bao giờ còn dám phản bội! Nếu chúng tôi còn phạm lời thề xin trời tru đất diệt!
Nghe vị cựu quan già làm thế, nhiều người khác cũng bắt chước nhau cúi lạy Huệ Vũ:
-Cúi xin Đại vương mở lượng hải hà tha thứ cho dân Chiêm chúng tôi một lần nữa! Chúng tôi sẽ tuân phục thờ kính thiên triều như thờ cha mẹ, chẳng bao giờ còn dám ăn ở hai lòng!
Huệ Vũ đợi đám cựu quan chức Chiêm Thành van lạy một hồi rồi mới hỏi:
-Có chắc các ngươi thề không bao giờ còn phản bội thiên triều nữa không?
Một thoáng hi vọng lóe lên, đám cựu quan chức Chiêm Thành đồng loạt hô lớn:
-Chúng tôi xin thề! Chúng tôi xin thề! Kẻ nào sai lời xin trời tru đất diệt!
Huệ Vũ lại nhìn khắp đám người Chiêm sa cơ thất thế một lượt rồi tiếp:
-Thề với trời đất không phải là chuyện chơi đâu! Khi được phong tước Á hầu để cai quản dân Chiêm, Chế Năng đã long trọng thề sẽ tuyệt đối trung thành với thiên triều, thế nhưng rồi y lại phản bội lời thề! Kết quả y đã làm được cái gì? Chỉ thấy cảnh xương tan máu đổ giáng lên đầu dân Chiêm! Chính bản thân Chế Năng đã trở thành kẻ vong gia thất thổ khốn đốn ở quê người! Các ngươi phải nhớ bài học đó! May là thiên tử lòng nhân bao la nên cử ta đánh dẹp! Nếu việc này giao cho một tướng khác, chưa chắc các ngươi còn được yên lành như hôm nay! Thấy các nguơi đã biết hối hận về sự phản bội của mình ta cũng động lòng. Ta biết các ngươi chỉ vì ngây ngô dại dột nên bị Chế Năng dụ dỗ hoặc ép buộc phải làm việc quấy thôi! Vốn tình thiên tử thương dân Chiêm chẳng khác gì dân Đại Việt! Ngài đâu muốn để dân Chiêm phải buồn khổ, đau lòng! Khi ta xuất chinh, ngài đã cho phép ta được quyền tùy tình hình mà giải quyết. Để thể hiện lượng khoan hồng của thiên tử, ta sẽ cho nước Chiêm được tự trị một lần nữa, các ngươi nghĩ thế nào?
Đám dân Chiêm đang âu sầu ủ rũ như vừa chợt tỉnh ngủ, họ ngơ ngác nhìn nhau như dò hỏi. Nhưng cũng chẳng có một ai lên tiếng. Huệ Vũ lại tiếp:
-Quân bất hí ngôn, ta thay mặt thiên tử cho dựng lại nước Chiêm thật đấy! Triều đình Đại Việt muốn có một nước Chiêm mới mẻ biết sống thuận hòa với Đại Việt để dân chúng hai nước cùng được yên ổn làm ăn. Một nước Chiêm mới cần phải có một triều đình mới để cai trị muôn dân. Nhưng muốn có một triều đình vững mạnh phải kết hợp được thật nhiều nhân tài. Các ngươi tất biết rõ những ai hiện ở trong nước đáng mặt nhân tài. Các ngươi hãy thăm dò, vận động, tiến cử những người có tài có đức ấy đứng ra giúp nước. Nước Chiêm có lập lại được hay không là do chính các ngươi! Ta hứa khi nước Chiêm đã được tái lập quân Đại Việt sẽ rút về nước!
Nghe đến đây quan dân Chiêm đồng loạt reo vui:
-Đội ơn Thánh hoàng! Đội ơn Đại vương! Thánh hoàng vạn tuế, vạn vạn tuế!
Huệ Vũ nở một nụ cười tươi tắn:
-Đã đồng lòng như vậy, các ngươi phải gắng làm tròn bổn phận của mình! Ta sẽ tiếp tay cho các ngươi!
*
Lúc bấy giờ có viên tù trưởng tên Hiệu cai quản vùng Nghĩa Sơn nổi tiếng là một tay anh kiệt ít người sánh kịp. Trước đây Hiệu đã cùng con là Thủ (Patalsor) từng làm tướng chỉ huy quân Chiêm đánh nhau với quân Đại Việt nhiều trận. Khi Chế Năng chạy trốn sang Java thì cha con Hiệu dẫn một số thuộc hạ ẩn thân vào chốn rừng núi để mưu đồ việc phục quốc. Nay nghe tin vua Trần cho tái lập nước Chiêm, Thủ bàn với cha:
-Thưa cha, nay có tin Đại Việt cho gây dựng lại nước Chiêm, không biết có đúng không? Nghe nói họ đang kêu gọi nhân tài nước Chiêm ra lập triều đình mới, cha nghĩ mình có nên tham gia không?
Tù trưởng Hiệu nói:
-Tin ấy đã được thông báo nhiều nơi, tức là có thật. Chắc là họ sợ người Trung Hoa đánh vào phía Bắc nên muốn rút quân về giữ nước đấy! Ta đang mưu việc phục quốc nay nhà Trần lại cho phục quốc lẽ nào ta không tham gia? Tuy thế, phải đề phòng cạm bẫy! Cha bây giờ cũng già rồi, có chết cũng không tiếc. Riêng con là một nhân tài đất nước đang cần, nếu bị gài bẫy thì uổng lắm! Chi bằng con cứ tiếp tục công việc đã dự tính, để một mình cha thử ra yết kiến Huệ Vũ vương xem sao! Nếu Huệ Vũ vương đặt cạm bẫy thì cũng chỉ hại được một mình cha. Còn nếu Huệ Vũ vương thật tình có thiện chí cho gây dựng lại nước Chiêm, cha sẽ gọi con ra cũng không muộn!
Thế rồi tù trưởng Hiệu về Đồ Bàn xin yết kiến Huệ Vũ vương Quốc Chẩn. Huệ Vũ vốn đã nghe tiếng tù trưởng Hiệu, nay thấy ông ta xin yết kiến thì mừng lắm. Vương ân cần hỏi han Hiệu về tình hình nước Chiêm, về cách cai trị dân. Tù trưởng Hiệu thấy thái độ mềm mỏng nhiệt thành của Huệ Vũ cũng trả lời rất thành thật. Huệ Vũ có vẻ hài lòng lắm. Sau một hồi nói chuyện, Huệ Vũ kết luận:
-Ông quả là bậc nhân tài. Thay mặt đấng thiên tử, ta quyết định chọn ông làm chúa nước Chiêm Thành kể từ hôm nay. Ta hi vọng ông sẽ đem hết tài năng để phụng sự đất nước ông. Ta tin tưởng ông sẽ làm mọi cách để hàn gắn tình hữu nghị giữa hai nước Việt Chiêm và dân hai nước sẽ sống yên ổn bên nhau mãi mãi. Ông thấy thế nào?
-Đa tạ Đại vương đã tin yêu kẻ hèn này mà phó thác việc lớn. Tuy thế, kẻ hèn này chỉ có thể làm bề tôi mà không dám nhận ngôi vị chúa tể nước Chiêm Thành!
Huệ Vũ ngạc nhiên hỏi:
-Ông chớ khiêm nhường! Ta đã tiếp xúc với nhiều nhân vật có tiếng của nước Chiêm nhưng chẳng ai có kiến thức bao quát như ông cả. Chẳng lẽ ông còn nghi ngại điều gì?
-Bẩm, tôi không nghi ngại gì nhưng dân Chiêm Thành sẽ không chịu để tôi làm chúa đâu!
-Tại sao vậy? Ta cho ông cầm quyền sinh sát trong tay sao lại sợ điều đó?
-Bẩm, Đại vương chưa rõ tập quán của dân Chiêm. Dân Chiêm tuy trông yếu hèn vậy nhưng tập quán và niềm tin của họ khó lay chuyển lắm. Xưa nay họ vẫn chỉ ủng hộ những người có gốc gác liên hệ đến hai bộ tộc Cau* và bộ tộc Dừa* – tức là dòng dõi quí tộc – lên làm chúa. Người Chiêm tin hai bộ tộc ấy do nữ thần Bà Mẹ Đất Nước (Pô Inư Nưgar) trao nhiệm vụ cai trị quốc dân. Tôi cũng dân Chiêm nhưng bất quá là một tù trưởng nhỏ, một tướng lãnh, thuộc giai cấp thấp mới vươn lên, dẫu làm chúa được cũng chỉ bị coi là tiếm vị, không sớm thì muộn cũng sẽ bị dân lật đổ.
-À, hóa ra là vậy! Nhưng ông đừng lo! Sau lưng ông còn có Đại Việt mà! Chẳng lẽ dân Chiêm dám coi thường Đại Việt? Ông cứ giúp ta đi!
Tù trưởng Hiệu có vẻ suy nghĩ một hồi rồi thưa:
-Bẩm Đại vương, là kẻ bại trận đã được Đại vương tha chết lại còn giao phó trọng trách làm chúa Chiêm Thành, lẽ ra tôi phải gắng sức để báo đáp ơn sâu! Ngặt nỗi, nay tôi đã hơn năm mươi, sức mòn trí nhụt khó gánh vác nổi trọng trách ấy. Tôi hiện có đứa con tên là Thủ đang độ trai tráng, cũng có chút hiểu biết về việc trị dân. Nếu Đại vương không chê, xin cho nó gánh vác việc đó thay tôi, tôi sẽ đứng sau lưng giúp đỡ nó, dám mong Đại vương chuẩn thuận cho!
Huệ Vũ ngạc nhiên hỏi:
-Ông còn có đứa con giỏi như vậy sao nãy giờ ông chẳng nhắc tới? Thủ so với ông thế nào?
-Thưa, theo tôi nghĩ, Thủ hơn tôi mười phần!
-Vậy bây giờ Thủ đang ở đâu? Ông gọi ra gặp ta gấp để ta xem thế nào!
-Thưa, xin Đại vương thư thả cho. Vì Thủ hiện đang ở chốn rừng sâu.
-Thì ra ông vẫn còn nghi ngờ thiện chí của ta?
-Xin Đại vương thông cảm. Binh pháp có nói “binh là trá”, thú thật tôi cũng phải đề phòng, nếu phải chết cũng chỉ chết một mình tôi. Nay thấy Đại vương quả thật lòng muốn cho dựng lại nước Chiêm, tôi sẽ gọi Thủ về ra mắt Đại vương!
Quốc Chẩn cười mà khen:
-Cha con ông quả thật giỏi lắm! Ta đã chọn đúng người rồi!
*
Không lâu sau đó, tù trưởng Hiệu dẫn Thủ vào yết kiến Huệ Vũ vương. Sau khi phỏng vấn Thủ một hồi, Huệ Vũ càng tỏ vẻ vui mừng:
-Cha con ông đã chịu nhập cuộc thì thật đáng mừng cho cả hai nước! Ta sẽ phong Thủ làm chúa nước Chiêm.
Cha con tù trưởng Hiệu liền quì xuống bái tạ Huệ Vũ.
Hôm sau Huệ Vũ cho tổ chức lễ tấn phong Thủ làm Hiệu Thánh Á vương. Thủ lấy hiệu là Chế A Nan và tôn phong thân phụ ông làm Thái thượng vương. Thế là Chế A Nan trở thành vị vua đầu tiên của vương triều thứ 12 nước Chiêm Thành.
Tổ chức triều đình nước Chiêm xong, Huệ Vũ vương Quốc Chẩn giữ đúng lời hứa, cho rút quân về Đại Việt. Nước Chiêm Thành cứ theo lệ mỗi năm lại cử sứ giả sang triều cống Đại Việt một lần.
*
Từ khi Chế A Nan lên cầm quyền nước Chiêm, nhờ sự cố vấn, trợ lực tận tình của Thái thượng vương Hiệu và hai người bạn chí thiết là Du Đà và Bố Tân, ông đã mở đầu một triều đại khá hùng mạnh. Bên trong, ông đã xây dựng lại quân đội, bên ngoài, ông đã khéo léo ngoại giao không làm mất lòng các nước láng giềng. Từ biên giới Đại Việt ở phía Bắc đến biên giới các nước Lào, Chân Lạp phía Tây, phía Nam, đến cả mặt giáp biển phía Đông đều trở nên yên ổn. Dân Chiêm Thành đã được sống trong cảnh ấm no, thanh bình một thời gian.
Trong khi Chiêm Thành đang dần hồi sức thì ở Đại Việt, Thượng hoàng Anh Tôn rồi Điện súy Phạm Ngũ Lão lần lượt qua đời. Sự tranh chấp quyền hành, địa vị giữa các đại thần trụ cột của triều đình Đại Việt cũng bắt đầu chớm dậy.
Nhắm vào hiện tượng đó, các vương tử vương tôn của hai bộ tộc Cau và Dừa đua nhau thúc đẩy vua Chế A Nan dấy quân đánh Đại Việt để thu hồi phần lãnh thổ đã mất. Nhưng Chế A Nan không chịu nghe họ. Những người này bực mình liền sách động dân chúng công kích vào nhược điểm Chế A Nan không thuộc dòng vua chính thống và cho ông chỉ là tên tay sai của Đại Việt. Trong triều lẫn ngoài dân chúng có nhiều người nghe theo, gây thành một phong trào chống đối Chế A Nan. Chế A Nan lo sợ phải sai sứ sang Trung Hoa cầu phong với nhà  Nguyên(Quí Hợi*). Vua Nguyên bèn cử sứ sang phong tước vương cho nhà vua. Nhờ vụ phong tước này mà phong trào chống đối vua Chế A Nan bị khựng lại.
Nhà Trần biết được việc Chiêm Thành giao thiệp với nhà Nguyên thì nổi giận. Vua Minh Tôn bèn sai Huệ Túc vương đem quân phạt Chiêm. Nhưng Huệ Túc vương đánh không thắng được, phải rút quân về (Bính Dần*).
Cuộc chiến thắng quân Đại Việt của vua Chế A Nan đã làm dân Chiêm mát mặt. Uy tín nhà vua tự nhiên vọt tăng cao. Phong trào chống đối vua Chế A Nan bị xẹp hẳn. Quân đội Chiêm Thành càng ngày càng hùng mạnh thêm.
Ở Đại Việt, cuộc tranh giành quyền lực giữa các trọng thần trong triều càng ngày càng trở nên trầm trọng. Kết quả tệ hại nhất là Huệ Vũ vương Trần Quốc Chẩn, một vị hoàng thân và cũng là một võ tướng có nhiều chiến công hiển hách đã bị gièm pha rồi bị giết vào năm Mậu Thìn*. Quân đội Đại Việt càng ngày càng suy yếu.
 
Vua Chế A Nan chỉ có hai người con: công chúa Đa Lợi và hoàng tử Chế Mỗ. Khi công chúa Đa Lợi đến tuổi trưởng thành, vua Chế A Nan cho kết hôn với một viên quan trẻ trong triều là Trà Hòa Bố Để. Cha của Bố Để vốn là một cận vệ của vua Chế Năng. Khi quân Đại Việt tiến vào Đồ Bàn đánh đuổi Chế Năng, cả gia đình Bố Để đều chết thảm giữa đám loạn quân, chỉ một mình Bố Để may mắn thoát được. Vì thế, Bố Để rất căm hận người Việt. Ý chí phục thù Đại Việt đã thúc đẩy Bố Để khổ công chăm lo tập luyện, học hỏi để trở thành một nhân tài. Vua Chế A Nan thấy Bố Để có nhiều tài lạ nên thương yêu, tin cậy lắm.
Khác hẳn với Trà Hòa Bồ Để, hoàng tử Chế Mỗ không được thông minh, lại lười biếng học hành, ưa chơi bời lêu lổng. Có khi Chế Mỗ còn giao du với cả những kẻ không ra gì. Vua Chế A Nan rất lo buồn về sự hư hỏng của hoàng tử. Vua đã tìm những thầy giỏi để lo việc giáo huấn cho Chế Mỗ nhưng vẫn không thấy kết quả gì. Chính Thái thượng vương Hiệu cũng tham gia trong việc uốn nắn đứa cháu khó dạy này nhưng rồi ông cũng chán nản lắc đầu. Thế rồi vua phải giao phó việc giáo dục hoàng tử cho người bạn tin cậy là Du Đà. Vua nghĩ Du Đà là người thân thiết, chắc chắn ông ta sẽ gắng dạy dỗ hoàng tử và hoàng tử cũng sẽ nể nang ông ta mà chịu vâng lời hơn.
Dù tánh khí hoàng tử có vẻ bất thường nhưng đã vào tuổi trưởng thành nên được vua cha cấp cho một ngôi biệt điện rộng rãi để tập sự cuộc sống tự lập. Trong biệt điện có cả một số tôi tớ lo việc hầu hạ phục dịch. Lại có cả một đội lính đóng gần điện lo việc bảo vệ cho hoàng tử. Ông đã dành riêng một phòng trong điện để làm nơi đọc sách và học hành. Giảng quan Du Đà cũng được dành riêng một phòng làm nơi ăn ở.
Từ khi nhận nhiệm vụ, Giảng quan Du Đà đã hết lòng chăm lo công việc được giao phó. Một mặt ông tận tình dạy dỗ Chế Mỗ, bắt Chế Mỗ giới hạn các vụ rượu chè hát xướng, một mặt ông dặn đội bảo vệ an ninh tìm cách ngăn chận bớt những vụ giao du của Chế Mỗ với bên ngoài. Sự kiểm soát ráo riết này đã làm Chế Mỗ dần sinh ra bất mãn. Một lần không kiềm chế nổi cơn tức giận, hoàng tử đã hung hăng mắng nhiếc Du Đà. Thấy Du Đà nhẫn nhịn, Chế Mỗ được thế càng coi thường ông hơn. Vua Chế A Nan hay được việc đó chỉ biết lắc đầu đau khổ. Ông cố răn đe Chế Mỗ mãi nhưng vẫn không kết quả. Cuối cùng Du Đà phải xin từ chức.
Thái thượng vương Hiệu cũng lo rầu khôn xiết. Ông than thở với vua A Nan:
-Nhà ta vốn chẳng thuộc giai cấp cao sang, mấy đời hao tổn biết bao nhiêu tâm lực mới vươn lên được địa vị hôm nay. Con cháu đã mọn mảy lại sinh phải thằng Chế Mỗ ngu đần ngỗ nghịch này ta e rồi con cháu ta thứ dân lại hoàn thứ dân thôi!
Vua Chế A Nan an ủi:
-Xin cha bớt ưu phiền. Con sẽ nhờ Bố Tân thay Du Đà dạy dỗ nó một thời gian xem sao!
Khi vua Chế A Nan ngỏ ý nhờ Bố Tân dạy dỗ Chế Mỗ, Bố Tân đáp:
-Tánh khí hoàng tử thất thường như vậy kiềm hãm cho được không dễ! Tuy thế, tôi cũng xin thử sức sáu tháng xem sao! Thành công được thì tốt, nếu thất bại, xin bệ hạ thông cảm tìm người khác thay thế cho!
Vua Chế A Nan nói:
-Mong ông vì gia đình ta mà gắng sức! Ta sẽ không quên ơn ông!
-Tâu vâng! Tôi sẽ làm hết sức mình!
Hằng ngày Thái thượng vương Hiệu vẫn theo dõi việc học hành của Chế Mỗ. Ông đã tìm mọi cách để hỗ trợ, an ủi, khuyến khích Bố Tân kiên nhẫn làm nhiệm vụ. Ông sợ nếu Bố Tân cũng nản lòng thì thật khó tìm ai thay thế. Nhưng nhận nhiệm vụ chưa được bao lâu Bố Tân đã bắt đầu lộ vẻ chán nản. Thấy tình trạng như vậy, phò mã Bố Để tâu với vua A Nan:
-Hay bệ hạ thử cho hoàng tử theo hạ thần tập làm quen với công việc một thời gian xem sao? Hạ thần có thể dẫn dụ làm cho hoàng tử vui mà quên bớt thói ăn chơi lêu lổng!
Vua A Nan nghe lời Bố Để vui mừng nói:
-Ý kiến của con hay đấy. Nếu con làm được việc đó ta sẽ trọng thưởng!
Thế rồi vua vẫn để Bố Tân tiếp tục dạy dỗ Chế Mỗ, nhưng mặt khác, vua buộc hoàng tử phải bỏ một số thì giờ nhất định, hằng ngày phải theo chân Trà Hòa Bố Để để học việc. Ban đầu Chế Mỗ vùng vằng không muốn vâng lệnh. Vua Chế A Nan dọa:
-Ngươi muốn sau này lên làm vua thì cũng phải biết sơ qua về công việc triều đình ra sao để điều khiển các quan chứ! Ngươi không biết gì hết thì ai phục tùng ngươi? Người ta làm sai hay đúng ngươi làm sao phân biệt được để thưởng phạt? Nếu ngươi không chịu học việc ta sẽ truyền ngôi cho người khác!
Chế Mỗ bất đắc dĩ phải nghe theo. Từ đó hàng ngày ông phải bỏ một ít thời gian để học việc. Không ngờ chẳng bao lâu sau Chế Mỗ lại trở nên thích thú với sự học việc này. Từ đó Chế Mỗ với Bố Để gần gũi nhau như hình với bóng. Gánh nặng của Bố Tân cũng tự nhiên được trút bỏ. Ông không còn kêu ca gì với vua Chế A Nan nữa.
Mỗi khi Thái thượng vương Hiệu hoặc vua A Nan hỏi đến, bao giờ Bố Để cũng có những lời tốt lành để nói về hoàng tử. Sự thay đổi của Chế Mỗ đã làm Thái thượng vương Hiệu và vua A Nan giảm bớt phần nào nỗi ưu phiền.
Thấy Thái thượng vương Hiệu đã già yếu, vua Chế A Nan cho dựng một biệt thự ở một nơi yên tĩnh ngoài hoàng thành để ông an dưỡng. Biệt thự được xây bên sườn một đồi thông mát mẻ, dưới chân đồi có một dòng suối nước chảy quanh năm. Đó là một khu vực cảnh trí thật tuyệt vời do chính Thái thượng vương Hiệu chọn. Nhưng ông chưa kịp dời đến ở thì Chế Mỗ, trong một lần theo Bố Để học việc, đã dẫn một thiếu nữ vào biệt thự để làm chuyện dâm ô. Một người lính gác biệt thự phát giác được, liền trình với Bố Để. Nào ngờ Bố Để sợ việc tiết lộ ra ngoài bèn đem người lính ấy kết tội phạm kỷ luật mà giết mất! Nhưng chuyện ấy cũng không giấu được thiên hạ. Vua A Nan tức giận đòi Chế Mỗ đến hỏi tội, Chế Mỗ sợ nên chối phăng. Vua lại hỏi Bố Để nhưng Bố Để cũng chối. Vua A Nan tuy bực mình nhưng thấy chàng rể luôn che chở con mình cũng tạm yên tâm. Ông chỉ quở trách Chế Mỗ sơ sài chiếu lệ. Từ đó Chế Mỗ càng thêm tin cậy, càng ỷ lại vào Bố Để.
Thái thượng vương Hiệu biết được việc Bố Để cố tình bao che Chế Mỗ ông càng bực bội thêm. Ông càng thất vọng về đứa cháu duy nhất của mình. Một người tư cách như thế làm sao cai trị muôn dân? Làm sao có thể giữ gìn cơ nghiệp do cha ông gây dựng? Ông than trách số phận của mình. Cha con ông mọn mảy quá, không có thêm được một mống con cháu khá hơn Chế Mỗ để yên lòng phó thác việc mai sau! Ông thường nói với vua A Nan:
-Cha không tin Chế Mỗ có thể giữ được cơ đồ nhà ta! Ước sao ơn trên cho con sinh thêm được một hoàng tử nữa! Khi đó dẫu nhắm mắt cha cũng yên lòng!
Chính câu nói này đã ám ảnh vua A Nan một thời gian khá dài.
Không biết có phải do lòng khấn nguyện của Thái thượng vương Hiệu đã được đấng thiêng liêng nào cảm ứng không mà khi ông đã vào tuổi 65, bỗng nhiên người thiếp* của ông là A Lý báo cho ông biết bà đã có thai. Ông vui mừng hết sức. Hằng ngày ông chỉ còn biết lo việc đốc thúc chăm sóc sức khỏe cho A Lý và nôn nóng mong đợi ngày bà khai hoa nở nhụy.
Nhưng Thái thượng vương Hiệu đã không được may mắn thấy mặt đứa bé ra đời. Ông đã đột ngột lâm bệnh nặng đúng vào thời điểm người thiếp chuyển bụng lâm sàng. Khi ông tắt thở cũng chính là lúc đứa bé cất tiếng khóc chào đời. Sự trùng hợp lạ lùng đó đã khiến nhiều người lấy làm kinh dị, phỏng đoán lung tung.
Hài nhi là một đứa bé trai trông khôi ngô sáng sủa lắm. Vua Chế A Nan đặt tên cho cậu là Bà Bỉ Na Tác Nhĩ (Po Binasor). Vị hoàng tử này xếp theo hệ thống gia đình là vai chú của hoàng tử Chế Mỗ. Hoàng tử Na Tác Nhĩ càng lớn càng thông minh, tướng mạo lại khôi ngô chững chạc lạ thường nên vua Chế A Nan thương quí lắm. Na Tác Nhĩ mới lên ba vua Chế A Nan đã cho tìm thầy để dạy cậu học hành. Các thầy học đều phải khen cậu là một bậc thần đồng.
Khi so sánh cậu em trai Na Tác Nhĩ với đứa con ruột Chế Mỗ, vua A Nan cảm thấy rõ sự cách biệt nhau một trời một vực. Đã bao lần ông phân vân nghĩ đến việc mai sau. Về căn bản thì Chế Mỗ không thể nào trở thành một ông vua trị nước giỏi được! Nhưng truyền ngôi cho Chế Mỗ hợp lý hơn, sẽ không mấy ai có lý do để chống đối. Chế Mỗ ngang bướng kém cỏi nhưng đã trưởng thành, lại đang được phò mã Trà Hòa Bố Để là một trọng thần có tài ủng hộ. Còn Na Tác Nhĩ tuy thông minh, nổi tiếng thần đồng, nhưng còn nhỏ quá. Cậu ta có thể trở thành một vị minh quân, nhưng truyền ngôi cho Na Tác Nhĩ chắc chắn sẽ gặp sự chống đối, ít nhất là sự chống đối từ Chế Mỗ và những người bảo thủ trong triều.
Sở dĩ vua Chế A Nan phải phân vân về chuyện đó vì ông luôn bị ám ảnh bởi lời nhận xét của thân phụ ông “Cha không tin Chế Mỗ có thể giữ được cơ đồ nhà ta!”. Hơn nữa, lúc bấy giờ ông cũng đã lớn tuổi, sức khỏe ông đã xuống dốc. Nhiều triệu chứng bệnh hoạn trong ông dần nẩy sinh. Cứ suy nghĩ về vấn đề này ông lại thấy đầu óc rối tung lên. Nếu không truyền ngôi cho Chế Mỗ thì chuyện nồi da xáo thịt có thể xảy ra. Nhưng nếu truyền ngôi cho Chế Mỗ thì cơ đồ do cha con ông gây dựng có thể tan tành! Ông rất chán nản khi nghĩ tới thực tế: Chế Mỗ chưa bao giờ hé lộ được chút dấu hiệu tài năng nào cả! Một hôm vua Chế A Nan thăm dò Bố Để:
-Ta thấy hoàng tử Chế Mỗ tài năng kém cỏi lại ham chơi quá, không biết sau này có gánh vác nổi việc nước không? Em ta là Na Tác Nhĩ thông minh lanh lợi hơn nhiều nhưng còn quá nhỏ, ngươi nghĩ ta nên làm thế nào?
Trà Hòa Bố Để ngẫm nghĩ một lát rồi thưa:
-Bẩm Phụ vương, con nghĩ hoàng tử Chế Mỗ không phải tầm thường đâu! Chỉ vì Phụ vương còn tại vị nên hoàng tử chưa phát lộ tài năng đấy thôi.
Vua A Nan lộ vẻ ngạc nhiên hỏi:
-Làm sao ngươi biết được điều đó?
Trà Hòa Bố Để thưa:
-Bẩm Phụ vương, một lần hoàng tử rủ con đi săn trong rừng, buổi trưa gặp một giòng suối mát nên chúng con cùng xuống tắm. Tắm xong con lên trước, hoàng tử vẫn còn mê mải ngâm mình dưới nước. Khi đang mặc y phục lại, con ngạc nhiên thấy một ông già tiên phong đạo cốt xuất hiện. Ông chăm chú nhìn xuống suối mà lẩm bẩm: “Quí quá, quí quá, đất nước này từ nay sẽ hưng thịnh mãi!”. Con nghe mà không hiểu gì cả nên hỏi ông lão: “Cụ khen cái gì vậy?”. Ông lão nói: “Tôi nói chàng thanh niên đang tắm kia! Gần vú trái của chàng có cái bớt đỏ chính là dấu hiệu đại quí đấy. Sau này chàng sẽ trở thành một vị vua hiển hách!”. Con lại hỏi: “Cụ ở đâu đến và nhờ đâu mà đoán được vận mạng con người như thế?”. Ông lão nói: “Ta là đệ tử chân truyền của Quỉ Cốc Tử từ Trung Hoa vân du sang đây. Ta rất mừng biết được nước Chiêm từ nay sẽ hưng vượng trở lại!”. Nói xong, ông lão cười ha hả rồi đi vùn vụt như bay, trong giây lát đã mất dạng. Việc xảy ra khác thường quá, con nghĩ dẫu có nói ra cũng chẳng ai tin. Vả lại, nói ra có thể làm cho hoàng tử sinh lòng kiêu hãnh sợ tổn đức đi nên con cũng im luôn! Nhưng từ đó con hết lòng nể phục và luôn lo giúp đỡ, bảo vệ hoàng tử. Con tin tưởng thế nào cũng có ngày hoàng tử phát lộ tài ba một cách phi thường!
Vua Chế A Nan kinh ngạc suy nghĩ một hồi rồi nói:
-Hèn gì! Hoàng tử quả có cái bớt đỏ lớn ở gần vú trái, không ngờ đó là cái tướng đại quí! Phải rồi, chính năm hoàng tử ra đời ta được Huệ Vũ vương phong làm Hiệu Thánh Á vương! Đã vậy ta còn lo lắng gì nữa? Nếu ta có mệnh hệ nào, ngươi gắng phò tá hoàng tử để giữ nước nhé!
-Phụ vương cứ yên chí. Lẽ nào con lại dám quên ơn tri ngộ của Phụ vương và hoàng tử. Việc giúp hoàng tử gây dựng lại một nước Chiêm hưng thịnh cũng là ước nguyện của con. Con sẽ hết lòng làm tròn chức phận của mình!
Từ đó vua Chế A Nan chuyển giao dần các công việc trong triều cho hoàng tử Chế Mỗ lo. Tất nhiên đầu óc mẫn tiệp và bàn tay khéo léo của Trà Hòa Bố Để đã tỏ ra rất đắc lực trong vai trò phụ tá hoàng tử. Công viêc nào cũng được giải quyết suôn sẻ, tốt đẹp khiến vua Chế A Nan rất hài lòng. Khi việc thành, dù lớn hay nhỏ, bao giờ Bố Để cũng nhường công đầu cho hoàng tử. Điều đó làm vua Chế A Nan càng mừng, càng tin yêu lòng trung hậu của Bố Để. Chế Mỗ cũng càng ỷ lại vào Bố Để thêm. Mọi việc vua cha giao phó Chế Mỗ đều để mặc Bố Để tùy tiện giải quyết, miễn sao công việc chạy là được.
Một thời gian sau vua Chế A Nan phong Bố Để làm Tể tướng. Với cương vị này Bố Để đã lần lượt thay thế những người thân tín của mình vào các chức vụ quan trọng trong triều. Một số quan lại để ý thấy tình trạng đó đâm ra lo ngại. Có người đã kín đáo báo cho Chế Mỗ biết để đề phòng nhưng Chế Mỗ nói:
-Những việc đó đều do ý ta cả. Từ nay Tể tướng ra lệnh gì các ngươi phải coi đó như là lệnh của ta và phải triệt để thi hành. Nếu không nghe lời, ta sẽ thẳng tay trừng trị chớ có trách.
Thấy không trông cậy gì ở Chế Mỗ được, các quan chán nản dần xa rời ông ta.
Vua Chế A Nan thì bệnh hoạn ngày càng tăng, đầu óc ông cũng dần kém minh mẫn. Một hôm Du Đà đem việc các quan xầm xì về thái độ có vẻ chuyên quyền của Bố Để tâu với ông, ông gạt đi:
-Bố Để là hạng người trung hậu, không nên nghi ngờ.
Thấy vua A Nan quá tin tưởng Bố Để, sợ nói nhiều sẽ rước vạ vào thân, mọi người cũng lơ dần. Chẳng bao lâu sau, Chế A Nan giao hết quyền hành cho Chế Mỗ để nghỉ ngơi an dưỡng. Đương nhiên Trà Hòa Bố Để trở thành người trực tiếp điều hành guồng máy triều đình bên cạnh vị hoàng tử bù nhìn. Mọi việc trong triều vẫn tiếp tục được giải quyết êm xuôi. Dần dần, các quan và ngay cả Du Đà đều cảm thấy phục tài Bố Để và tin tưởng Bố Để sẽ làm cho nước Chiêm trở nên hùng mạnh!
Giữa năm Nhâm Ngọ* thì vua Chế A Nan qua đời.
 
– – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – –
Chú thích:
*Các năm trong bài: Bính Ngọ: 1306, Nhâm Tý: 1312, Mậu Ngọ: 1318, Quí Hợi: 1323, Bính Dần: 1326, Mậu Thìn: 1328, Nhâm Ngọ: 1342.
*Bộ tộc Cau: Theo truyền thuyết, bên cạnh cung điện một vị vua phía Nam Chiêm Thành có một cây cau. Mùa kia cây cau trổ một buồng trái rất lớn nhưng không nhưng không chịu nở. Vua sai người trèo lên cắt xuống, rạch ra thì chỉ thấy một cậu bé kháu khỉnh. Vua mừng đặt tên là Radja Po Klong và nhận làm con nuôi, về sau lại gả con gái và truyền ngôi cho. Đặc biệt hoàng tử Po Klong không chịu bú sữa người mà chỉ bú sữa một con bò tơ ngũ sắc. Đó là lý do người Chiêm phía Nam không chịu giết và ăn thịt bò.
*Bộ tộc Dừa: Cũng có truyền thuyết tương tự nhưng là của dân phía Bắc Chiêm Thành, chỉ thay thế cây cau thành cây dừa. Dân bộ tộc Dừa không tôn trọng con bò như dân bộ tộc Cau ở phía Nam.
*Người thiếp: Người Chiêm theo chế độ mẫu hệ nhưng chế độ này chỉ áp dụng trong phạm vi gia đình. Còn mọi việc có tính cách rộng lớn về xã hội, đất nước vẫn do người đàn ông nắm giữ. Các vị vua chúa, quan quyền vẫn có quyền có thê thiếp tùy nhu cầu như ở các dân tộc theo chế độ phụ hệ.

Đã đăng:
Chế Bồng Nga: Anh Hùng Chiêm Quốc – Lời mở đầu

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s