BS Trần Tiễn Sum – TÂM SỰ GIẢ NGHỊ

Trong kho tàng những bài thơ chữ Hán của nhiều tác giả Việt như Ngô thì Nhậm, Nguyễn Du, Trương đăng Quế, Trần tiễn Thành, Nguyễn Lộ Trạch có nhắc đến nhân vật Giả Nghị. Ông là ai mà được nhắc đến như vậy?
Sau khi nhà Tần (221- 206 TCN) sụp đổ, nhà Hán (203 TCN–220) tái thống nhất Trung Hoa và các nhà trí thức lúc bấy giờ cũng là nhà hoạt động chính trị đã để lại nhiều tác phẩm được gọi là “văn chính luận” (văn nghị luận) chuyên bàn những vấn đề chính trị và xã hội quan trọng đương thời. Các bài luận văn này đề cập đến những lý do thành công và thất bại của nhà Tần từ khi khôi phục đến lúc bị diệt vong hầu rút ra những bài học cho vua quan nhà Hán.Những bản văn chính luận này dưới hình thức “biểu tấu” (kiến nghị) đã đi vào lịch sử văn học Trung hoa vì những chính kiến thiết thực hữu dụng, sâu sắc và lời văn thiết tha cương trực đầy lòng yêu nước.
Đời Hán Văn Đế Lưu Hằng (179-159 TCN) (một trong những người hiền được nhắc đến trong Nhị thập tứ hiếu), công thần Giả Nghị (201-169 TCN) quê Lạc dương, Hà nam lúc mới hơn hai mươi tuổi đã được thăng chức Đại Phu có tâm huyết  đề nghị nhiều chủ trương cải cách pháp chế chính trị nhằm xây dựng quốc gia hưng thịnh. Thời đó đất nước còn chưa yên, Hung Nô quầy rối biên cương, các chư hầu chưa phục tòng. Vua Văn Đế cho triệu Giả Nghị tới hỏi han ân cần tại cung Tuyên Thất gần Hàm Dương. Giả Nghị tâu rằng: “Sự thế ngày nay có một việc đáng thương khóc, hai việc đáng chảy nước mắt, sáu việc đáng thở dài”. (trích Trị an sách).
Chính kiến của ông tuy không nằm ngoài tư tưởng Nho học phân biệt đẳng cấp rõ rệt với tôn tri trật tự, nhưng phê phán xã hội phong kiến thiếu tiến bộ, không trọng dụng người tài giỏi. Các kế sách của Giả Nghị không được vua chấp thuận mà còn bị sàm tấu, dèm pha bởi các cựu thần nên bị đi đày ở Trường Sa thuộc tỉnh Hồ Nam, ngoài ra ông còn bị giáng chức từ Thái Trung đại phu xuống Thái Phó cho Lương Hoài Vưong. Giả Nghị bi phẫn, than thở cảnh ngộ của mình và để tâm sự vào  bài “Phú điếu Khuất Nguyên” lúc đi ngang chỗ Khuất Nguyên trầm mình tại sông Tương (nhánh Mịch La) tỉnh Hồ Nam: (trích đoạn với những câu sau:)
Ngậm ngùi ngồi lặng như ngây
Rảnh rang vô sự cho khuây khõa đời…
            Mũ áo thì để dưới giày
                               Trò đời đảo lộn thế này mãi ru…
                               Ngựa hay danh giá biết bao
Lấy giây cột lại khác nào chó dê.
                                                   (Vũ bội Hoàng dịch)
Khuất Nguyên (340-277 TCN) thuộc qúy tộc nước Sở thời Chiến quốc (475-221 TCN) là một đại văn hào vừa là chính trị gia giỏi về ngoại giao và nội trị.Thời đó nước Tần càng ngày càng mạnh còn nước Sở băt đầu suy yếu. Ông sáng suốt nhìn thấy tình hình nguy ngập của tồ qưốc nên một lòng đem hết tài năng muốn phụng sự vua và nước Sở qua kế sách ‘hợp tung’. Sở Hoài Vương  tin tưởng lúc đầu nhưng sau lại bị phái qúy tộc hủ bại dèm pha nên ông bị đày đi Giang Nam.Ông giãi bày tâm sự u uất, đau đớn đền thác loạn với lòng yêu nước nhiệt thành qua bài thơ Ly Tao (nồi u buồn lúc biệt xứ). Các kế sách của ông không đươc vua nghe theo làm cho nước Sở lụn bại rồi suy vong và bị xâm chiếm bởi nước Tần. Ông quá đau khổ và uất hận vì nổi mất nước mà ôm cục đá lớn nhảy sông Mịch La, một trong những nhánh của Tương Giang tự vẫn ngày 5-5 (đó là sự tích Tết Đoan Ngọ) lúc 62 tuổi.Ông đươc xem như là một đại thi nhân yêu nước xuất hiện sớm nhất nước Trung Hoa và có nhiều ảnh hưởng với hậu thế qua tinh thần và tác phẩm của Ông.Ông là một trong bốn đại văn hào người Trung Hoa được đưa vào danh sách danh nhân văn hóa của thế giới.
Giả Nghị còn có một bộ Tân Thư gồm “Trần chính sự sớ” (sớ bày tỏ chính sự), “Trị an sách”, “Quá Tần luận”…. nêu những bài học lịch sử về sự hùng cường của nhà Tần nhưng rồi cũng bị lật đổ vì không được lòng dân và chính sách thiếu “nhân nghĩa”.Ông chết rất trẻ lúc mới ngoài 30.
 
Tâm sự và sự tích Giả Nghị đã được nhắc tới trong thơ văn chữ Hán của Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Du ,Trương đăng Quế, Trần tiễn Thành, Nguyễn Lộ Trạch…hầu nói lên cảm tình, thông cảm hay mượn điển cố này để tâm sự, biện giải .
 
1. Ngô thì Nhậm (1746 -1803):
Ngô Thì Nhậm,tự Hi Doãn, hiệu Đạt Hiên, sinh ngày 25/10/1746 tại Thanh Trì, Hà Nội.Cha là Ngô Thì Sĩ. Năm 1775,ông đỗ tiến sĩ.Năm 1788 Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc, ông được trọng dụng, phong làm Tả Thị Lang bộ Lại. Trong giai đoạn phụ tá Quang Trung, tài năng ông phát huy cao độ trên các lĩnh vực: chính trị, quân sự, ngoại giao qua chức vụ thượng thư bộ binh. Các tác phẩm của ông có nhiều giá trị trong kho tàng văn học nước nhà như: “Nhị thập nhất sư toát yếu”, “Bút hai tùng đàm”; “Ung vân nhân vịnh”, “Trúc Lâm tam tổ hành trạng” … Khi triều đại Tây Sơn sụp đổ, ông và Phan Huy Ích bị đem ra kể tội, và ngày 9/3/1803 ông bị đòn rồi mất, thọ 57 tuổi.
Cảm hứng khi đi sứ ngang Trường Sa, Ngô thì Nhậm làm một bài thơ với tựa đề: “Quá Trường Sa ức Giả Nghị” (qua Trường Sa nhớ Giả Nghị):
Bất thị Trường Sa lão Giả sinh,
Vị hoàng thiên tử ố phân canh.
 Hậu nguyên tuy khuyết lễ văn sự
 Tuyên Thất hoàn phi thống khốc đình
Tất cánh thiếu niên đa hiệp khí.
Toại giao nhất chức khổ quan tình
Dục tầm cố trạch lai bằng điếu
 Giang thụ y y thượng bất bình.

Dịch thơ: Qua Trường Sa nhớ Giả Nghị

Há muốn Trường Sa Nghị chết già,
Đổi thay vua ghét chuyện bày ra.
Hậu Nguyên tuy thiếu lễ văn đấy
Tuyên Thất là nơi khóc lóc à ?
Chỉ vị tuổi xanh mong chí cả
 Xui nên chức mọn buộc tình ta.
 Muốn tìm chốn cũ mà thăm viếng
 Cảnh bến như còn dấu hận xưa.
(Hoàng Tạo dịch)

Tượng thờ Ngô Thì Nhậm trong Điện thờ Tây Sơn Tam Kiệt (Bảo tàng Quang Trung, Bình Định)

Lúc này Ngô Thì Nhậm được Vua Quang Trung tin dùng nên thông cảm với tâm sự của Giả Nghị. Những đóng góp của ông cho đất nước rất đáng kể về chính trị, ngoại giao lẫn quân sự. Ngô Thì Nhậm nhận thức rõ vai trò của văn hóa, giáo dục đối với sự ổn định chính trị xã hội, phục hưng đất nước.Ông nhấn mạnh việc xây dựng triều đại phải có nhiều người hiền tài thì mới vững, việc bình trị thiên hạ phải có nền tảng đạo đức thì mới bền. Có thể nói sức mạnh anh hùng của Nguyễn Huệ cộng với trí tuệ của Ngô Thì Nhậm là những nhân tố quan trọng khiến triều đại Tây Sơn có nhiều công trạng hiển hách.
 
2. Nguyễn Du (1765-1820)
Nguyễn Du, tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên  người xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tỉnh, con ông Nguyễn Nghiễm, Đại Tư Đồ triều Lê.Năm 1783 ông thi Hương đỗ tam trường (tú tài). Ông là một đại thi hào của Việt nam với tác phẩm bằng chử Nôm “Đọan Trường Tân Thanh”.1789 Ông cố ý chạy theo Vua Lê Chiêu Thống sang Tàu nhưng không kip, và 1796 định đi vào Gia Định giúp chúa Nguyễn Ánh nhưng bi bắt giữ.1802 Vua Gia Long thống nhất Nam Bắc, lên ngôi hoàng đế thiết lập một xã hội dựa trên Nho giáo và một chính quyền quân chủ chuyên chế sau khi tận diệt tất cả những ai chống đối hay đòi chia quyền. Hàng loạt các vị khai quốc công thần bị thảm sát.
 Nguyễn Du tuy được nhà Nguyễn tin dùng ,thăng đến Cần Chánh điện đại học sĩ nhưng vẫn không quên gia đình mình đã từng ăn lộc nhà Lê nên có tâm sự của kẻ hàng thần nhớ chúa cũ (hoài Lê) mà thái độ như là bất đắc chí, luôn giữ kín suy tư mình với vua và quan đồng liêu. Sách Đại nam chính biên liệt truyện cho biết: “Đối với nhà vua thì ông chỉ giữ hết bổn phận, chứ không hay nói năng điều gì, khiến có khi bị nhà vua quở trách”.Ông thường tỏ ra kín đáo, nếu không nói là lãnh đạm, lúc nào cũng mang nặng trong lòng một bầu u uất khó nói. Như phần đông nho sĩ đương thời, ông quan niệm việc ra làm quan dưới một triều đại mới là một trạng thái “thất tiết”, nên lúc nào cũng buồn rầu, ân hận.
Cụ Nguyễn Du trong tập “Bắc hành tạp lục” gồm những bài thơ sáng tác trong lúc đi sứ sang Trung hoa năm 1813-1814.Ông bỏ thì giờ đi tham quan những di tích các danh nhân và văn nhân lỗi lạc. Ông đã có những suy tư về cái chết, sự phôi pha của thời gian cũng như công danh phù phiếm.Làm quan, dù được hết sức tín nhiệm, song ông chẳng thiết tha chút nào với công việc của “phụ mẫu chi dân”. Ông tâm sự khi đứng trước mộ của các văn nhân như Khuất Nguyên, Đỗ Phủ, Lưu Linh…. Trong hầu hết các bài thơ  chữ Hán, ông than thở cuộc đời là đáng buồn, đáng chán, là vô nghĩa, là bãi bể nương dâu trong nghịch cảnh.
Trong khi đến viếng mộ Giả Nghị, cụ thương cảm đồng cảnh ngộ mà có ý nói lên nghịch cảnh và chê trách quan lại đồng liêu trong bài thơ “Trường Sa Giả thái phó” :
Giáng Quán võ nhân hà sở tri,
Hiếu Văn đạm bạc đạn canh vi.
Lập đàn bất triển bình sinh học,
Sự chức hà phương chí tử bi.
Thiên giáng kỳ tài vô dụng xứ,
Nhật tà dị vật hữu lai thì.
            Tương Đàm chỉ xích tương lân cận,
Thiên cổ tương phùng lưỡng bất vi.
 
Dịch nghiã:  
Giáng Hầu, Quán Anh là những kẻ võ biền có biết gì
Vua Hiếu Văn không tha thiết gì, sợ thay đổi
                  Đứng suông mà bàn luận không thể bày tỏ cái học cả đời mình
Làm tròn chức phận có gì mà phải chịu chết đau thương
Trời cho tài lạ mà không có chỗ dùng
Chiều tà vật quái dị có lúc đến
Tương Đàm gần gũi trong gang tấc
(Sống cách nhau) nghìn năm, gặp gỡ, cả hai đâu có gì trái nghịch)
 
Dịch thơ: Giả thái phó đất Trường Sa
Giáng, Quán hai quan võ đâu hiểu
Vua Hiếu đạm bạc ngại đổi thay
Bàn suông chẳng thể bày sở học
Tròn chức vụ, lại chết buồn não.
Trời cho tài nhưng không đất dụng
Chiều kia chim lạ báo niềm xui.
Tương Đàm gần gũi trong gang tất
Ngàn năm nay gặp, chung tấm lòng.
(Ghi chú: Lúc được vua Hiếu Văn nhà Hán trọng dụng, Giả Nghị đề xuất những cải cách quan trọng, nhưng bị hai quan võ Giáng Quân và Quán Anh dèm pha, nên bị vua giáng chức và đày đi Trường Sa, tỉnh Hồ Nam. Trong lúc làm thái phó cho Lương Hoài vương, Hoài Vương ngã ngựa chết, Giả nghị lại càng buồn phiền mà mất lúc mới 33 tuổi. Tương Đàm là tên huyện nơi gần Giả Nghị ở).
Phần Mộ của Thi Hào Nguyễn Du tại Hà Tĩnh

 
Ngoài ra, Nguyễn Du có một bài thơ khác cũng nhắc đến Giả Nghị:
 
Biện Giả
Bất thiệp Hồ Nam đạo
An tri Tương Thủy thâm?
Bất độc Hoài sa phú
An thức Khuất Nguyên tâm?
Khuất Nguyên tâm, Tương giang thủy
Thiên thu vạn thu thanh kiến để.
Cổ kim an đắc đồng tâm nhân
Già sinh nhất phú đồ vi nhĩ
Liệt nữ tòng lai bất nhị phu
Hà đắc thê thê “tướng cửu châu”
Vị tất cố nhân tri hữu ngã
Nhãn trung Tương Thủy, không du du!
 
Dịch thơ: Gởi bác Giả Nghị
Không qua đường Hồ Nam
Sao biết sông Tương sâu?
Không đọc “Hoài sa phú”
Sao biết lòng Khuất Nguyên?
Lòng Khuất Nguyên, nước sông Tương
Nghìn vạn thu vẫn sáng trong.
Cổ kim khó gặp bạn đồng tâm
Giả sinh bài phú nghĩa gì đâu?
Liệt nữ xưa nay không hai chồng
Sao phải chín châu tìm đổi vua?
Huống gì người xưa chẳng biết ta
Mắt nhìn Tương Thủy lặng lờ trôi.
(Ghi chú: Hoài sa phú là một trong chin bài đề Cửu chương của Khuất Nguyên, nêu rõ vì không muốn nhìn cảnh mất nước nên quyết định tự tử ở sông Tương. Trong bài Phú Viếng Khuất Nguyên của Giả Nghị có câu sao không tìm vua khác mà thờ, Nguyễn Du bác bỏ ý kiến này của Giả Nghị).
 
3. Trương Đăng Quế (1793-1865)
Trương Đăng Quế, tự Diên Phương, hiệu Đoan Trai hay Quảng Khê Tẩu (ông già Quảng Khê), quê làng Mỹ Khê Tây, xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh tỉnh Quảng Ngãi, quan Đại thần phụ chính nhà Nguyễn, phụng sự trong bốn triều đầu tiên của nhà Nguyễn (Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức).Trương Đăng Quế còn là một nhà văn và nhà giáo. Ông từng là thầy học của vua Thiệu Trị, các danh nhân Tùng Thiện vương, Tuy Lý vương, các vua Dục Đức, Đồng Khánh sau này.

Đại thần Trương Đăng Quế có bài thơ “Vịnh Giả Nghị”
                                    (dịch thơ: Vịnh Giả Nghị
     Anh hùng tài tuấn buổi dương cương
Phải giáng Trường Sa thật đáng thương
                                Ghé bến sông Tương chiêu Khuất Tử
Về làm Thái phó khóc Lương vương
                                Nửa đêm giải chiếu không đành dứt
                          Đời vắn tài cao khó liệu lường
                               Sự nghiệp như ông tôi tiếc lắm
                               Cải biên cơ chế Hán điển chương.
           (Trích Trương đăng Quế, Cuộc đời & sự nghiệp, Nguyễn văn Chừng et al, nhà xuất bản Văn học, 2008)
 
Phiên âm chữ Hán hai câu cuối :
                Ngã diệc vị quân trường thái tức
“Trị an” đồ tác Hán văn chương.
 
             (dịch nghĩa: Ta cũng vì Ông than thở mãi
“Trị an” cũng chỉ là một án văn mà thôi.)
 
Hai câu cuối của bài thơ nói rằng kế sách của Gia Nghị nhằm xây dựng quốc gia cho cường thịnh đã không được áp dụng, than ôi cuối cùng chỉ còn lại giá trị như một tác phẩm văn chương đời Hán mà thôi. Cảm thông với hoàn cảnh của Giả Nghị, ông Quế trong vị thế Phụ chánh đại thấn, Cần chánh điện Đại học sĩ vào cuối đời gặp lúc nước ta phải ký hiệp ước nhượng đất 1862, có tư tưởng canh tân manh nha từ khi quân Pháp tấn công Đà Nẵng 1856 cũng làm ông phải nghĩ đến hoàn cảnh Giả Nghị mà lo lắng. Sách Đại Nam thực lục chánh biên, tập 7, tr. 678 cho biết: Tháng 9, năm 1860, Tự Đức năm thứ 13, Trương Đăng Quế lúc này 68 tuổi, dâng sớ lần thứ sáu xin miễn chức về quê. Đại ý nói rằng:
“Từ khi Tây dương đến đây đã ba năm nay, mà ngồi trơ mặt ở triều ban, không vạch ra được một mưu chước gì để đánh lại được giặc Tây dương, tội ấy chối sao được. Lại bóng chiều đã xế, bệnh tật luôn luôn, gần tới cõi chết mà cố giữ địa vị, thực đáng hổ thẹn.Vậy xin cho về quê để nhường chỗ cho lớp trẻ”.Vua giao cho đình thần xét nghĩ.Đình thần đều nói xin lưu Đăng Quế lại để tính toán giúp đỡ. Vua an ủi Trương Đăng Quế, bảo rằng đang có việc giặc Tây dương, nên hết sức làm việc, nếu một phút nào còn sống cũng phải nên cố gắng để báo đền ơn nước.
Hai ông Ngô thì Nhậm và Trương Đăng Quế tài giỏi lại được vua đương thời tin dùng vì được vận may sống trong một hoàn cảnh đặc biệt nên được tiếng trung quân ái quốc.

4. Trần tiễn Thành (1813-1883)
Ông vốn tên là Trần Thời Mẫn, được vua Tự Đức ban tên Tiễn Thành, đại thần triều Nguyễn, người làng Minh Hương, nay thuộc xã Hương Vinh (huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên – Huế). Đỗ tiến sĩ năm Minh Mạng 18 (1838), từ 1859 chuyên lo việc phòng thủ Thuận An và vùng duyên hải, lần lược sung Cơ mật viện đại thần nắm giử thượng thư các bộ Công ,bộ Hộ, nhưng lâu nhất bộ Binh .1864 ông sung Khâm sai toàn quyền phó sứ cùng với chánh sứ Phan Thanh Giản hội thương với Pháp để chuộc các tỉnh Nam Kỳ. Năm 1867 ông được cử làm Chánh sứ vào Saigon thương lượng cùng tướng De Lagrandière nhưng thất bại.Ông được thăng Hiệp biện đại học sĩ vào năm 1871, Văn Minh điện Đại học sĩ 1878 và Cần chánh điện Đại học sĩ 1883 (nhưng từ chối vì đau ốm và già yếu cũng như muốn đứng ngoài tranh chấp quyết liệt giữa hai phe chủ chiến va chủ hòa trong triều đình Huế bấy giờ). Ông đã đề cử với vua Tự Đức các Đại thần Nguyễn văn Tường và Tôn thất Thuyết vào Cơ mật viện.
Năm 1862, Trần tiễn Thành thay thế Trương Đăng Quế làm Thượng thư bộ Binh và giử chức vụ quan đầu triều thời vua Tự Đức, tiếp tục áp dụng chiến thuật chống Pháp“chiến-hòa -đàm”: vừa đánh vừa đàm vừa nổ lực canh tân đất nước sau  hòa ước 1862 nhượng 3 tỉnh miền Đông cho Pháp. Trần Tiễn Thành phải đối mặt với nhiều khó khăn như thiếu hụt ngân sách, yếu kém quân sự, lòng dân giao động vì nạn lương giáo xâu xé, thiên tai, nạn cường hào ác bá , nạn thổ phỉ…Thế cuộc mới này với đất nước đang lâm nguy vì yếu kém, lạc hậu về nhiều phương diện quốc phòng, kinh tế, xã hội…phải canh tân kíp thời như một nhu cầu thiết yếu hầu giữ vững thế nước.Triếu đình ‘chủ chiến’ trong thế yếu chỉ trông cậy vào cầu viện Trung Hoa (đang bi tám cường quốc xâm lăng) đưa đến việc mất nước nhanh chóng. Phái chủ hòa tiêu cực chỉ đầu hàng làm tay sai thực dân Pháp.Chủ chiến chủ hòa đều không đắc nhân tâm, thiếu người lãnh đạo tài ba và thiếu lực lượng chính trị hậu thuẩn.
Ông có chủ trương khuyến khích xây dựng canh tân, thu thập đệ trình lên vua tất cả các bản điều trần của Đại thần Phạm Phú Thứ, giáo dân Nguyễn trường Tộ, nho sĩ Nguyễn Lộ Trạch… và cố gắng vận động triều đình trong hơn 20 năm cho đến khi bị thảm sát lúc 71 tuổi vì chống đối sự việc phế lập vua liên tiếp của các quyền thần đàn em (sự kiện 1883 Tứ Nguyệt Tam Vương) tạo nên tình trạng nhiểu nhương khi quân Pháp tấn công kinh thành Huế.Ông gặp phải một vua Tự Đức thiếu quyết đóan trong việc canh tân và một triều đình bảo thủ đến hủ bại, thiếu hiểu biết tình hình thế giới nên mọi chương trình duy tân đều không được thực hiện nghiêm chỉnh.
 

Miếu thờ Phụ chánh đại thần Trần Tiễn Thành tại làng Minh Hương, Thừa Thiên

 
Ông để lại tập thơ văn Ứng Chế Cấu Di Tập và đã mượn điễn cố Giả Nghị mà tâm sự qua bài thất ngôn “Hà phòng”:
Sinh dân hưu thích thuỷ cư đa.
Đan bệ trù duy tại thác hà.
Giả sớ thôi tham cầu thượng sách,
Hán đê lao cố hạn cuồng ba
Điền cư vỉnh bảo vô sào quật
Thâu lợi hành khan hữu mạch hóa
Thánh đức cần dân phù thịnh đế,
Cửu công thứ đệ phể ngu ca.
 
(Ngô thời Đôn dịch nghiã:
Lo phòng mặt sông
Đời sống người dân mừng vui, hay lo buồn phần nhiều là vì ở bên mặt nước
Ở bệ son, trù tính gì không ngoài việc đào sông
Sớ Giả Nghị đưa đến nhiều lần để tìm sách lược hay
 Đê nhà Hán có bền chặt mới chống nổi sóng cuồng
  Ở được yên, giữ mãi không cho xói mòn hoang lỗ
Thu được lợi, thì chờ xem luá má,
  Khó nhọc vì dân là đức của Thánh, là dấu hiệu triều vua thịnh
    Sự trì chí lo toan của trăm quan lớn nhỏ làm nên bài ca.
Bài nầy nói lên được tấm lòng vì dân vì nước cùng ước vọng tự lực tự cường để dân giàu nước mạnh và trung quân ái quốc trong việc canh tân đất nước.Với việc đề nghị nhà vua cho phép Nguyễn trưởng Tộ hướng dẫn một sồ sinh viên sang du hoc Pháp 1871 (việc bi bỏ vi Ông Tộ chết) và Nguyễn Lộ Trạch ra nước ngoài vào năm 1882 (nhưng bị từ chối), Trần tiễn Thành chủ trương du học chính trị, giáo dục, khoa học kỹ thuật tân tiến, mở rộng ngoại giao, nới rộng ngoại thương cùng lợi dụng sự mâu thuẫn giữa các nước tây phương đề bào vệ chủ quyển đất nước, khởi đầu cho phong trào Duy tân và Đông du sau này.
Sau những thất bại của phong trào văn thân cần vương chống Pháp bằng sự hy sinh cao cả và lòng yêu nước tuyệt vời, tư tưởng “trung quân ai quốc” đã được các nho sĩ đầu thế kỷ 20 chuyển sang “cứu quốc kiến quốc” bằng mọi phương tiện mọi hình thức kể cả cầu viện ngoại bang và chấp nhận nhiều khuynh hướng chính trị khác hẵn nhau.
 
 5. Nguyễn Lộ Trạch (1853-1898)
 
Người làng Kế Môn, xã Ðiền Môn, huyện Phong Ðiền, tỉnh Thừa Thiên Huế tự Hà Nhân, hiệu Kỳ Am xuất thân trong một gia đình khoa bảng, thân phụ là tuần phủ Nguyễn Thanh Uy, Tiến sĩ giữ chức Tổng đốc hàm Thượng thư, nhạc phụ là Tiến sĩ Phụ chính Đại thần Trần Tiễn Thành.Ông học rộng biết nhiều, ghét lối từ chương nên không đi thi, chỉ chú tâm vào con đường thực dụng.Ông thường giao du với những người có tư tưởng tiến bộ, chấp nhận cái mới, chịu ảnh hưởng chính trị của tân thư và của Nguyễn trường Tộ.
 
Năm 1877, nhân một kỳ thi Đình có đề ra nói về thời sự, ông ở ngoài làm bài và dâng một bản Thời vụ sách nêu lên những yêu cầu bức thiết của nước nhà nhưng không được chấp nhận. Năm 1882, Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ hai, ông lại dâng bản Thời vụ sách 2 gồm 5 điều cốt yếu để bảo vệ đất nước, trong đó có điểm dời đô về Thanh Hóa lấy chỗ hiểm yếu để giữ vững gốc nước. Triều đình Tự Đức vẫn không chấp nhận những ý kiến gan ruột của ông. Nguyễn Lộ Trạch đã đau đớn nhận rõ: “Đại thế ngày nay không còn là đại thế như ngày trước. Ngày trước còn có thể làm mà không làm, ngày nay muốn làm mà không còn thì giờ và làm không kịp…”. Thế mà Tự Đức vẫn thường trách là “ngôn hà quá cao” (nói sao quá cao), rồi đình việc cử ông sang Hương Cảng học cơ sảo.
Năm 1892 triều Thành Thái, nhân kỳ thi Đình có ra đề hỏi về “đại thế toàn cầu”,Ông lại dâng lên bản Thiên hạ đại thế luận (Bàn chuyện lớn trong thiên hạ), nhưng vẫn bị bỏ qua.
Tuy vậy bản Thiên hạ đại thế luận lại được sĩ phu và những người có tư tưởng cách tân nhiệt liệt hưởng ứng, bái phục tài năng xuất chúng của ông.Nguyễn Lộ Trạch được xem là nhà cách tân đất nước tiêu biểu của thế kỷ XIX. Năm 1895, Nguyễn Lộ Trạch vào Phan Thiết định cùng Trương Gia Mô xuất dương, nhưng kế hoạch không thành, ông đành trở về quê hương, khi đến Bình Định thì lâm bệnh chết và được an táng tại đây. Năm 1957 con cháu trong họ tộc Nguyễn Thanh mới cải táng đưa ông về quê nhà. Các chí sĩ trong phong trào Duy Tân như Phan bội Châu, Phan châu Trinh, Huỳnh thúc Kháng…,đều tiếc thương và cảm phục một tài năng.
Ngoài các tác phẩm như Thời vụ sách, Thiên hạ đại thế luận, Kế Môn dã thoại, Nguyễn Lộ Trạch còn để lại khá nhiều thơ, văn, trong đó có Quỳ Ưu tập (1884).
 
Bìa sách viết về Nguyễn trường Tộ và Nguyễn Lộ Trạch của cụ Minh Viên Huỳnh Thúc Kháng

Trong việc ôn cố tri tân, một quốc gia trong cơn biến động muốn cường thịnh phải nhờ vào chính sách nhân bản, hợp tình hợp lý, giới cầm quyền phải được lòng dân và vì dân, giữ được chủ quyền, thế độc lập và chấp nhận những kế sách của người tài giỏi có tâm huyết với đất nước, đừng để việc xãy ra như Nguyễn Lộ Trạch phải thở than trong bài “Thu Hoài-Bát Thủ”:
Phân phân thế cố thuộc tàn kỳ.
Thái tức hề kham Giả Phó bi.
 
 Dich nghiã:   Việc đời rối bời giống như cuộc cờ tàn
           Thở than sao chịu thấu nổi đau buồn của Giả Phó.
 
Hai câu thơ nói lên tâm trạng xót xa đau buồn của một trí thức có tâm huyết thấy trước được tai họa cho dân tộc đã cố găng tìm lối thoát bằng những điều trần tha thiết gởi lên người cầm quyền mà không được dùng.

BS Trần Tiễn Sum

California, tháng 8/2010
 
Tham khảo:
1. Wikipedia:
http://vi.wikipedia.org
2. Trang thơ Ngô Thì Nhậm, link:
http://www.thivien.net/viewauthor.php?ID=228
3. Thơ chữ Hán Nguyễn Du – Bắc Hành tạp lục, phần I, Trịnh Nguyễn Đàm Giang, 2003, link:

Click to access TNDG_bhtl_Part1_1114031.pdf


4. Trương Đăng Quế, Cuộc đời & Sự nghiệp, Nguyễn Văn Chừng et al, nxb Văn học, 2008.
5. Thái sư, Tuy Thạnh quận công Trương Đăng Quế.Trương Quang Cảm, 2009, link:
http://www.vanchuongviet.org/vietnamese/vanhoc_tacpham.asp?TPID=12710&LOAIID=32&LOAIREF=1&TGID=1872
6. Đại Nam thực lục chính biên, tập 7,8; link:
http://www.megaupload.com/?d=R19Z35S9
7. Bài học lịch sử: Trần Tiễn Thành, người khởi đầu phong trào duy tân đất nước. BS Trần Tiễn Sum, link:
http://www.khoahoc.net/baivo/trantiensum/130809-trantienthanh.htm
8. Nguyễn Lộ Trạch, Điều trần và thơ văn, Mai Cao Chương, Đoàn Lê Giang, nxb KHXH, 1995.
9.Cổ văn Trung Quốc.Nguyễn Hiến Lê (1965), nxb Xuan Thu tái bản
10.Lịch sử văn học Trung Quốc.1988.Tập một.Viện khoa học xã hội Trung Quốc.Bản dịch , nxb Giao duc Hanoi 1998

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s