BS Trần Mạnh Ngô – Trang Y Dược

Bệnh Rung Tâm Nhĩ Bs AV Mattioli và các cộng sự viên vừa tưòng trình nghiên cứu so sánh bệnh nhân bị rung tâm nhĩ ăn uống đồ ăn Địa Trung Hải và uống thuốc chống oxýt-hoá với những bệnh nhân rung tâm nhĩ ít uống thuốc chống oxýt hoà và ăn ít đồ ăn ĐịaTrung Hải. Kết quả tham khảo cho 800 người trong chương trình ăn uống kể trên, trong đó có 400 người mơí bị bệnh rung tâm nhĩ.
Kết quả cho thấy bệnh nhân bị rung tâm nhĩ tăng cao ở những người ăn uống đồ ăn Địa Trung Hải thấp hơn. Những người bị rung tâm nhĩ cũng là những người ít uống thuốc chống oxyt hoá hơn. Những bệnh nhân rung tâm nhĩ ăn uống đồ ăn Địa Trung Hải giảm xác suất bị chứng rung tâm nhĩ. Tăng thuốc uống chống oxýt hoá cũng giảm xác suất chứng rung tâm nhĩ. Bài đăng trong báo Nutrition, Metabolism & Cardiovascular Diseases, ngày 9 tháng 8, 2011.

Bệnh Tim: Rung tâm nhĩ
Bs Rachel R.A. Huxley và các cộng sự viên nghiên cứu liên hệ Tiểu Đường Loại 2 và bệnh rung tâm nhĩ. Bài đăng trong báo American Journal of Cardiology, 108: 56, 2011. Phân tích kết quả 108,703 bệnh nhân rung tâm nhĩ trong số 1,686,097 người nằm trong nghiên cứu này. Kết quả cho thấy bệnh nhân tiểu đường loại 2 tăng cao nguy cơ rung tâm nhĩ 40%. Kết quả cho thấy bệnh tiểu đường loại 2 liên hệ tăng cao nguy cơ rung tâm nhĩ, nhưng cũng cần thêm nghiên cứu để tìm hiểu liên hệ giữa bệnh tiểu đường loại 2, và bệnh rung tâm nhĩ.

Bs AM Chamberlain và các đồng nghiệp phổ biến kết quả nghiên cứu liên hệ bệnh rung tâm nhĩ và hút thuốc lá. Bài đăng trong báo Heart Rhythm, 8: 1160, 2011. Theo dõi nghiên cứu 876 bệnh nhân rung tâm nhĩ trong 13.1 năm. Kết quả cho biết nguy cơ rung tâm nhĩ tăng cao gấp 2 lần ở bệnh nhân hút thuốc lá. Ngoài ra nguy cơ rung tâm nhĩ dường như giảm thấp khi bệnh nhân đang hút thuốc lá nhưng đã giảm bỏ hút thuốc lá.

Rung tâm nhĩ là một loại tim đập thất nhịp. Thường tim đập nhanh. Tim đập hồi hộp và mệt mỏi kinh niên. Thường điện tâm đồ sai lạc hoạt động tâm nhĩ và đáp ứng tâm thất bất bình thường. Rung tâm nhĩ thường sẩy ra ở người lớn tuổi. 10% rung tâm nhĩ khi về già khoảng 80 tuổi. Rung tâm nhĩ thường thấy ở bệnh nhân bị phong thấp Rheumatic hay những loại bệnh van tim, tim nở lớn, tật bẩm sinh có lỗ thông tâm nhĩ (Atrial septal defect), cao huyết áp. Đôi khi rung tâm nhĩ thấy nơí bệnh nhân có vẻ không thấy gì là bệnh tim, nhưng khởi thủy do bệnh cường giáp trạng. Nhịp tim đập chậm, nhưng có khi tim đập rất nhanh.
Bác sĩ Trần mạnh Ngô

11.06.2011
Thuốc Zytiga trị ung thư nhiếp hộ tuyến thơì kỳ trầm trọng. Ngày 28 April 2011, FDA cho phép dùng thuốc mới Zytiga (Abiraterone acetate) điều trị ung thư nhiếp hộ tuyến (tuyến tiền liệt). Được phép dùng thuốc Zytiga phối hợp với loại steroid (Prednisone) trường hợp trước đây bệnh nhân đã phải mổ cắt bỏ nhiếp hộ tuyến và đã từng dùng hoá học trị liệu thuốc Docetaxel. Thuốc viên Zytiga khử một bạch đản (protein) tên là cytochrome P450 17A1 (CYP17A1). Chất bạch đản này đóng vai trò quan trọng trong việc sản xuất kích thích tố testosterone. Thuốc Zytiga khử Testosterone (là loại kích thích tố gây tế bào ung thư nhiếp hộ tuyến tăng trưởng). FDA cho phép dùng Zytiga dựa theo kết quả thử nghiệm cho 1,195 bệnh nhân bị ung thư nhiếp hộ tuyến không thuyên giảm sau khi đã giải phẫu cắt bỏ nhiếp hộ tuyến và đã được chữa bằng hoá học trị liệu với thuốc Docetaxel. Thử nghiệm bệnh nhân dùng Zytiga hỗn hợp với thuốc Prednisone. Bệnh nhân dùng Zytiga hỗn hợp với Prednisone có tỉ lệ sống lâu hơn (14.8 tháng) so với bệnh nhân chỉ uống Prednisone nhưng không uống Zytiga (10.9 tháng). Theo FDA thì Zytiga có những công phạt như khớp xương bị sưng và đau nhẹ khó chịu, mức Potassium hạ thấp trong máu, nước giữ làm sưng chân, đau bắp thịt, mặt nổi phừng, tiêu chảy, nhiễm trùng, ho, huyết áp tăng cao, nhịp tim đâp bất thường, đi tiểu đêm thường xuyên, khó chịu bao tử, ăn khó tiêu, và nhiễm trùng phần trên bộ máy hô hấp. Dùng thuốc Zytiga do bác sĩ chuyên niệu khoa (Urologist) hướng dẫn. Cần bàn luận với bác sĩ và cũng nên tìm hiểu thêm những lợi ích và công phạt của thuốc mới này trong FDA.com.

Tài chi và suy tim. Bs Gloria Y. Yeh và các cộng sự viên phổ biến kết quả nghiên cứu sơ khởi trong báo Archives of Internal Medicine, 171: 758, 2011, cho biết tập Tài Chi có thể giúp cơ thể con người tốt hơn, tính tình khá hơn và bệnh nhân suy tim khi tập thể dục sẽ khả quan hơn. Các chuyên gia khảo sát 100 bệnh nhân bị tâm thất suy tim. Chia làm 2 nhóm tập thể dục Tài Chi trong vòng 3 tháng so với nhóm bệnh nhân suy tim không tập Tài Chi. Tuy nhiên đây chỉ là kết quả khảo sát sơ khởi, cần nghiên cứu rộng rãi hơn để xác định vấn đề. Tài Chi là môn võ tự vệ của người Trung Hoa do Chiang Fah khởi xướng từ thế kỷ thứ 17. Sau đó môn võ thể dục này được thay đổi nhiều thể loại khác nhau và thể loại mới nhất gọi là Sun do Sun Lutang sáng tạo hồi thế kỷ thứ 20. Trong điện báo Harvard magazine tháng 2 và 3, 2010, có bài viết nói về Tài Chi và lợi ích của môn tập luyên này giúp giảm đau phong thấp khớp xương. Có người cho rằng Tài Chi là phối hợp của tập luyên Yoga và thiền.

Người lớn với bệnh cao mỡ
(hypertriglyceridemia). Bs JB Christian và các cộng sự viên nghiên cứu 5680 người lớn trên 20 tuổi Mỹ bị bệnh cao mỡ trầm trọng, từ 500 tới 2000 mg/dl. Kết quả cho thấy khoảng 1.7% người ở Mỹ bị loại bệnh này. Tỉ số bệnh nhân uống huống trị cao mỡ loại này thấp: 14% dùng thuốc statins và 4% dùng fibrates. Kết quả đăng trong báo American Jl of Cardiology, 107: 891, 2011. Một trong những nguy cơ bị mỡ cao (triglycerides) là viêm tuyến tụy tạng (pancreatitis), nhưng cơ nguyên sinh lý và bệnh lý học chưa được rõ ràng. Phần lớn các y sĩ điều trị cao mỡ trên mức 500 mg/dl. Phân tích tổng hợp 17 trường hợp nghiên cứu mỡ (triglycerides) cao tăng nguy cơ bệnh động mạch vành là 14% ở đàn ông và 37% ở đàn bà. Triglycerides cao trong máu cũng liên hệ hội chứng biến dưỡng (metabolic syndrome). Khoảng 25% người Mỹ bị chứng bệnh này. (Medical Diagnosis and treatment, 2010).

15.04.2011
Chảy Máu Bao Tử
Bệnh nhân là một đàn ông 75 tuổi, có tiểu sử phong thấp thoái hoá khớp xương đã từng uống Ecotrin và Naprosyn. Bệnh nhân nói bị đi cầu phân đen hơn 10 lần hôm qua, trước khi nhập viện. Bệnh nhân được đưa tơí phòng cấp cứu và nơi đây cho biết bệnh nhân có vẻ xanh xao như mất máu.
Trước đây, bệnh nhân chưa bao giờ có tiểu sử chảy máu đường tiêu hoá. Bệnh nhân chưa bao giớ bị ói ra máu hay bị đau bụng. Chưa bao giờ có tiểu sử bị công phạt vì bất cứ thuốc gì đã từng uống trước đây. Bệnh nhân có tiểu sử cao huyết áp, cao mỡ, loãng xương, và sưng nhiếp hộ tuyến. Chưa bao giờ giải phẫu trước đây. Ngoài thuốc Naprosyn và Ecotrin, bệnh nhân còn uống những thuốc trị cao huyết áp, trị sưng nhiếp hộ tuyến, và loãng xương. Không hút thuốc lá, không uống rượu. Không có tiểu sử gia đình đáng lưu ý. Tiểu sử bệnh lý không có triệu chứng nhức đầu hay mắt nhìn một thành hai. Không có tiểu sử bệnh tim phổi như khó thở hay đau ngực. Không có tiểu sử tai biến mạch máu não.
Khám bệnh thấy bệnh nhân không ở trong tình trạng cấp cứu. Nhịp tim: 102/phút. Nhiệt độ 97F. Huyết áp 127/89. Nhịp hô hấp 20/phút. Không thấy đau đớn chỗ nào. Khám mắt thấy vàng tròng mắt. Mồm và cổ họng không thấy gì. Phổi nghe và khám không thấy gì. Tim đập đều và đúng nhịp. Khám bụng mềm, không thấy đau, không báng nước, cơ quan trong bụng như gan hay lá lách không lớn. Khám hậu môn thấy có máu đen. Khám chân tay không bị chứng hình thùy, không bị chứng xanh tím, không phù thũng. Không bị thần kinh tê liệt. Kết quả thử nghiệm thấy BUN 62, creatinine 0.9, glucose 120, bạch huyết cầu (white count) 13,000, hemoglobin 9, hematocrit 27.6, AST 15, ALT 14, alkaline phosphatase 49, PT 13.4, và PTT 27.6.
Assessment: Chảy máu phần trên của bộ phận tiêu hoá (Upper gastrointestinal bleed), có lẽ do lở loét bao tử sau khi uống thuốc loại Nonsteroid. Bệnh nhân được chuyền Protonix qua gân máu. Bác sĩ chuyên khoa nội soi bao tử, nội soi tá tràng thấy bệnh nhân bị viêm tá tràng và chảy máu nhiều từ đường dẫn trong tá tràng. Bác sĩ chuyên khoa chích 4cc epinephrine vào đáy vết lở, rồi đốt bằng BICAP probe. Máu ngưng chảy sau khi điều trị. Bệnh nhân được chuyền 2 đơn vị máu (2 units of pack cell transfusion).
Ba (3) ngày sau, bác sĩ chuyên khoa nội soi bao tử lại và thấy không còn chảy máu từ tá tràng. Chỗ duonenal bulb có vết lở nhỏ, đáy mầu trắng, không chảy máu. Soi khám phần thứ 2 của tá tràng thấy bình thường. Bệnh nhân đươc xuất viện. Khuyên bệnh nhân nên tránh không tiếp tục dùng những thuốc như Ecotrin, hay thuốc Nonsteroid nào khác. Bệnh nhân uống Omeprazole 40mg ngày một viên, Carafate 1 gam, ngày 2 lần. Tạm ngưng thuốc trị cao huyết áp nhưng nếu khi về nhà đo áp xuất máu thấy cao thì uống thuốc hạ huyết áp trở lại.
Mỗi năm ở Hoa Kỳ có khoảng 250 ngàn người bị chảy máu phần trên bộ phận tiêu hoá (upper gastrointestinal bleeding). Khoảng 4-10% bị tử vong. Khoảng phân nửa bệnh nhân là những người già trên 60 tuổi. Tuổi càng cao thì tỉ số tử vong càng cao. Phần lớn tử vong là do chảy mất máu chứ không phải do biến chứng. Phần lớn do ói ra máu hay chảy máu phân đen. Chảy máu ruột bao tử là một loại bệnh cần điều trị khẩn cấp và bắt buộc phải nội soi.
Những nguyên nhân gây chảy máu bao tử:. Lở loét bao tử. Tổng số gây tử vong 4%. Ở Hoa Kỳ, tỉ số tử vong thấp hơn vì một phần ngày nay có thể nạn nhiễm H. Pylori giảm thấp, bệnh nhân được dùng thuốc ANSAIDs an toàn hơn, và bác sĩ cho bệnh nhân dùng thuốc PPIs thường xuyên hơn để phòng ngừa nguy cơ chảy máu bao tử cao. Tăng cao huyết áp cửa (portal hypertension) gây chảy máy phần trên ruột bao tử, 10-20%. Tĩnh mạch ống thực quản giãn gây chảy máu nhiều hơn. Chảy máu do tĩnh mạch giãn ở bao tử hay tá tràng, hay do tăng huyết áp cửa ở bệnh bao tử. Khoảng 25% bệnh nhân bị xơ gan gây giãn tĩnh mạch ống thực quản. Tử vong do điều trị y tế khá hơn ở Mỹ, giảm tử vong từ 40% xuống 15% trong vòng 20 năm qua. Tuy nhiên, chảy máu phần trên ống thực quản tái phát hay do những biến chứng bệnh gan gây tử vong từ 60-80% trong vòng 1 tới 4 năm sau. Bệnh rách vùng giữa bao tử và ống thực quản (Mallory-Weiss tears) gây chảy máu phần trên bộ phận tiêu hoá (5-10%). Những bệnh do dị tật mạch máu bộ phận tiêu hoá cũng có thể gây chảy máy ruột và bao tử kinh niên hay cấp tính. Bệnh bướu bao tử gây chảy máu phần trên ống thực quản (1%). Viêm bao tử ăn mòn (erosive gastritis) đôi cũng khi gây chảy máu trầm trọng (chiếm gần 5%) do thuốc ANSAIDs, rượu, hay những bệnh nội thương hoặc giải phẫu (liên hệ màng nhày). Chảy máu phần trên ống thực quản có thể do lở loét viêm ống thực quản do đồ ăn dội ngược bao tử thực quản kinh niên (chronic gastroesophageal reflux). (Current Medical Diagnosis & Treatment, 2010). Bệnh nhân cần được các bác sĩ chuyên khoa bao tử và đường ruột chữa trị.

03.04.2011

Di thể LGR5 với nguy cơ ung thư ruột già và hậu môn. Thử nghiệm trước đây cho biết LGR5 là một dấu ấn sinh học trong ruột của chuột. Trong báo Anticancer Research, November 2011, Kayoko Takeda và các cộng sự viên đã thử nghiệm ruột bệnh nhân khuyến cáo di thể LGR5 dương tính trong các tế bào tuyến nang thấp (lower crypts), đóng vai trò quan trọng trong việc bành trướng diễn biến ung thư ruột già và hậu môn. Di thể LGR5 được viết tắt bởi những chữ Leucine-rich repeat-containing G-protein coupled receptor 5. Trước đây, LGR5 đã được thấy trong các nang lông chuột có tiềm ẩn tái phát mọc lông chuột. Dấu ấn sinh học LGR5 cũng thấy trong tế bào nội mô ruột. Trong một bài nghiên cứu khác do Van ES JH và các đồng nghiệp đăng trong báo Nature, 449: 1003, 2007, cũng cho biết đã nhận diên được tế bào gốc trong ruột già và ruột non bằng dấu ấn di thể LGR5. Trước đây di thể LGR5 còn có tên là G protein-coupled receptor 49.
Ung thư ruột già và hậu môn phần lớn thuộc loại adenocarcinomas. Khoảng 50% ung thư ruột già nằm phía bên trái ruột già và vùng trực tràng-sigma. Phần lớn ung thư ruột già khởi đầu từ diễn biến u tuyến (adenoma). Khi u bướu tuyến lớn khoảng 1 phân (cm), có nhung mao (villus), hay u bướu biến thành dysplasia (dị sản), tăng cao nguy cơ ung thư. Khoảng 85% ung thư ruột già và ruột sigmoid, bị mất chức năng của một hay nhiều di thể (tumor suppression genes) như p53, APC, hay DCC. Khoảng 15% ung thư ruột già và sigmoid bị tình trạng trật so nghiệm di thể đôi DNA (Mismatch repair genes) (Current Medical Diagnosis & treatment, 2010).

Dấu Ấn Sinh Học ALDH1B1 và Ung Thư Ruột Già. Giáo sư Tiến sĩ Vasilis Vasiliou thuộc Trung Tâm Ung Thư Đại Học Colorado vừa xuất bản trong báo Biochemical and Biophysical Research Communications, ngày 7 tháng January, 2011, tường trình tìm hiểu phân hoá tố (enzymes) đặc biệt ALDH1B1, thuộc loại Aldehyde dehydrogenases, đóng vai trò quan trọng biến dưỡng thuốc men, bệnh biến dưỡng (metabolic diseases), tế bào ung thư, hoặc những tế bào gốc. Bài này cũng vừa được trình bày tại Hội Nghị Human Genome, tuần qua tháng 3, 2011. Thử nghiệm 40 bệnh nhân ung thư ruột già cho thấy 39 bệnh nhân có phân hoá tố ALDH1B1. Theo Gs Valisou thì nhóm nghiên cứu của ông muốn tìm hiểu xem phân hoá tố ALDH1B1 có tạo ra được những độc tố có khả năng tiêu diệt tế bào ung thư.

Người Già Thiếu Máu. Ăn uống thiếu thốn gây bệnh thiếu máu khi phụ nữ hết kinh. Ts Cynthia A.Thompson và các cộng sự viên tường trình kết quả nghiên cứu phổ biến trong báo Journal of the American Dietetic Association tháng Tư 2011. Theo các tác giả thì ăn uống thiếu thốn có thể là nguyên nhân chính gây bệnh thiếu máu khi phụ nữ về già mất đường kinh. Mặc dù có uống những chất bổ xung như kim loại hay sinh tố cũng khó thay đổi tỉ lê phụ nữ thiếu máu khi về già. Cần biết thêm tỉ lệ tử vong liên hệ bệnh thiếu máu, đặc biệt thiếu chất sắt, liên hệ khả năng hoạt động, té ngã hay phải nằm bệnh viên, khi về già. Kết quả dựa theo nghiên cứu hơn 82 ngàn phụ nữ. Theo các tác giả thì bài này lưu ý phụ nữ thiếu máu trong thời điểm hết đường kinh, khi về già, nên đặc biệt lưu ý dinh dưỡng ăn uống đầy đủ những đồ ăn chứa chất sắt, sinh tố B12, và folic acid. Theo tài liệu từ National Anemia Action thì thiếu máu tùy thuộc tuổi tác, đàn ông hay đàn bà, và tình trạng sức khỏe tổng quát. Khoảng 10-11% người già trên 65 tuổi bị thiếu máu. Khoảng 50% người già nằm trong viện dưỡng lão cũng bị thiếu máu.
Người lớn tuổi thiếu máu có nhiều lý do: Trước hết, người già thiếu máu vì thiếu chất sắt do cơ thể bị mất máu. Thường do lở loét bao tử, mạch máu bất bình thường, hay ung thư ruột già. Trong trường hợp hiếm thấy hơn do cơ thể không hấp thụ được chất sắt đầy đủ. Người già thiếu máu có thể do bị bệnh viêm kinh niên, bị nhiễm trùng kinh niên hay bệnh thận. Thí dụ như bệnh phong thấp rhreumatoid, ung thư, hay bệnh thận kinh niên. Khoảng 20-36% người già bị thiếu máu nhưng không rõ nguyên nhân vì sao, đó là loại bệnh người già thiếu máu, không thể giải thích được.
Người già thiếu máu không chữa sẽ bị đi đứng mất thăng bằng, không thể đi bộ xa được, dễ bị té ngã, bị bệnh tim, ưu trầm, mất trí nhớ, và không tập trung trí óc được. Người già thiếu máu có đời sống ngắn ngủi hơn, và nếu bị thêm bệnh thận, tiểu đường, hay suy thận, sẽ có tỉ lệ tử vong cao hơn. Nếu muốn biết có bị bệnh thiếu máu thì phải gặp bác sĩ của mình để đo lượng hemoglobin hay hematocrit. Khi người bệnh bị thiếu máu trung bình hay trầm trọng có thể cảm thấy mệt mỏi, yếu đuối, da xanh xao, đau ngực, chóng mặt, mình mẩy bứt rứt, lạnh chân tay, khó thở, tim đâp nhanh, và nhức đầu. Có người tưởng nhầm rằng khi về già bị thiếu máu là chuyện thường, nhưng không đúng. Cần phải uống thuốc điều trị nguyên nhân thiếu máu. Trong trường hợp bệnh nặng phải chuyền máu. Chữa thiếu máu do thận suy hay ung thư. Tăng sản xuất hồng huyết cầu trong tủy xương bằng erythropoietin. Vậy, nói chung, cần gặp bác sĩ để chẩn bệnh và điều trị kịp thời.

Tin Mới Y Khoa

Alendronate và bệnh rung tâm nhĩ. Thuốc Alendronate và bệnh loãng xương Osteosporosis. Bs E. Barrett-Connor và các cộng sự viên khảo sát 41 cuộc nghiên cứu khác nhau bao gồm 9,518 bệnh nhân uống thuốc Alendronate và 7,773 người không uống Alendronate. Kết quả từ hãng thuốc Merck cho biết Alendronate dường như không có công phạt như tăng cao nguy cơ bệnh rung tâm nhĩ (Atrial fibrillation), một bệnh tim thường thấy ở những người lớn tuổi. Bài đăng trong báo Osteosporosis International ngày 15 tháng 3, 2011. (Alendronate hay Alendronic acid là loại thuốc biphosphonate dùng điều trị và phòng ngừa bệnh loãng xương).

Điều trị bệnh cao huyết áp và Suy Tim trong bệnh cao huyết áp. Bs Sebastiano Sciarretta và các cộng sự viên công báo kết quả khảo sát điều trị cao huyết áp cho 223,313 bệnh nhân. Kết quả đăng trong báo Arch Intern Med, 171: 384, 2011 cho biết thuốc lợi tiểu là thuốc hiệu nghiệm nhất trong việc điều trị bệnh suy tim. Tiếp theo là những thuốc loại ACE inhibitors (Angiotensin-converting enzyme inhibitors).
Theo các tác giả thì đây có thể là những loại thuốc hàng đầu trị cao máu, trong việc phòng ngừa suy tim bệnh nhân bị bệnh cao máu. Cũng theo các tác giả thì những thuốc khác thuộc loại Calcium channel blockers và beta- blockers ít hiệu quả hơn trong việc phòng ngừa suy tim.

Liên hệ chứng bệnh nghẹt thở (sleep-disordered breathing) khi ngủ và bệnh tim mạch (Incident cardiovascular disease). Bs Hassan A. Chami và các đồng nghiệp phổ biến kết quả khảo sát đăng trong báo Circulation ngày 14 tháng 3, 2011. Kết quả dựa theo khảo sát 2,721 bệnh nhân theo dõi đo 2 lần biểu đồ khi ngủ (polysomnograms) trong vòng 5 năm. Theo các tác giả thì đối với những người tuổi trung niên hay những người già, nguy cơ bệnh tim mạch liên hệ bệnh ngủ có vẻ trầm trọng hơn, sau khi nghiên cứu theo dõi trong vòng 5 năm.

Đàn ông hói đầu và nguy cơ ung thư nhiếp hộ tuyến. Bs M. Yassa và các đồng nghiệp phổ biến kết quả nghiên cứu cho đàn ông bị bệnh hói đầu với nguy cơ ung thư nhiếp hộ tuyến. Bài này trong báo Annals of Oncology ngày 15 tháng 2, 2011. Theo các tác giả thì kích thích tố Androgens đóng vai trò quan trọng trong chứng rụng tóc của đàn ông, chứng bệnh làm cho hói đầu và nguy cơ ung thư nhiếp hộ tuyến (tiền liệt). Khảo sát 699 người trong đó có 388 bệnh nhân bị ung thư nhiếp hộ tuyến và 281 người không bị ung thư nhiếp hộ tuyến. Theo các tác giả thì có liên hệ giữa chứng sớm bị hói đầu và nguy cơ ung thư nhiếp hộ tuyến đàn ông. Vần đề đặt ra là cần tìm hiểu liệu xem liệu y khoa có nên truy tầm ung thư nhiếp hộ tuyến định kỳ, đo những chất kìm hãm 5-alpha reductase, để sớm truy tầm ung thư nhiếp hộ tuyến cho đàn ông khi sớm bị bệnh rụng tóc, hói đầu.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s