Trần Viết Điền – VỀ NHỮNG NĂM TÂN MÃO TRONG SỬ VIỆT (phần II)

)4/Tân Mão 1411, năm nhà Minh giả nhân giả nghĩa để lung lạc quân dân kháng chiến Hậu Trần.
Sau đại thắng Bô Cô lừng lẫy, ngày 14 tháng 12 năm Mậu Tí (1408), vua tôi Hậu Trần mất đoàn kết đến nỗi Giản Định Đế Trần Ngỗi giết Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân vào tháng 2 năm Kỷ Sửu (1409), khiến cuộc khởi nghĩa Hậu Trần bị khủng hoảng nội bộ. Hai người con kiệt hiệt, của hai đại thần chết oan, là Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị phải ly khai, đón rước Trần Quí Khoáng lên ngôi vua, lấy niên hiệu Trùng Quang vào ngày 17 tháng 3 năm Kỷ Sửu (1409) ở Chi La (Đức Thọ, Hà Tĩnh). Từ đây đã bắt đầu sự rạn nứt trong ban lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Hậu Trần.
       Tranh vẽ anh hùng Đặng Dung mài gươm dưới trăng (nguồn NV)         
Năm Canh Dần (1410), mặc dầu Trùng Quang Đế đánh thắng một số trận lớn nhỏ, giết nhiều quân Minh, đốt gần ngàn thuyền giặc, hào kiệt nổi dậy nhiều nơi, làm quân Minh khiếp sợ…nhưng « vì hiệu lệnh không thống nhất, quân đội không chỉ huy chung, nên sau đều tan vỡ cả ». Trùng Quang Đế phải về cố thủ ở Nghệ An.
Năm Tân Mão (1411) là năm đen tối của Đại Việt, Trùng Quang Đế gần như thúc thủ ở Nghệ An, vì nhà Minh đã tiến hành một chính sách rất mị dân và có hiệu quả.
Hoàng Phúc của quân xâm lược Minh là tay cáo già, làm ra vẻ y chỉ là một sứ giả của thiên triều, qua An Nam giúp « ổn định tình hình » mà thôi ! Bằng chứng y thay mặt vua Minh, trao chức quyền cho các thổ hào, giao đất đai và dân để họ trở thành thổ quan. Chính sách thâm độc bản chất là chính sách « lấy người Việt trị người Việt » đó thôi ! Thật vậy, đem lợi lộc để phủ dụ những người Việt có tài nhưng bất đức, đặt lợi nhà trên lợi nước, chỉ biết vinh thân phì gia mà chẳng cần quốc thể, lấy Nho giáo làm chỗ dựa, coi thiên triều Minh là tối thượng còn bộ tham mưu của Trùng Quang đế của Đại Việt là đám giặc gây rối, cam tâm nhận chức tước của nhà Minh và hưởng bổng lộc bằng lúa gạo do đồng bào mình tốn mồ hôi, nước mắt để làm ra, trên những tấc đất thắm máu anh hùng liệt sĩ bao đời. Còn vua nhà Minh ra dụ với lời đường mật, không phải ai cũng sáng suốt nhận ra. Tháng 2 năm Tân Mão (1411), Mình Thành Tổ xuống chiếu ân xá, giả nhân giả nghĩa, đại lược : « Giao chỉ đã thuộc về Chức phương (thuộc đồ bản nhà Minh) mà liền mấy năm chưa được yên nghỉ. Nghĩ thương dân ấy sau cơn khốn khổ, đặc cách ban ân khoan thứ, xót thương, ngõ hầu khiến cho triệu dân đều được thấm nhuần đức trạch ».

Tranh vẽ Minh Thành Tổ

 
Cuộc kháng chiến hậu Trần chỉ mới 5 năm nhưng quá nhiều mất mát đau thương, người chết kẻ bị thương, bữa đói bữa no, bỏ nhà bỏ cửa,…nên một bộ phận kháng chiến không khỏi sờn lòng. Huống chi nghe lời chiếu đầy « nhân nghĩa », của Minh Thành Tổ giả dối, không ít người ra hàng quân xâm lược để cầu an hưởng lợi. Minh Thành Tổ qua bài chiếu như hiện thân của con trời, đầy lòng nhân hậu, biết bao dung,…, ông ta giấu móng vuốt của loài cáo trong cái bao tay nhung, chìa ra vỗ về quân dân kháng chiến hậu Trần. Hình ảnh Minh Thành Tổ nhân từ (khác Đế Ngỗi, Đế Khoáng,vua nước Nam hay chém giết quân lính, tướng phản trắc và đồng bào lầm lỡ hoặc bị hàm oan) đang ngấm dần vào tâm khảm của một bộ phận người Việt. Minh Thành Tổ nắm được nhược điểm của Trùng Quang Đế để « mưu phạt tâm công », lung lạc lòng người Việt nhẹ dạ. Ừ thì vua nào cũng là con trời, xuống trần để chăm sóc dân mà thôi, không bắt tội, cho ruộng để cày, dưới sự chỉ huy của các quan người Việt …có mất nước đâu. Minh Thành Tổ ban dụ : « Người Giao Chỉ đều là dân của trời, đã vỗ về chúng, thì chúng là con đỏ của trẫm. Chúng nhất thời đi theo bọn giặc, nghe nói bị giết, trẫm thực thương xót trong lòng, sao lại nỡ để chúng như vậy ? ». Con cáo già đang hát ru bầy gà nháo nhác, đang mất hướng về chuồng, bằng lời ru của mẹ ru con ! Ôi, cáo già Minh Thành Tổ quả là vị « thiên tử sáng suốt », một « minh quân » của đám dân đen trở thành con đỏ của y. Trên danh nghĩa, các vua đầu triều Trần như Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông cũng từng nhận sắc phong An Nam Quốc Vương của thiên triều đó thôi. Con cáo già, giả nhân giả nghĩa, hiểu rõ dân tình nước Việt hơn cha mẹ hiểu con khi viết những lời dụ toát lên sự cảm thông những dân Việt lỡ theo Trùng Quang Đế : « Vả lại, chỉ bọn gây tội ác , còn trăm họ nơi bãi biển, hang núi, bị chúng cưỡng bức, uy hiếp, hoặc giúp chúng lương thực, hoặc bị chúng đem theo làm giặc ở các nơi, đều là bất đắc dĩ, bị chúng làm cho lầm lỡ chứ không phải do bản tâm. Nếu biết hối hận sửa bỏ, đều cho được đổi mới ».  Dân Việt phần lớn là nông dân, an phận sau lũy tre bụi chuối, mà các quan sở tại vẫn là người Việt nên không ít người nhẹ dạ, bị « sa bẫy » của loài nhện độc. Không những ân xá, Minh Thành Tổ còn tạo cơ hội cho những quân dân lầm lỡ theo kháng chiến khi dụ : « Làm ác chỉ có mấy đứa, trăm họ không có tội gì. Trong đó, người nào hiên ngang dũng cảm, có kiến thức, có thể bắt được mấy đứa kia đem dâng thì nhất định sẽ ban cho quan to, tước cao. Còn bọn làm ác, nếu biết tẩy rửa tâm trí, đổi lỗi sửa mình, thì chẳng những được khoan tha tội lỗi, lại còn chắc chắn được làm quan vinh hiển nữa ». Đám nho sĩ, theo học thuyết Khổng Mạnh, trong cơn mê « đại đồng », vẫn thấy mình làm đúng đạo thánh hiền, khi phục tùng thiên triều mà đứng đầu là Minh Thành Tổ. Vừa không trái với đạo trời, vừa làm thổ quan với bổng lộc dồi dào…nên không thiếu người tài hưởng ứng và nối gót Hồ Nguyên Trừng. Quả Minh Thành Tổ có tài dụ dỗ, khi trọng dụng Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng, con trai của ông thượng hoàng Hồ Quí Ly bị bức tử và anh ruột của ông vua nước Nam Hồ Hán Thương bị nhà Minh giết hại. Và « ăn cơm chúa múa tối ngày », bọn « mãi quốc cầu vinh » cũng có thực tài và được sự cổ võ, khích lệ, ban thưởng kịp thời qua sắc chỉ của vua triều Minh : « Các ngươi tài năng khôi kiệt, tư chất đôn hậu, sáng suốt nhìn xa, trước đă thành tâm gắng sức, tận trung với triều đình, nghĩ tới công lao của các ngươi, đặc ân thăng cho chức vụ vinh hiển. Nay nghe các ngươi biết làm tròn chức vụ, dốc sức lập công, bắt giết bọn giặc phản nghịch, giữ vững đất đai, nghĩ đến lòng trung thành ấy, xiết nỗi vui mừng khen ngợi. Hiện nay, bọn giặc còn sót chưa dẹp yên hết, các ngươi hãy lập thêm nhiều công, ra sức quét sạch bọn chúng để tiếp nối công tích trước đây. Ta đặc cách sai người sang ủy lạo ban thưởng. Các ngươi hãy kính cẩn phục tùng mệnh lệnh ân sủng này ».
Nếu Minh Thành Tổ thực tâm với họ Trần, với Đại Việt, không có dã tâm chiếm đoạt Đại Việt, muốn yên dân cả hai nước, thì chấp nhận ý cầu phong của Trùng Quang Đế. Minh Thành Tổ đã quyết nuốt chững Đại Việt nên từng bắt giam rồi giết chánh phó sứ Nguyễn Nhật Tư (Hành khiển), Lê Ngân (Thẩm hình) khi đoàn sử giả theo lệnh của Trùng Quang Đế sang cầu phong. Một bậc trí thức người Minh, Tham Nghị Giải Tấn, tiến sĩ cập đệ, bổ Hàn lâm học sĩ, nhìn xa trông rộng, biết nhà Minh không thể cưỡng chiếm Đại Việt, dâng sớ trái ý vua Minh, nên bị đày qua làm tham nghị ở Đại Việt (đã bị chiếm). Quan tham nghị Giải Tấn dâng sớ lên vua Minh Thành Tổ, đại ý : « Giao Chỉ chia đặt quận huyện không bằng để nguyên như cũ, phong tước chia đất cho các thổ hào để họ sát hại lẫn nhau, dẫu có cái được không bù được những cái mất, cái lợi không chữa được cái hại ». Minh Thành Tổ đã giết chết Giải Tấn vì y đã phóng lao rồi ! Thật vậy, khi đoàn quân chinh Nam sắp qua xâm lược Đại Việt, Thành Tổ ra lệnh cho tướng Chu Năng: « Một khi binh lính vào nước Nam, trừ sách vở của đạo Phật và đạo Lão, còn thì mọi sách vở, văn tự, cả những dân ca, sách dạy trẻ…đều phải đốt hết, một mảnh, một chữ cũng không chừa. Những bia nào Trung Hoa xây dựng từ trước thì đều giữ gìn cẩn thận, còn các bia do An Nam dựng thì phá hủy cho hết… »
 

Dẫu chính sách mị dân có bài bản, diệu kế « lấy người Việt cai trị người Việt » để che giấu bản chất xâm lược, chia rẽ khối đoàn kết dân tộc Việt, nhưng triều Minh làm sao che mắt vị anh hùng Lê Lợi, đang nghiền ngẫm binh thư, lại càng không thể lung lạc ý chí sắt đá cùng với trí tuệ tuyệt vời của vị Thái học sinh (Tiến sĩ) triều Trần Nguyễn Trãi. Những ngày ngồi viết Bình Ngô Sách, Nguyễn Trãi đã vào tuổi 32, từng thấy sức mạnh quật khởi của dân tộc qua đại thắng Bô Cô, thấy được bài học quân thần đầy bi kịch của Giản Định Đế- Đặng Tất, thấy được sự dao động « tư tưởng » của vua quan nhà Minh xâm lược…Lịch sử là như thế, kết cục là như thế, những ngày ngồi viết Bình Ngô Sách chắc là Nguyễn Trãi ngộ rằng : Lê Lợi quả có con mắt tinh đời sẽ dùng mình như một vị quân sư và bản thân Nguyễn Trãi cũng biết coi tổ quốc trên hết, khi toàn tâm toàn ý với hai chữ « vi thần » để vào Lam Sơn tụ nghĩa.

5/Tân Mão 1471, vua Lê Thánh Tông ở thành Hóa Châu trong cuộc thân chinh.
Thời thuộc Minh, thành Hóa châu là nơi đặt bản doanh của cuộc khởi nghĩa Hậu Trần với những người con kiệt hiệt Trần Ngỗi, Trần Quí Khoáng, Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân, Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị, …Rồi bộ tham mưu của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn cũng từng coi Hóa Châu như một chỗ dựa, của đòn bẫy mạnh , cùng cả nước tiến ra Đông Quan, bứng sạch bọn xâm lược Minh ra khỏi bờ cõi Đại Việt. Và chỉ hơn nửa thế kỷ sau, thành Hóa Châu, vào năm Tân Mão 1471, lại là nơi vua Lê Thánh Tông đóng quân, chuẩn bị lương thảo, thao luyện quân sĩ, nắm bắt tình hình địch, rồi sớm đưa đại quân tiến đánh Chiêm Thành. Chiến dịch lớn này nhằm tiêu trừ những âm mưu, thủ đoạn tàn độc của nước một nước ở phương Nam, dựa vào thiên triều phương Bắc để xâm lấn Đại Việt.

Bản đồ khu vực di tích thành Hóa Châu. Ảnh chụp vệ tinh khu vực thành Hóa Châu

Thời vua Lê Thánh Tông trị vì, trước năm 1471, Hóa Châu là vùng phên giậu phương Nam của Đại Việt, hứng chịu nhiều cuộc xâm lược của quân xâm lược Chiêm Thành, có « hậu thuẫn ngầm » của vua Hiến Tông triều Minh. Thật vậy, mỗi lần xâm lược Đại Việt (không chỉ dừng lại ở mức cướp phá), Trà Toàn đều cử sứ giả sang « xin chỉ dụ » của vua Minh. Khi vua Lê Thánh Tông quyết định thân chinh để trả đũa sự gây hấn của Chiêm Thành, triệt bỏ những mầm mống chiến tranh đến từ phương Nam, nhà vua cũng không quên cử đoàn sứ giả sang triều Minh để nói rõ lý do, nhằm tránh bị áp lực từ phương Bắc.
Vua Lê tấu cáo ở Thái miếu, tấu sớ có đoạn : « Thần là kẻ ít tuổi bất tài, vào nối nghiệp lớn, chỉ mong yên dân giữ nước đâu dám dùng nhảm việc binh. Chỉ vì giặc Chiêm Thành ngu xuẩn, nó điên cuồng nhòm ngó nước ta. Không sợ trời tạm bợ cho qua ; với nước ta nó gây thù địch. Trước thì đánh cướp châu Hóa để hòng chiếm đoạt đất đai, sau lại sang báo triều Minh, âm mưu diệt hết tông miếu. Là phường cha chó mẹ lợn ; làm việc cướp nước, giết vua bạo nghịch. Để vỗ cho Thi Nại béo no ; nó dao thớt cắt xẻo Tượng Quận. Chứa ác ngập trời, làm hại khắp cõi… » . Sanh sự thì sự sanh, gieo gió phải gặt bão. Nước Chiêm Thành, đứng đầu là vua Trà Toàn, rất thâm độc khi cử sứ giả qua triều Minh, nói xấu Đại Việt, thậm chí kích động triều Minh đem quân hỏi tội nước ta, để Đại Việt phải « lưỡng đầu thọ địch », muốn nước ta lâm vào trạng huống xưa, đó là cuộc xâm lược Đại Việt của liên minh Tống-Chiêm-Chân Lạp 1076.
Trong chiếu thân chinh, vua Lê Thánh Tông ban năm Canh Dần (1470), có đoạn : « Rồi như bầy cáo xiểm nịnh với Yên Kinh, ton hót để gièm pha người khác, định như giống tằm ăn lấn ra Tượng Quận, tính toan đâm trước mặt sau lưng. Mong cột đồng dựng ở Hoành Sơn, để quân Hán xuống đến Bặc Đạo. Rêu rao tố bậy, gièm nhảm chẳng chừa. Lại vu cáo ta điều động binh sĩ muôn người, sắp thôn tính cõi bờ triều Bắc, lại bảo ta như hai mặt trời cùng mọc, tự tôn là hoàng đế nước Nam, bảo là ta cướp mất lễ cống ngọc vàng, bảo là ta tranh mất giống voi cái trắng… »
 
Ảnh chụp vệ tinh khu vực có thành Đồ Bàn ở Bình Định

 
Trà Toàn đối nội đã xằng bậy mà đối với Đại Việt lại coi thường, thậm chí rất hỗn xược với các tiên đế triều Lê. Thật vậy, trong chiếu thân chinh, vua Lê Thánh Tông đã kể tội Trà Toàn : « Khi Nhân Miếu (Lê Nhân Tông) lên ngôi cả, thì giống nòi chúng đã rất đông.Nương chốn Cổ Lũy như hang cầy, cậy thành Chà Bàn như tổ kiến. Điên cuồng mất trí, nó xưng bừa là cha chú, gọi đức vua ta là cháu con ; mất đức ra oai, lại nhận bừa là Trời Phật, coi nước Việt ta là tôi tớ. Tội ác chất chồng, giấu sao cho nổi ?Những lời lăng nhục không thể nêu tường… ». Đã thế Trà Toàn chọc giận Đại Việt vào năm Canh Dần (1470). Năm ấy, vào tháng ba, thừa cơ vua Lê Thánh Tông bận thân chinh dẹp giặc Bồn Man, quân Chiêm dùng thuyền vượt biển vào cướp phá Hóa Châu. Nghiêm trọng nhất là vào tháng 8, đích thân vua Chiêm là Bàn La Trà Toàn chỉ huy đại quân xâm lược Đại Việt. Đại Việt sử ký toàn thư chép : « Tháng 8 ( Canh Dần, 1470), quốc vương Chiêm Thành Bàn La Trà Toàn thân hành đem hơn mười vạn quân thủy bộ cùng voi ngựa đánh úp châu Hóa. Tướng trấn giữ biên thùy ở châu Hóa là bọn Phạm Văn Hiển đánh không nổi, phải dồn cả dân vào thành, rồi cho chạy thư cáo cấp. »(s.đ.d tr.441).
Ảnh chụp vệ tinh thủy lộ ở Hóa Châu, nơi thao luyện thủy quân của đoàn quân thân chinh của vua Lê Thánh Tông.

Năm Tân Mão 1471, cả nước như mở hội, thanh niên tòng quân, theo vua xuôi Nam. Riêng dân Hóa Châu hừng hực khí thế. Qua rồi những ngày chiến đấu cô lẻ, tan cửa nát nhà vì quân Chiêm xâm lược, phải vào thành Hóa Châu để sống và chiến đấu, trong vòng vây lớp lớp của giặc, mà vua ta ở xa ngàn dặm. Giờ đây, có vua với muôn đội hùng binh thao luyện mỗi ngày, phá Tam Giang dậy sóng, nhà nhà nô nức sản xuất để làm thêm lúa gạo, người lo bứt cỏ, người vót tre làm tên, … Tất cả đều lo cho chiến dịch lớn. Thật và vui, khi một cô gái làng Hòa Duân lại lọt mắt xanh vị vua tài hoa Lê Thánh Tông. Thế là có đám cưới, một cuộc rước linh đình từ cửa Nhuyễn (cửa Thuận An) theo phá Tam Giang, vào sông Phú Xuân (sông Hương) rồi theo sông con vào thành Hóa Châu. Cuộc hôn nhân làm vua Lê rất gần dân, quân và dân như cá với nước, và Hóa Châu ngày ngày như lễ hội. Thành Hóa Châu phấp phới cờ bay, từ vua chí dân muôn vạn tấm lòng vì sự vững bền của đất nước.
   
6/Tân Mão 1771, chúa Nguyễn tái chiếm thành trấn Hà Tiên từ quân xâm lược Xiêm
 
 Dân của thành trấn Hà Tiên trong những ngày tháng 7 Tân Mão 1771 rất hoang mang khi họ chứng kiến điềm lạ, khi nhìn về phương Nam thấy hai cầu vồng đỏ giao nhau rồi hóa ra hình chữ thập. Lại trước lầu Bắc Đế có đống cát cao hơn một trượng, bỗng bị lốc xoáy tung lên giữa lưng trời, trong thành mờ mịt, một chốc đám cát ấy rơi xuống đất tạo thành hình chữ thập. Người ta đồn đoán khoảng tháng 10 thành trấn Hà Tiên sẽ bị mất vào tay giặc. Thật kỳ lạ, đúng tháng 10 năm Tân Mão, quân xâm lược Xiêm La, dưới sự chỉ huy của Phi nhã (Phya) đất Mang Tát là Trịnh Quốc Anh, dùng thuyền chiến sang vây đánh thành trấn Hà Tiên. Quan Tổng binh là Mạc Thiên Tứ giữ thành không nổi phải bỏ thành chạy…Không ngờ triệu chứng bất tường ấy lại báo hiệu ngày sụp đổ của tập đoàn phong kiến xuống dốc ở đô thành Phú Xuân.
 
Thật ra, trấn Hà Tiên những năm tháng ấy là nơi lưu vong của một hoàng tử nước Xiêm, có tên là Chiêu Thúy. Năm 1767, quân Miến Điện xâm chiếm Xiêm La bắt được vua Xiêm là Phong vương (Boromoraya V) và con là Chiêu Đốc, thiêu hủy thành Ayutthaya, nhưng sau đó phải rút về vì Miến Điện bị Trung Hoa tấn công. Hai người con của Phong vương là Chiêu Xỉ Khang chạy thoát sang Chân Lạp và Chiêu Thúy sang Hà Tiên lánh nạn. Chiêu Thúy từng được linh mục Bá Đa Lộc che chở ở Hòn Đất và được Tổng binh Mạc Thiên Tứ dung dưỡng, có lúc vị hoàng tử này phải vào hang sinh sống; hang này về sau có chùa Hang nổi tiếng của đất Hà Tiên. Đây là hang động thiên nhiên trong ngọn núi đá vôi bị xâm thực cách đây trên vạn năm. Trong hang có nhiều thạch nhũ với nhiều hình tượng lạ mắt, kỳ vĩ. Chùa Hang nằm trong đó. Chùa có nhiều pho tượng Phật, đặc biệt có 2 pho tượng Phật Thích Ca đã an vị hơn 300 năm.
 
  Địa danh Hòn Đất, nơi từng cưu mang hoàng tử Chiêu Thúy,
con vua Boromoraya V của Xiêm La
Khi vương triều Phong vương bị sụp đổ, một tướng Xiêm là Trịnh Quốc Anh, khởi binh chống lại quân Miến rồi tự xưng vương năm 1768. Trịnh Quốc Anh (Taksin) tổ chức lại lực lượng, chiêu mộ rất nhiều hải tặc gốc Hoa đang hoạt động trong Vịnh Thái Lan để tăng cường lực lượng. Trịnh Quốc Anh sinh tại Ayutthaya , được đặt tên là Tín. Cha ông Trịnh Dong, người gốc Hoa xuất thân tại Triều Châu, mẹ ông là người Thái tên là Nok-lang. Lúc lên 7, ông bắt đầu được giáo dưỡng ở một ngôi chùa Phật Giáo. Sau 7 năm học, cha ông gửi đi làm tiểu đồng hoàng gia. Theo truyền thuyết, khi ông và bạn là Tong-Duang còn niên thiếu , họ đã gặp một ông thầy bói người Hoa xem tướng, nói cả hai có chỉ tay may mắn và cả hai sẽ trở thành vua. Quả thật Tong-Duang sau này là vua Rama I kế vị của vua Taksin.
        
 Tranh vẽ vua Taksin, hiện được trưng bày ở Bảo tàng Quốc gia Roma.
  Những người Hoa lang bạt kỳ hồ, có người lo buôn bán làm ăn, có người khai hoang lập ấp, nhưng có người trở thành cướp biển. Nếu ở Xiêm La có Trịnh Quốc Anh (Phi nhã Tân) dung túng bọn vong mạng này thì ở Đàng Trong anh em nhà Tây Sơn cũng từng dùng bọn này trong một số giai đoạn nhất định. Xuất thân là cướp biển nên chúng thường hay phản trắc. Những ngày bi đát của thành trần Hà Tiên có góp phần của hải tặc. Năm 1769, quân Khmer dưới sự chỉ đạo của một cướp biển người Triều Châu, tên Trần Liên, đổ bộ lên cướp phá Hòn Đất, rồi kết hợp với hai gia nhân của Mạc Thiên Tứ (Mạc Sung và Mạc Khoán), tiến đánh Hà Tiên. Hai gia nhân làm phản và một số lớn cướp biển Khmer bị Thiên Tứ giết chết, Trần Liên thoát được chạy sang Xiêm La tị nạn. Lợi dụng cơ hội này Mạc Thiên Tứ chuẩn bị đưa hoàng tử Chiêu Thúy về Xiêm La đoạt lại ngôi báu. Ông cho luyện tập binh mã rồi mang quân ra chiếm lại Hòn Đất (1770) và chuẩn bị tiến công Xiêm La.
Công việc đang tiến hành thì vào đầu năm 1771, một cận thần của Mạc Thiên Tứ, tên Phạm Lam, nổi lên làm phản. Phạm Lam kết hợp với hai cướp biển Trần Thái (Vinhly Malu, người Mã Lai) và Hoắc Nhiên (Hoc Nha Ku, người Khmer) lập đảng gồm 800 người và 15 tàu thuyền tiến vào Hà Tiên nhưng bị Mạc Thiên Tứ đánh bại.

Ảnh chụp vệ tinh quần đảo Hải Tặc, nơi trú ngụ của những kẻ vong mạng.
 
Giữa năm 1771, nhận thấy những đám cướp biển không đánh lại Mạc Thiên Tứ, Trịnh Quốc Anh dùng Trần Liên làm hướng đạo, đích thân chỉ huy đạo quân 20.000 người tiến chiếm Hà Tiên.  Tháng 9, Phi nhã Tân thấy Chiêu Thúy hiện đang ở Hà Tiên, lo rằng việc ấy là hậu họa,  vừa mới phá giặc ở Lục Côn (thuộc nước Miến Điện) y điều 2 vạn lính thủy lục, dùng tên cướp Trần Thái ở núi Bạch Mã làm người dẫn đường. Ngày mùng 3 tháng 10, chúng tiến đến Hà Tiên, vây chặt trấn thành (thành có 3 mặt chắn bằng ván gỗ, không phải xây bằng đất đá). Lúc ấy quân giữ Hà Tiên rất ít ỏi, nên họ phải đóng chặt cửa thành để chống cự, mặt khác lo cấp báo với đồn dinh Long Hồ. Thủy quân của Xiêm chiếm được núi Tô Châu rồi dùng súng lớn bắn vào thành, tình thế rất nguy cấp.

 Núi Tô Châu ở Hà Tiên, nơi quân Xiêm La chiếm và bắn đại bác vào trấn    thành Hà Tiên năm Tân Mão 1771
 
Đêm mồng 10, kho thuốc súng ở núi Ngũ Hổ bốc cháy khiến cả thành đều chấn động. Ngũ Hổ sơn ở về phía bắc trấn thủ chừng nửa dặm. Thế núi vai khum, đầu cúi, giống như cọp co mình tựa vào góc gò, là dãy núi hộ vệ cho trấn thành, đây là vị trí trọng yếu về mặt quân sự.

                     Non nước Hà Tiên
 
 Qua đêm 13, quân Xiêm từ cửa sau của thành, phá cửa xông vào phóng lửa đốt dinh, ánh lửa rực cả núi rừng. Quân Xiêm trong ngoài giáp công, chúng vừa đánh trống vừa hò reo huyên náo, tiếng súng đại bác vang như sấm.
 Mạc Thiên Tứ thân dẫn quân đánh với chúng trên đường phố, một lúc sau, quân dân trong thành tan vỡ chạy tán loạn, qua canh ba thành vỡ, Mạc Thiên Tứ quyết tử chiến với địch thì Cai đội Đức Nghiệp hầu đến ôm nách đưa Mạc Thiên tứ lên thuyền rồi chèo theo đường sông hướng về Giang Thành (tên một thủ sở) mà chạy. Hiệp trấn Mạc Tử Hoàng, Thắng Thủy hầu Mạc Tử Thảng và Tham tướng Mạc Tử Dung đem thủy quân phá vòng vây rồi theo đường biển chạy xuống Kiên Giang, sau đó qua Trấn Giang đóng lại.
           
Sông Giang Thành, có thủ sở, nơi những ngày Mạc Thiên Tứ lui binh,
khi bị vua Xiêm Trịnh Quốc Anh đánh bật khỏi trấn thành Hà Tiên
Ngày 15, thuyền của Mạc Thiên Tứ đến Châu Đốc, tướng Xiêm là Trần Liên (vốn người Triều Châu), làm mưu sĩ cho cho Trịnh Quốc Anh , truy binh đuổi theo, Mạc Thiên Tứ sai Cai đội Đồ Bà (Chà Và) là Sa ra chặn đánh nhưng cũng thua. Cai đội Sa, tuy bị nhiều vết đạn, vết đâm nhưng không chết bèn rút ra đạo Tân Châu ở Tiền Giang. Trịnh Quốc Anh thiêu rụi thành phố, chiếm tất cả các đảo lớn nhỏ quanh Hà Tiên, mang về rất nhiều vàng bạc. Con cháu, hầu thiếp và người con gái út của Mạc Thiên Tứ bị Trịnh Quốc Anh bắt sống đem về Vọng Các. Mạc Thiên Tứ cùng các con trai phải rút về Rạch Giá, cho người về Gia Định cầu cứu chúa Nguyễn.
              
 Tượng Mạc Cửu
 Tân Mão 2011, nhớ lại những ngày tháng năm Tân Mão [1771], khi  trấn thành Hà Tiên thất thủ và tiền nhân đã lao tâm khổ tứ, tốn công mất của, không tiếc máu xương để tái chiếm miền biên viễn của tổ quốc…lòng thấy phấn khích. Vùng biển Hà Tiên nằm trong vịnh Thái Lan, vùng hoạt động của hải tặc, gần như “vô chính phủ” một thời. Thế nhưng, nhờ có Mạc Cửu, Mạc Thiên Tứ chiêu dân lập ấp, dưới sự bảo trợ của các chúa Nguyễn Đàng Trong, biến một vùng đất hoang vu, chỉ thích hợp cho bọn cướp biển, nơi hang ổ của lục lâm thảo khấu, trở thành nơi sầm uất, giao thương trên bộ dưới thuyền, cư dân Việt, Hoa, Khờ me sống hòa hợp nhau, tự do tín ngưỡng…biến trấn Hà Tiên thành một trung tâm văn hóa, thương mại của Nam Bộ. Với đạo lý uống nước nhớ nguồn, nhà nước cùng với nhân dân tỉnh Kiên Giang  dựng tượng ngài “khai canh” Mạc Cửu, vị tổng trấn Hà Tiên của “ Thuận Quảng đẳng xứ”, tức Đàng Trong, của một thời mở cõi của Đại Việt.   
 Lịch sử là dòng chảy liên tục, thịnh suy là lẽ thường tình, cắt đọan một cách nghiêm ngặt theo từng “thời điểm Tân Mão” để viết lịch sử thì e rằng không nói hết công lao to lớn của tổ tiên suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước. Thế nhưng, cách làm có tính “khiên cưỡng” ấy, vẫn có mặt tích cực dưới góc độ “lịch sử-thống kê”. Tại sao ? Chỉ cần sáu sự kiện của sáu năm Tân Mão nêu trên cũng đủ phác thảo bức tranh toàn cảnh về lịch sử nước Việt, lịch sử của dân tộc Việt anh hùng, bất khuất, chịu thương chịu khó…luôn đánh thắng, hóa giải những tham vọng điên cuồng, những mưu mô giảo quyệt của những tập đoàn phong kiến phương Bắc, phương Nam, phương Tây-Nam. Họ luôn huy động vật lực, tài lực, trí lực của những nước lớn, thường xuyên tổ chức những liên minh xâm lược Đại Việt, nhằm đưa Đại Việt trở thành quận huyện của họ nhưng Đại Việt đã bẻ gãy ý đồ tàn độc ấy một cách mưu lược. Với sáu sự kiện xảy ra trong sáu năm Tân Mão của lịch sử hàng ngàn năm của nước Việt cũng đủ làm rõ những nhân vật chính tà, những anh hùng tiết tháo và tiểu nhân mãi quốc cầu vinh, những trí thức lòng trong dạ sáng và những người học cao nhưng “mù-hèn”, những minh quân có lòng nhân và những hoàng đế cuồng tham tàn độc, những tôi hiền vì nước vì dân và những tôi ác giá áo túi cơm, những con dân kiên cường và những người dân cầu an…xuất hiện một cách sinh động và tất cả đã làm sáng tỏ chân lý mà anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi từng đúc kết: “đại nghĩa thắng hung tàn”. Những mưu đồ đen tối nhằm phá vỡ nền độc lập tự chủ của nước Việt tất yếu “thủ bại hư”.

Huế, 10-3-Tân Mão
Trần Viết Điền

Đã đăng:
VỀ NHỮNG NĂM TÂN MÃO TRONG SỬ VIỆT (phần I)

® Phải có sự đồng ý của tác giả cũng như ghi rõ nguồn khi bạn phát hành lại thông tin từ website này

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s