Trần Viết Điền – VỀ NHỮNG NĂM TÂN MÃO TRONG SỬ VIỆT (phần I)

           Tính từ năm Tân Mão 931 cho  đến năm Tân Mão 2011, có khoảng 34 hoa giáp, mỗi hoa giáp kéo dài 60 năm. Như thế có khoảng 34 năm Tân Mão trong lịch sử nước Việt, thuộc thời kỳ thoát khỏi ách Bắc thuộc và có nền độc lập kéo dài.  Độc lập tự chủ nhưng biến cố « Năm Tân Mão nước Việt phải đối phó với mưu đồ của phong kiến phương Bắc,  cấu kết với phong kiến phương nam và tây nam nước Việt, nhằm đưa nước Việt trở thành quận huyện của Tàu » thường xảy ra với một xác suất không nhỏ !   Có 34 năm Tân Mão mà hết 6 năm Tân Mão xảy ra biến cố vừa nêu, đủ thấy   nước Việt phải chịu đựng áp lực vô cùng  lớn của nước làng giềng phương Bắc, đất rộng, người đông, mưu sâu kế ác vô cùng ! Nhưng bao lớp con dân nước Việt đã dựng nước và giữ nước bằng xương máu, mồ hôi, nước mắt với ngọn lửa bất khuất không bao giờ tắt.
Dẫu rằng những sự kiện lịch sử  xảy ra vào năm Tân Mão đã có chính sử ghi chép, nhưng thử thống kê, thu thập một số sự kiện tiêu biểu của những năm Tân Mão trong sử Việt để đại chúng hóa là việc cần làm, không ngoài mục đích góp vào ngọn lửa miên tục, bất khuất, của bao   thế hệ người Việt đã chịu thương, chịu khó, chịu hy sinh mạng sống để giữ nền độc lập tự chủ và quốc thống nước nhà.
   Sau đây là sáu sự kiện lịch sử đồng nhất với biến cố nêu trên :

 1/Tân Mão 931, nước Việt quyết giương cao ngọn cờ độc lập :    
Khát vọng đất nước độc lập tự chủ không bao giờ nguôi trong lòng dân Việt suốt thời Bắc thuộc. Dẫu tập đoàn phong kiến phương Bắc rất tàn độc, luôn luôn tìm cách phá đổ nền độc lập tự chủ đất nước ta, nhưng lớp lớp con dân nước Việt, liên tục quật khởi, quyết giương cao ngọn cờ độc lập, với niềm tin quốc thống trường tồn.  Năm Tân Mão 931, anh hùng dân tộc Dương Diên Nghệ đã làm nên lịch sử độc lập tự chủ cho nước nhà, dù chỉ 6 năm, nhưng đủ cho dân Việt tự tin, quyết tâm thoát khỏi gông cùm nghiệt ngã của nhà Nam Tống ; tạo tiền đề cho Ngô Quyền đại thắng Bạch Đằng Giang, giữ vững nền độc lập của nước Việt .
 Dương Diên Nghệ là một hào trưởng, quê quán làng Ràng, nay là Dương Xá, huyện Thiệu Yên, tỉnh Thanh Hóa. Làng Ràng nằm phía hữu ngạn sông Mã, gần nơi sông Chu hoà nước vào sông Mã, gọi là Ngã Ba Đầu. Đây là một trong những làng cổ hội tụ nhiều nét văn hoá truyền thống, vừa mang nét chung của làng cổ truyền thống Việt Nam, vừa có nét riêng của làng cổ vùng châu thổ sông Mã.
Làng Ràng về mặt phong thủy, là cát địa, nằm về phía hạ lưu sông Mã, thủy tụ và thủy giải hài hòa. Chỉ cần xem ảnh chụp vệ tinh thì thấy cồn giữa sông và con đê chia đôi làng,  biết sự tụ tán khá đặc biệt của một vùng đắc địa. Nơi đây đã chung đúc người anh hùng Dương Diên Nghệ, một người văn võ toàn tài, từng là bộ tướng của Khúc Hạo [907-917]. Khúc Hạo mất năm 917, con là Khúc Thừa Mỹ kế thế, Dương Diên  Nghệ vẫn là bộ tướng của Khúc Thừa Mỹ [917 – 930 ]. Năm 930 nhà Nam Hán đã xua quân sang xâm lược nước Việt, lúc bấy giờ gọi là Tĩnh Hải quận, bắt Tiết độ sứ Khúc Thừa Mỹ, đánh chiếm thành Đại La và cử Lý Tiến làm thứ sử.

Tượng thờ anh hùng Dương Diên Nghệ

Dương Diên Nghệ từng tập hợp hơn 3.000 “con nuôi” làm vây cánh tại lò võ ở làng Ràng, Tư Phố, dùng Ngô Quyền, Đinh Công Trứ (thân sinh của Đinh Bộ Lĩnh), Kiều Công Tiễn… làm nha tướng. Nhằm lung lạc Dương Diên Nghệ, vua Hán là Lưu Cung, sai sứ giả sang phong ông làm Thứ sử Ái Châu. Tương kế tựu kế, Dương Diên Nghệ giả vờ nhận chức để dễ bề phát triển lực lượng, chờ cơ hội đánh đuổi bọn xâm lược. Nhưng không lâu, mùa Xuân Tân Mão[931] Dương Diên  Nghệ từ Ái châu, đưa tinh binh ra Đại La thành, đánh đuổi thứ sử Lý Tiến của nước Nam Hán. Lý Tiến bỏ chạy, Dương Diên Nghệ lấy thành Đại La như lấy đồ trong túi. Vua Nam Hán Lưu Cung vội sai tướng Trần Bảo mang quân sang tiếp viện. Dương Diên  Nghệ chủ động mở cửa thành nghênh địch, không cần dùng kỳ binh, ông dễ dàng lấy đầu Trần Bảo,  tiêu diệt viện binh Nam Hán. Sau chiến thắng vang dội, Dương Diên Nghệ tự phong mình là Tiết Độ Sứ, làm chủ Tĩnh Hãi quận; tuyên bố độc lập   nước Việt độc lập. Một biến cố  không may cho dân tộc Việt, vào tháng 4 năm 937, Kiều Công Tiễn, hào trưởng Phong Châu, một tướng dưới quyền Dương Diên Nghệ, đã giết hại Tiết độ sứ để cướp quyền. Tuy nhiên, người con rễ kiệt hiệt của Dương Diên Nghệ là Ngô Quyền đã đưa quân Ái Châu ra thành Đại La trừ diệt tên bội phản đê mạt Kiều Công Tiễn, và nối bước Dương Diên Nghệ một cách xuất sắc.
Chiến thắng oanh liệt Đại La, vào mùa xuân Tân Mão [931] đã tạo đòn bẫy  cần thiết để dân tộc ta vượt qua gông cùm  Bắc thuộc, bước vào thời kỳ phục hưng quốc thống.  Chiến công của Dương Diên  Nghệ là cơ sở để sau này Ngô Quyền lập nên chiến công hiển hách: đánh tan quân xâm lược Nam Hán trên sông Bạch Đằng vào năm 938. Tại làng Dương Xá, Dương Diên  Nghệ đã trở thành ông Tổ của họ Dương và là vị anh hùng của nước Việt. Khi mất ông được tôn làm Phúc thần. Tưởng nhớ công lao của ông, nhân dân đã lập đền thờ hương khói quanh năm. Câu đối ở đền thờ đã ca ngợi chí khí, oai danh lừng lẫy của ông: “Dưỡng tam thiên nghĩa tử dĩ phục thù đằng đằng sát khí. Chưởng bát vạn hùng sư nhi xuất chiến lẫm lẫm uy danh”. (Nuôi ba vạn con nuôi khí mạnh vô cùng. Cầm tám vạn quân ra trận oai danh lừng lẫy). Một số nhà sử học khi nghiên cứu về Hoàng thành Thăng Long đã có cơ sở khoa học khi khẳng định Dương Diên Nghệ là một trong những người có công phục hồi, xây dựng, mở rộng thành Đại La, về sau  trở thành kinh đô Thăng Long vào thế kỷ thứ X.
 
2/Tân Mão 1171,  vua Lý Anh Tông quyết tâm giũ vững lãnh thổ Đại Việt.
    Vua Lý Anh Tông lên ngôi khi mới 3 tuổi, trị vì trong 38 năm, nhưng chỉ có thực quyền trên dưới 20 năm cuối đời. Vua trẻ chưa trưởng thành, việc triều chính thuộc về Lê thái hậu và Thái úy nhiếp chính Đỗ Anh Vũ, nên việc nội trị không tốt vào thời trị vì ban  đầu của nhà vua, thậm chí để tiếng xấu muôn đời. Tuy nhiên khi vua đã trưởng thành, vào tuổi hai mươi, dựa vào Thái Phó bình chương quân quốc trọng sự Tô Hiến Thành, dần dần lấy lại quyền lực từ Lê thái hậu, đã tỏ rõ là một vị vua sáng mà Thái úy Tô Hiến Thành là một bậc tôi hiền.
Tượng thờ vua Lý Anh Tông

 
Điểm nổi bật của vua Lý Anh Tông là biết chăm lo củng cố và phát triển quân đội, cắt đặt tướng tá thường xuyên đi tuần biên giới. Dẫu sao Đại Việt cũng ở sát nước Tống, nước lớn không nguôi dã tâm đưa nước Việt vào đồ bản, nước Chiêm Thành phương Nam cũng thường xuyên quấy nhiễu và Chân Lạp cũng không ngớt lăm le xâm lược. Ngoài ra nhà vua cũng coi trọng văn hóa giáo dục và xă hội, chú trong giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc khi các vua tiền triều dần dần có xu hướng sùng Nho.
Năm Tân Mão 1171, nhìn chung đất nước thanh bình, nhưng vua Lý Anh Tông không vì thế mà lơ là việc phòng bị, biết củng cố việc nội trị và lo sự nghiệp giáo dục quần chúng. Năm Tân Mão 1171 nhà vua đã làm một số việc sau đây, chứng tỏ sự sáng suốt của vị vua thứ 6 của triều Lý :
Dựng đền thờ thần Hậu Thổ :
          Dẫu vua Lý Anh Tông vẫn cho dựng chùa, đúc chuông thờ Phật, củng cố Văn miếu Thăng Long, dựng miếu thờ Khổng Tử nhưng nhà vua không quên việc xiển dương tín ngưỡng thờ các vị thần thuầnViệt, trong đó có thần Hậu Thổ.
 Thần Hậu Thổ xuất hiện trong cuộc thân chinh của vua Lý Thánh Tông, giúp nhà vua đánh thắng Chiêm Thành. Khi trở lại kinh sư, vua Lý Thánh Tông cho dựng đền thờ thần Hậu Thổ. Đến năm Tân Mão (1171) vua Lý Anh Tông lập thêm miếu thờ thần Hậu Thổ để có nơi cầu đảo, với niềm mong thần hồ trì cho Đại Việt. Ý nghĩa sâu xa của việc dựng miếu thờ thần Hậu Thổ là giáo dục quần chúng ý thức độc lập tự chủ của nước nhà. Dựng miếu Văn Tuyên Vương, thờ Khổng Tử như thánh nhưng là thánh ngoại lai, vì thế phải dựng miếu thần Hậu Thổ để thờ nữ thần thuần túy nước Nam vậy, nhằm « quân bình tư tưởng » trong khi du nhập tinh hoa tư tưởng ngoại lai, tránh lai căng và đó là « tôn chỉ của Trúc Lâm tông chỉ » về sau.
Trước Đình Ứng Thiên

 
Nhà vua tự thân đi tuần các hải đảo :                                
Thời vua Lý Cao Tông của Đại Việt ứng với hai triều vua nhu nhược của triều Nam Tống nên Đại Việt không phải lo mặt Bắc. Chiêm Thành ở phương Nam, đế quốc Chân Lạp ở phương Tây Nam đang thời kỳ phục hưng, rất mạnh về thủy quân, thường hay cướp phá và xâm lược Đại Việt vì vậy vua Lý Anh Tông rất chăm lo việc võ bị, thường xuyên đôn đốc các võ tướng rèn tập binh thư…Năm Tân Mão (1171) nhà vua trực tiếp đi tuần hành biên giới, nhất là đi kiểm tra sự phòng thủ các hải đảo. Sự kiện này là một điểm son của triều Lý Anh Tông. Nhà vua với vị cố vấn Tô Hiến Thành rất quan tâm bảo vệ không những đất liền mà cả những vùng biển của tổ quốc. Đến thời Lý Anh Tông, ranh giới của Đại Việt về phía Nam có thể đến sông Bến Hải (vĩ tuyến 17)…
       Nhà vua vi hành xem xét đời sống của dân chúng.
Lo phòng thủ bên ngoài mà không an dân thì không củng cố được khối đại đoàn kết dân tộc. Mà muốn đoàn kết thì phải tạo công bằng xã hội . Năm Tân Mão 1171, vua Lý Anh Tông vi hành đến các địa phương để thăm dân, nghe dân thán oán nhằm trừng trị những tham quan ô lại, tiêu trừ nạn cường hào. Chính những con sâu độc quan tham, cường hào là nguyên nhân của sự mất đoàn kết, dẫn đến mất nước.
Tượng thờ Tô Hiến Thành

                                              
Tân Mão (2011), hoài niệm cha ông, muôn nỗi cảm hoài. Vua sáng thì tôi hiền, đó là mối quan hệ hữu cơ thường thể hiện mọi thời. Vua Lý Anh  Tông là vị vua sáng suốt khi dùng bề tôi giỏi như Tô Hiến Thành. Vị cố vấn Tô Hiến Thành phò vị vua sáng nên đem hết tài năng đức độ ra thi thố. Tuy nhiên, lẽ thịnh suy là thường tình, khi những vì sao đã tắt, tất yếu bóng đêm lại loang chiếm.Tội cho nhân dân Đại Việt, phải chìm đắm trong những năm tháng tối tăm của thời mạt Lý với các vua tối Lý Cao Tông, Lý Huệ Tông. Thời kỳ đầu vua Lý Anh Tông còn nhỏ tuổi, là vua tối, nên xuất hiện tôi ác như Thái Úy Đỗ Anh Vũ, tôi tham Đái Vũ.

  3/ Tân Mão 1291, vua Trần Nhân Tông quyết thắng trên mặt trận ngoại giao
Ba lần xâm lược Đại Việt đều bị thất bại, nhà Nguyên vẫn chưa nguôi mối hận, mà cũng chưa hết tham vọng đưa Đại Việt vào đồ bản của đế quốc Nguyên Mông. Hốt Tất Liệt cho người đưa chiếu dụ sang Đại Việt nhằm đe nẹt vua Trần Nhân Tông, yêu cầu vua Trần sang kinh đô của nhà Nguyên chầu hầu. Lời chiếu dụ cho Thế Tử nhà Trần trong năm Tân Mão [1291] : « Các vị tổ tông ta đã quy định rằng : phàm các nước quy phụ, nước nào thân hành tới chầu thì nhân dân được an cư lạc nghiệp như thường ; còn nước nào kháng cự không phục tùng, thì bị tiêu diệt, điều ấy khanh đă biết rồi. Cho nên ta sai sứ thần qua mời thân sinh khanh qua chầu, rút cuộc không vâng lời, chỉ cho ông chú qua thay mặt chầu triều. Vì thân sinh khanh không vào chầu, nên ta phong cho người chú làm An Nam Quốc Vương và sai sứ thần là Bất Nhãn Thiết Mộc Nhĩ đưa về nước. Ông thân khanh lại giết người chú và đuổi sứ thần của ta, đến nỗi ta phải dấy binh qua đánh để hỏi tội, nhân dân của khanh bị chém giết thật nhiều mà quân ta cũng có tổn hại. Lúc đó Trấn Nam Vương Thoát Hoan còn trẻ tuổi, do đường biển tiến binh, lầm nghe theo Toa Đô và Ô Mã Nhi, nên rơi vào tay khanh, nhân đó khanh mới được tạm yên đến nay. Khanh như biết thân hành sang chầu triều, thì những phù ấn về tước vua, ta sẽ cho cả không tiếc gì, đất đai và nhân dân ngõ hầu được bão tồn vĩnh viễn »(Lê Tắc, An Nam Chí Lược, NXBTH,Huế, 2001).
Các vị tổ tông của Hốt Tất Liệt quy định như trên, đã chứng thực trên nhiều nước từ Á sang Âu, nhưng không thể hiện thực ở Đại Việt, đó là sự thật lịch sử ! Quy định ấy không khả thi ở Đại Việt, bằng chứng hãn Mông Kha (anh ruột của Hốt Tất Liệt, trị vì đế quốc Mông Cổ từ 1251 đến 1259) từng sai tướng Ngột Lương Hợp Thai đem quân xâm lược Đại Việt vào năm 1258. Vua Trần Thái Tông, thân cầm quân cùng với Lê Tần (Lê Phụ Trần), Hà Bổng…đã đánh thắng quân Nguyên, quét sạch quân xâm lược ra khỏi bờ cõi Đại Việt trong năm 1258. Mông Kha chết năm 1259, em là Hốt Tất Liệt vừa kế tục, tiếp tục tiến hành chiến tranh nhằm diệt nhà Nam Tống và xâm lược Đại Việt.

Tượng thờ vua Trần Thái Tông và vua Trần Thánh Tông

 Tranh vẽ Hãn Mông Kha  Sơ đồ hành binh của quân Nguyên và quân Đại Việt năm 1258
Tháng 8 , năm 1279, khi Nam Tống hoàn toàn bị Hốt Tất Liệt  thôn tính, Hốt Tất Liệt thành lập Đại Nguyên.Vua nhà Nguyên ra lệnh đóng thuyền chiến chuẩn bị đánh Đại Việt và Nhật Bản. Năm 1281, vua Nguyên yêu cầu vua Trần Thánh Tông qua  chầu. Lúc bấy giờ vua Trần Thánh Tông đã lên làm Thái Thượng Hoàng, đã từ chối và cử chú mình là Trần Di Ái sang thế. Trần Di Ái là con trai thứ tư của Tổ Trần Thừa và là em ruột của Trần Thái Tông, tức Hiển Tổ Thúc (ông nội chú) của vua Trần Nhân Tông.Vua Nguyên nhân cơ hội này phong Trần Di Ái làm An Nam quốc vương và gửi thư cho vua Trần thông báo việc lập Di Ái thay vua Trần. Mưu mô ấy hoàn toàn bị phá sản. Thượng Hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông, với sự phò tá hết mình của Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, …đã tổ chức, lãnh đạo hai cuộc kháng chiến lần II, lần III thành công rực rỡ, làm tan tành kế hoạch xâm lược Đại Việt của Hốt Tất Liệt.
  kháng Nguyên lần II      
   
Sau khi đưa quân sang “hỏi tội » Đại Việt không thành công, Hốt tất Liệt lại gửi chiếu dụ như trên. Biết các vua Nguyên đang dần dần chuyển biến từ võ trị sang văn trị nên vua Trần Nhân Tông   đã hết sức nhún mình, mưu phạt tâm công, đánh thức “ tính bổn thiện” trong vua quan của Thiên Triều Nguyên Mông . Tháng 3 năm 1292, Thiên sứ Trương Lập Đạo vào Thăng Long , vua Trần Nhân Tông và triều thần nghênh tiếp long trọng và nhà vua dâng biểu có đoạn :
“ Than ôi! Người ở thế gian mà được gặp mặt thánh nhân, sách Phật cho là đại phúc, sách Nho gọi là cuộc gặp gỡ trong khoảng ngàn năm mới có một lần. Tôi há không muốn xem cảnh phong quang của thượng quốc, gội ơn mưa móc của Thánh triều, dại gì trái ngược mệnh lệnh để mang họa?
Nhưng có mặt trời ở trên soi xét, lấy thương tình mà nói, chỉ vì tham sống sợ chết, mà đắc tội với Thánh triều. Chúng tôi ở góc biển chân trời, được sự che chở khoan dung là nhờ có bệ hạ soi sáng như mặt trời, mặt trăng, bao dung như trời cao, đất rộng, nếu không thì nghiêng hết nước biển cả bốn phương cũng không đủ rửa tội của tôi cho sạch.”. Chỉ một việc vua Trần không qua chầu Thiên triều là vì « tham sống sợ chết » mà triều Nguyên đã dụng binh, đốt nhà cửa, đào mồ mả tổ tiên nhà Trần, tàn hại hàng vạn sinh linh hai nước thì tự vua Nguyên phủ định những lời tán tụng của vua Trần, nghĩa là vua Nguyên không phải là Thánh nhân và tội của vua Nguyên mới không rửa sạch dẫu dùng hết nước biển bốn phương ! Tội “của tôi” hay tội “của ngài” ? Vua Trần nhún mình để yên dân, làm « hạ nhiệt » thói hung hãn và ngạo mạn của vị hậu duệ tham tàn của những đại hãn Mông Cổ khét tiếng.
Năm 1292, tháng 3 ngày mồng 3, có tiết hàn thực, vua Trần Nhân Tông đang để tang Thượng Hoàng Trần Thánh Tông, phát nguyện trường chay, giữ giớí, biếu Thiên sứ Trương Lập Đạo bánh xuân và tặng bài thơ:
“ Thôi múa cành dâu, thử áo xuân,
Ngày nay hàn thực lại đương tuần.
Mâm sơn hồng ngọc, bánh xuân thể.
Tục cũ An nam cứ mỗi lần.”
Múa cành dâu tức múa Đô Chi, một điệu múa xưa ở nước Trung Hoa . Có thể là vua Trần Nhân Tông cho rằng mình đang có tang nhưng vì đón Thiên sứ, tiếp chỉ của vua Nguyên nên phải “thử áo xuân”, tức mặc áo đại triều để tỏ sự trọng thị nước lớn. Nhưng ẩn ý của vua Trần Nhân Tông là nhắc khéo Trương Lập Đạo:  cha ông của ngài là dân nước Trung Hoa, ăn lộc nhà Tống , tức ngài là dân mất nước, lại mặc áo Thiên sứ nhà Nguyên Mông sang đây ra uy làm gì. Tiết hàn thực, cấm lửa để tưởng nhớ Giới Tử Thôi, một người vào rừng thà bị đốt cháy chứ không thờ chúa mới bội ân. Thiên sứ Trương Lập Đạo có áy náy việc ông đang có tang nước Tống mà hưởng bổng lộc của ngoại Mông không ? Mâm sơn hồng ngọc, đựng bánh xuân để biếu ngài là chúng tôi tỏ rõ chữ lễ với Thiên sứ Thượng quốc, nhưng cũng nhắc ông rằng tâm trong sáng, lòng sắt son mà nhận bánh xuân, tức bổng lộc của nhà Nguyên Mông thì có hợp đạo thánh hiền không? Còn nói cho ngài biết, tôi [ Trần Nhân Tông ] trước sau như một, cứ theo chí hướng của tổ tông: thần phục thượng quốc để tránh can qua, yên hưởng thái bình nhưng không khuất phục các ông đâu nhé.“Tục cũ An Nam cứ mỗi lần”là như thế!

Vua Trần Nhân Tông đã nhún mình, chịu “ thần phục” nhà Đại Nguyên trên mặt ngoại giao, nhằm cầu “hòa bình và ổn định” không phải cho mình mà cho hằng triệu sinh linh của hai nước Việt, Nguyên  là xuất phát từ “LÒNG TỪ BI” của ngài. Thế thì Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt và Nguyên Thánh Tổ Thiết Mộc Nhĩ nếu không phá chấp thì các vị ấy không phải là bậc Thánh Minh vậy. Còn sứ giả Trương Lập Đạo của Đại Nguyên, gốc Tống, trong những ngày ở Đại Việt chắc chắn thấy được sức mạnh “đại đoàn kết” của Đại Việt, khi về nước báo cáo Hốt Tất Liệt khiến ông vua hung hãn này phải xét lại. Vua Trần Nhân Tông đã thành công, hơn 100 năm, các vua Nguyên kế tục Hốt Tất Liệt không còn đưa quân xâm lược Đại Việt nữa. Chiếu dụ năm Tân Mão 1291, vừa đe nẹt Đại Việt vừa yêu cầu vua Trần Nhân Tông sang chầu, không có tác dụng, Đại Việt vẫn giữ được sự toàn vẹn lãnh thổ của tổ tiên.
                      
   Trần Viết Điền

® Phải có sự đồng ý của tác giả cũng như ghi rõ nguồn “www.khoahoc.net” khi bạn phát hành lại thông tin từ website này

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s