Trần Thị Vĩnh Tường & Nguyễn Đức Hiệp – Nghệ Thuật Điêu Khắc Phật Giáo Tự Thuở Bình Minh (phần I)

Trên con sóng bạc xô tới hàng ngàn bến bờ xa lạ, nền văn minh Ấn Độ khác hẳn nền văn minh La Mã và văn minh Trung Hoa, không bao giờ gây chiến, không chủ trương chiếm đất giết người. Tất cả nhờ vào bồ đề tâm của bốn hoàng đế Ashoka, Demetrius, Menander và Kanishka, những người tiên phong đẩy làn sóng Phật giáo biền biệt trôi tới bốn phương trời mười phương Bụt

* * *

Tiểu Lục Địa Ấn Độ
Bộ tộc Sakya của Phật
Phật là ai?
Đế quốc Mauryan (321TCN–185 TCN): Vua Ashoka  
Vương quốc Satahavana (230TCN-220SCN): Phong cách Amaravati
Đế quốc Bactria (256TCN-10SCN): Phong cách Indo-Greek
Vua Demetrius
Vua Menander
Đế quốc Kushan (30-230SCN)
 Vua Kanishka
Phong cách Gandharan
Phong cách Mathura
Đế quốc Gupta (320-550SCN)
Pho tượng Sultanganj đi lạc
Pho tượng Óc Eo
Đền Thendayyuttha Hindu tại Saigon
 
 
Hơn hai ngàn năm trước, cuộc gặp gỡ ngoạn mục giữa châu Âu chinh phục và châu Á bí ẩn, lưu hương hoa trái đầu mùa đã làm nền tảng cho tôn giáo và nghệ thuật đến hàng ngàn năm sau.  
Thời kỳ này kéo dài 1000 năm, từ thế kỷ thứ 4TCN đến thế kỷ thứ 7SCN (1), khi vó ngựa của Alexandre đại đế vượt sông Indus năm 326TCN, cho tới khi tôn giáo Muslim cực thịnh.  Hai nền văn minh Âu Á dựa vào nhau khai mở một bình minh rộn ràng đường nét Hy Lạp phương tây, Zoroastrianism/Hỏa giáo Ba Tư và Phật giáo phương đông, dựa trên nền tảng văn hoá Hindu bản địa. Pha trộn này, kho tàng vô tận cho những ai muốn ngược dòng thời gian tìm hiểu ngôn ngữ, kiến trúc, điêu khắc, văn hoá, tôn giáo…về một góc nhân loại, nơi cư dân làm nhà, nhẩy múa, thờ phưọng, suy nghĩ, yêu nhau, chia tay, tận diệt…
Điều rất lạ, tất cả những thế lực bên ngoài xâm chiếm mảnh đất Ấn độ, đều bỏ chinh bào cởi gươm đao, hòa chung với giòng văn hóa bản điạ. Toán học có vẻ tương đối nơi đây: một cộng một không phải là hai. Hai giọt nước tan vào nhau, chỉ là một giọt. Riêng Đông Nam Á, từ Phù Nam, Chămpa, Chân Lạp, Lào, Cambodia, Srivijaya, Malaysia… cho chí Việt Nam, không nơi nào là không có văn minh Ấn Độ.
Trên con sóng bạc xô tới hàng ngàn bến bờ xa lạ, nền văn minh Ấn Độ khác hẳn nền văn minh La Mã và văn minh Trung Hoa, không bao giờ gây chiến, không chủ trương chiếm đất giết người. Tất cả nhờ vào bồ đề tâm của bốn hoàng đế Ashoka, Demetrius, Menander và Kanishka, những người tiên phong đẩy làn sóng Phật giáo biền biệt trôi tới bốn phương trời mười phương Bụt.
“Phật là ai” và “Hình ảnh Phật ban đầu” vẫn là câu hỏi bàn cãi dòng dã trong giới học giả. Có lẽ những bàn cãi này đáng đưọc lưu tâm, vì mảnh đất bây giờ gọi là Việt Nam thời khai sinh cũng có cơ duyên đón chào Phật giáo.  Trong lịch sử Việt Nam, hai triều đại Lý Trần rực rỡ đã từng vin vào Phật mà đứng dậy.
 
Tiểu Lục Địa Ấn Độ 
Lịch sử Ấn Độ hết sức đa dạng trên một miền đất cực kỳ phức tạp. Tháng 8/1947, nhờ sự tranh đấu bền bỉ bất bạo động của Mahatma Gandhi, quốc gia mang tên Cộng Hoà Ấn Độ/Republic of India ra đời. Trước 1947, ám chỉ tiểu lục địa này, tiếng Persia/Ba Tư gọi là Hindustan, có nghĩa Miền Đất Của Người Hindus/Land of the Hindus (chữ -stan có nghĩa “đất của người”, ví dụ Ubezkistan, Kazakstan…) Trong bài xin tạm dùng chữ Ấn Độ, dù chưa có nước Ấn Độ vào thời đó.  
 “Biên giới chính trị” là điều không có ở Ấn Độ, suốt từ thời Sakya, Mauryan, Bactria, Kushans, Gupta… Ấn Độ vẫn chỉ là những mandala, gồm nhiều vương quốc/bộ lạc. Những thế lực này hiện diện cùng lúc hay kế tiếp nhau trong thời gian và không gian địa lý. Mỗi nơi là một thế giới riêng với thành phần sắc tộc, văn hoá và ngôn ngữ khác nhau. Các tiểu quốc đều có vua/rajah, khi thống nhất gọi là “vua của các vua/maharajah”. Triều đại cuối cùng là Moghul từ Afghanistan mang theo đạo Hồi thống trị nhiều đời cho đến khi người Anh tới vào đầu thế kỷ thứ 18. Lịch sử hay ghi “triều đại tận diệt”, chỉ có nghĩa là lãnh đạo không còn, nhưng dân chúng vẫn còn nguyên đó và vẫn sinh hoạt, tiếp cận, ảnh hưởng lẫn nhau.  
Ấn Độ gồm 3 khu vực điạ lý rộng lớn, đa dạng về chủng tộc/ngôn ngữ/văn hoá/lịch sử, gồm miền Bắc, miền Tây Bắc và miền Nam. Sắc tộc của Ấn Độ ngày nay vẫn phức tạp và giữ khung từ ngàn năm cũ.
– miền Bắc và Tây Bắc: da trắng: người Hindi, Rajasthan, Afghan, Persian, Bactrian chiếm thành phố. Lãnh đạo và giới ưu tú toàn người da trắng, người da ngăm nếu còn sót luôn luôn ở địa vị thấp kém.
– miền Nam : da sậm đến rất sậm: người Dravidian, Mundi và Tamil.
Từ ba miền độc lập và riêng biệt này, các đế quốc/vương triều khai mở/suy tàn cùng lúc hay kế tiếp nhau. Trong bài viết này chỉ nhắc rất đơn sơ đến khung thời gian từ TK thứ VI TCN đến TK thứ VI SCN, thời điểm nghệ thuật tạc tượng Phật tại một số vương triều:
Miền Bắc: hai đế quốc Maurya (321TCN–185 TCN) và Gupta (320-550SCN)
    Miền Tây Bắc: hai đế quốc Bactria (250TCN-10SCN) và Kushan (30-230SCN).
Miền Nam: đế quốc Satavahana (230TCN-220SCN)
Có cả thẩy ba sắc dân lần lượt đến tiểu lục điạ này: Australoid, Dravidian và Scythian.
Người Australoid đến sớm nhất, da rất sậm, nay chỉ còn là thiểu số sống trong rừng núi phía Nam Ấn Độ, cao nguyên Deccan. Người Dravidian, da sậm, ban đầu ở vùng Bắc Ấn khu vực sông Indus, để lại di tích văn minh Harappa rất cao.  Ngành dân tộc học cũng chưa thể xác định hai đám Australoid và Dravidian đến lục điạ này từ hồi nào. 
Bắt đầu từ 2000TCN, bộ tộc người Aryan da trắng du mục rải rác khắp vùng thảo nguyên Âu-Á, cùng ngôn ngữ Iranian và cùng văn hóa thờ mặt trời. Herodotus người Hy Lạp sống cùng thời (484-425TCN), sử gia đầu tiên của nhân loại, viết: “nếu những nhóm này hợp nhất dưới một lãnh đạo, họ sẽ là thế lực lớn nhất thế giới.”

Bộ tộc Sakya của Phật
Người Saka/Sacas/Sakae/Sakian/Sakya là một trong đám Aryan – vượt đèo Khyber, quét ngang nước Persia/Ba Tư như sấm sét, đến Ấn Độ làm nhiều đợt từ TK thứ 5 TCN (2)
(Chú thích: là giống dân du mục nên thời điểm/địa điểm/bộ lạc người Aryan di chuyển/định cư là điều khá mờ mịt, nghiên cứu Tây phương vẫn có những sai biệt. Riêng các tiểu bang Ấn Độ tới giờ này vẫn nhìn văn hóa, lịch sử, tôn giáo…tiểu bang láng giềng theo cách khác nhau. Lý do: từ mấy ngàn năm, họ là những tiểu vương quốc khác nhau)
Người Hy Lạp gọi người Sakya là Scythian. Bộ tộc Sakya/Scythia tốn nhiều giấy mực của các học giả. Có nhóm du mục chỉ sống trên lưng ngựa theo gia súc đi tìm đồng cỏ. Đàn bà/trẻ em đánh xe ngựa, đàn ông cưỡi ngựa chăn súc vật. Nhưng cũng có những nhóm định cư có thành phố thành trì đóng tầu biển. Ở đâu, họ cũng xuất sắc về kỹ thuật chiến tranh, đúc đồ đồng, luyện thép, làm vũ khí, nữ trang. Khuynh hướng hiện nay trong giới học thuật công nhận người Sakya/Scythia là da trắng nói tiếng Iran/Ba Tư. Không rõ nhánh Sakya định cư ở vùng Lumbidi, quê hương của Phật thuộc nhóm nào và đến Lumbini hồi nào. Câu hỏi này xin đợi các học giả Phật giáo.


 
Trên bản đồ, vùng mầu xám, gồm bốn vùng chính: Gandhara, Sakastan, Mathura và Ujjayini, là vùng ảnh hưởng của người Sakas/Sakya vào năm 50TCN. Lumbini ở sát ngay chân núi Himalya, phía bên phải Mathura, cách biên gìới Ấn Độ 25km. Dù hồi đó chưa có nước nào tên Ấn Độ và Nepal, ngày nay cả hai nước đều nhận Phật là ngườì của dân tộc mình, mặc dù biết rất rõ vài trăm cây số hay một vài trăm năm chỉ là con số tương đối, khi chưa có ghi chép.
Đông Nam Á cũng có những di tích thời Ashoka. Gần Chiang Mai, Thailand có cột đá Ashoka Pillar tại Wat U Mong. Năm 245BCE, công chúa Samghamitta Theri đã bứng một cây bồ đề nhỏ từ nơi Phật nhập diệt mang trồng ở Sri Lanka/Tích Lan. Anuradhapura thành Thành Phố
 
Phật là ai?
Trước khi có Phật giáo, vùng Ấn Độ và Pakistan theo đạo Hindu. Hệ thống giai cấp/caste của Hindu, có 4 tầng là 1.Tăng lữ 2. Võ sĩ/quí tộc 3. Thương nhân và 4. Người giúp việc. Dòng họ đức Phật theo Hindu, giai cấp quí tộc. Năm sanh Đức Phật được ghi chép khác nhau: 335, 565, 623 TCN. Các nước theo đạo Phật kỷ niệm ngày sanh của Phật cũng khác nhau. Khi Đức Phật thành lập đạo Phật, cộng đồng Phật giáo chủ trương không phân biệt giai cấp, vì thế rất đông người theo. Sử sách ghi Phật là người thuộc bộ tộc Sakya, mang tên Sakyamuni/Thích Ca Mầu Ni có nghĩa “Người Khôn Ngoan của Sakya”.  Đức Phật giảng và hành đạo ở Benares, Bodgaya… dọc sông Ganges/Hằng/  
Biên giới giữa các bộ tộc, các tiểu quốc rất mơ hồ, cách nhau bởi thiên nhiên. Bằng cớ thân mẫu Phật rời kinh đô đi bộ về nhà bố mẹ ở Devadaha để sanh nở. Có phù điêu ghi lại bà vịn cành cây, sanh Phật giữa rừng. Năm 1896, Dr. Anton A. Fuhrer tìm thấy cột pillar-6.4m của vua Ashoka, có ghi chữ “Thương quí của các thần linh” (devanampiya), vua Piyadesi, đã đến thăm và tôn thờ nơi đây bởi vì Đức Phật, nhà hiền triết của bộ tộc Sakyans, đã được sinh ra. Vua đã làm một tượng đá và dựng cột đá. Làng Lumbini được miễn thuế và chỉ phải trả 1/8 sản lượng. ”(3)  Piyadasi, tức vua Ashoka còn cho đặt một viên đá ngay đúng chỗ Phật sinh. Phiến đá này đưọc đào thấy năm 1996 ở Lumbini. 
Những dấu hiệu Phật dùng hay Ashoka tặng cho Phật đều đến từ bộ tộc du mục Sakya/Scythia: 1.Sư tử trên đỉnh cột pillar 2.Tháp stupa cất giữ di tích Phật theo mô hình các gò đất tròn chôn ngươì chết 3.Vòng luân hồi của Phật làm theo hình chariot/bánh xe ngựa 4.Ý niệm “bánh xe luân hồi” là của Văn Minh Thảo Nguyên/Steppe Civilization.
Khoảng 3000 TCN, người miền Mesopotamie chế ra bánh xe có 2 trục làm bằng gỗ rất chắc, do bò kéo. Khoảng 2000TCN, vành bánh xe nhẹ hơn. Từ 1700TCN, bánh xe nhẹ hơn nữa cho ngựa kéo. Người Scythian đầu tiên thuần hóa loài ngựa. Ngựa và bánh xe ngựa thay đổi bộ mặt thế giới. Ngựa và bánh xe dẫn họ đi khắp thảo nguyên mênh mông hai lục địa Âu- Á. Đó là lý do khiến người Scythian du nhập sự thờ phụng bánh xe vào đạo Hindu. Phật có thể đã mượn vòng bánh xe quay cho ý niệm về kiếp luân hồi.  Khi sức khoẻ suy dần, Đức Phật tự ví mình …”Ta như chiếc xe bò đã cũ, chỉ còn nhờ các dây chằng chống đỡ…”
(Chú thích: người Trung Hoa vất vả, kiên trì mấy trăm năm mới gây được giống ngựa lai Trung Hoa – Tây Vực (tức ngoài biên ải Ngọc Môn Quan, ám chỉ Ba Tư, Trung Á, Yeuzhi. Đời Đường, việc mua ngựa giống từ Trung Á là việc tối quan trọng)

Đế quốc Mauryan (321TCN-185 TCN)    
 Năm 321TCN, Chandragupta, khởi nghiệp lập đế quốc Mauryan ở miền Đông Bắc Ấn Độ. Kinh Phật có ghi Chandragupta có liên hệ với bộ tộc Sakya, cùng yếu tố Aryan.
Vương triều Mauryan gồm thâu đất đai phía Bắc tiểu lục điạ Ấn độ về một mối, đặt kinh đô Pataliputra bên bờ Nam sông Ganges/Hằng, gần cửa sông đổ ra vịnh Bengal (bây giờ là Patna, thành phố lớn thứ nhì ở bờ biển đông Ấn Độ, sau Calcutta). Đế quốc Mauryan cực thịnh khi vì vua thứ ba, cháu nội Chandragupta, là đại đế Ashoka (trị vì khoảng 269- tới 231TCN) chinh phục tới 90% nưóc Ấn Độ ngày nay, chừa một mảnh nhỏ xíu ở cực Nam, vuơng quốc Cholas. Ashoka hối hận gây ra chiến tranh khiến 100,000 chết và 150,000 người Kalingas bị thương. Nhìn cánh đồng loang máu dân Kalingas (tiểu bang Orissa bây giờ) vừa bị mình tận diệt, ánh lên cảnh tưọng cực kỳ ai oán và phi lý của cuộc chém giết, Ashoka thất kinh tỉnh giấc “Ta rất đau đớn vì sự giết chóc, đuổi dân đã xảy ra khi một nước bị chinh phục…”(3). Ashoka cải thành Phật tử năm 260.
Ashoka là nhà lãnh đạo đầu tiên đặt Phật giáo lên hàng quốc giáo. Ông gửi phái đoàn ngoại giao kiêm truyền giáo tới Roma, Ceylon, China, Gandhara, Kashmir, Pakistan, Afghanistan; xa nhất mãi tận đảo Cyprus. Ashoka triệu tập Đại Hội Phật Giáo lần thứ ba.
Ashoka tôn trọng tất cả tôn giáo: Brahman, Phật giáo, Hindu và Jain, điều thật vô cùng mới lạ và hiếm có nơi các lãnh đạo tôn giáo và chính trị, ngay cả thời bây giờ. Ashoka đặc biệt bảo trợ Phật giáo: nhà vua tặng Phật danh hiệu Shakya Lion/Sư Tử dòng Shakya. Nghệ thuật Phật giáo thời Ashoka là những tháp stupa (chứa tro tàn của nhục thân Phật) và cột đá pillar. Trên đỉnh những cột pillar Ashoka dựng đều có tượng sư tử tượng trưng cho Phật. Tuy ánh sáng Phật giáo đã phai tàn, ngày nay Ấn Độ vẫn lấy đỉnh cột pillar này làm quốc huy.
Đông Nam Á cũng có những di tích thời Ashoka. Gần Chiang Mai, Thailand có cột đá Ashoka Pillar tại Wat U Mong. Năm 245BCE, công chúa Samghamitta Theri đã bứng một cây bồ đề nhỏ từ nơi Phật nhập diệt mang trồng ở Sri Lanka/Tích Lan. Anuradhapura thành Thành Phố Thiêng Liêng cho Phật tử thế giới chiêm bái, cây bồ đề Sri Maha vẫn xanh tươi gìn giữ mối duyên xa dù đã hơn 2.250 năm tuổi. Trong bài giảng Digha Nikaya, Phật dặn không đưọc vẽ tranh hay nặn tượng sau khi nguời qua đời. Có lẽ con mắt nhìn xa hàng ngàn năm sau, Phật như thấy đưọc những chướng quái khi nhân gian xây chùa cho lớn, tước vị cho kêu, võng lọng linh đình. Gác chuông cố vươn thấu mây xanh nên để mất dấu chuông vàng?
Suốt từ khi Phật nhập diệt cho đến thời Ashoka, khoảng 300 năm, ngươì ta nhớ đến Phật qua hoa sen, sư tử, cây bồ đề, bánh xe luân hồi hay bàn chân khắc trên nền đá. Ví dụ như tấm sa thạch/sandstone màu nâu (4), có niên đại TK 1 TCN, 67.5 x 46.25 x 15cm, thuộc đại tháp stupa ở Amaravati, giữa là bánh xe tưọng trưng cho Ba Châu Báu/Tam Bảo, xung quanh có hoa/giây leo/cành lá/nam thần Yaksha trong truyền thuyết Hindu, Jain và Phật giáo.
Những lời vua Ashoka khắc trên cột đá pillar, không dạy về Tứ Diệu Đế, chỉ nhấn mạnh đến phần thực hành trong cuộc sống thường ngày: “Những ai khen quá nhiều tôn giáo mình, do một niềm tin quá độ, và chỉ trích các tôn giáo khác với ý nghĩ là “Để tôi làm rạng danh tôn giáo tôi”, thật ra chỉ là làm hại chính tôn giáo mình. Vì thế, sự tiếp xúc giữa các tôn giáo là điều tốt. Mọi người nên lắng nghe và kính trọng niềm tin và điều tốt từ các tôn giáo khác” (3). Những điều nhân bản này không hề được khắc tại bia đá ở Ai Cập, Babylon hay La Mã.
Sau Ashoka (khoảng 200 TCN) tuy triều đình Kushans có giảm nồng nhiệt, kiến trúc Phật giáo vẫn là một bảo trợ tâm linh cho toàn xứ sở. Huy hoàng nhất là Sanchi, được xây dựng trong hơn 100 năm.
Sanchi-Trái Tim Của Thiên Đàng, tới giờ vẫn là một địa điểm hành hương cho cả Phật tử và những người yêu nghệ thuật khắp thế giới. Cổng phía đông vào stupa Sanchi, nữ thần Yahshi no tròn nghiêng mình khép mở tam giác dát vàng đùi nghiêng dát ngọc cùng ngựa voi đón chào du khách vào thăm tro cốt Phật. Nếu không sợ đứng tim say men nồng tình yêu trên những chạm khắc, nên đến xem tận nơi, bài viết này chữ nghĩa nghèo nàn không theo kịp nhịp độ mê đắm của ngườì xưa. Dù chỉ còn di tích trên đống đổ nát (hiện giờ thuộc thủ đô Bhopal của Madhaya Pradesh/tiểu bang lớn nhất Ấn Độ), Sanchi vẫn là một thúc đẩy văn hóa, tôn giáo và nghệ thuật.
50 năm sau khi vua Ashoka mất, đế quốc Mauryan suy tàn, bị chia thành nhiều tiểu quốc.
 
Vương quốc Satahavana (230TCN-220SCN) phong cách Amaravati
Vuơng quốc này là thuộc điạ của đế quốc Mauryan. Sau khi Ashoka qua đời, Satahavana tuyên bố độc lập. Amaravati dựa bờ sông Krishna (tiểu bang Andhra Pradesh bây giờ), một miền đất phì nhiêu gần bờ biển đông nam Ấn Độ. Nơi đây đã là cái nôi của văn minh bản điạ người Dravidian trước khi Phật giáo tới. Thần thánh thương người Amaravati cách riêng, cho họ tính hồn nhiên, sinh ra như để uống cạn giọt đắm say của niết bàn trong kiếp này, liệu có kiếp sau không mà đợi. Vì vậy nghệ thuật chạm khắc những pho tượng kích thước bằng người thật, vòng tay thân thể tròn trịa của hai nam nữ thần bản mệnh Yaksha và Yakshi, mê đắm đến nỗi những chùm bông giấy cũng đỏ tê đỏ tái ngượng ngùng.
Loại nghệ thuật này cũng như ý niệm trưng bày/tôn thờ Linga-Yoni, cơ quan sinh dục nam nữ, là văn hóa cuả Ấn Độ trải mấy ngàn năm. Các nhà Nho Trung Hoa, và ngay cả người Tây phương chỉ nhìn thôi cũng khó… nuốt. Có lẽ bằng cấp càng cao càng xa rời ý nghĩa ban đầu của giòng sinh mệnh, nên nhìn đâu cũng thấy tội lỗi và trừng phạt; dù triết lý ngoằn ngoèo nhưng chỉ nhìn thấy bề nông cạn của sự việc, khiến quên đi phần dịu ngọt sâu thẳm nhất của quấn quít. Không như người bản địa Amavarati: mượn sự giao thoa làm món quà dâng tặng thần linh đang đứng trên cao vui vẻ ngắm nhìn đôi nam nữ đạt tới cõi hạnh phúc không cùng nhất. Điêu khắc Amavarati nằm ngoài và rất xa sự tưởng tưọng của con người, hình như có bàn tay trợ giúp của thần linh hoan hỉ, không phải thần linh nhăn nhó. Một phong cách vượt lên trên các giáo điều lùng bùng của các nhà đạo đức thật (lẫn giả), có lẽ sẽ không bao giờ còn lập lại trên trái đất này.
 Những bức tượng thần thánh Ấn Độ hay tượng Phật thường đeo bông tai rất nặng, nhiều khi trĩu xuống tới vai. Chẳng hạn như đôi bông tai bằng vàng có niên đại TK thứ nhất TCN, ở Andhra Pradesh, kích thước 3.8 x 7.6 x 4 cm, khắc hình voi và cọp cho thấy điạ vị cao quí của chủ nhân, phải nhìn tận nơi mới rùng mình vì sự tinh xảo trong kỹ thuật và quí phái trong kiểu mẩu. Đôi bông này hiện thuộc The Metropolitan Museum of Art/ New York, hai năm trưóc có trưng bày cho công chúng. (http://www.metmuseum.org/toah/works-of-art/1981.398.3,4).  
Tai dài như cánh hoa sen là một trong 32 tướng quí của Phật. Người Việt mình tán rộng cho là dấu hiệu của sống lâu. Quí tộc Sakya đều đeo bông tai. Phật có đeo bông hay không, không ai rõ vì mấy ông vua thời đó đặt nghệ sĩ tạc tượng Phật qua hình ảnh họ. Ở Trung Hoa, Võ Tắc Thiên cho tạc tượng Phật có khuôn mặt giống mình, và tự xưng “Lão Phật Gia”.
Amaravati cách Sanchi 255 km. Nếu đã đi Sanchi cũng nên đi Amaravati cho hết ý nghĩa hành hương. Điều đáng lưu ý, hai địa danh Amaravati và Champa trên xứ Ấn Độ cũng được lập lại ở xứ Chămpa/Chiêm Thành. Điều đáng lưu ý nữa, hai láng giềng của VN,  Chămpa và Cambodia có những sưu tập cổ vàng/bạc đẹp và tinh xảo. Hiện nay, Ấn Độ, Bali, Malaysia còn giữ được motif nữ trang Scythia. Riêng người Cambodia và Bali, thật sự là nghệ sĩ, hoàn toàn làm chủ được miếng vàng miếng bạc trong tay mình.
Dưới thời Ashoka, Amaravati thành một trong trung tâm Phật giáo lớn nhất. Quần thể stupa ở Amaravati đưọc xây dựng thời Ashoka, hoàn thành năm 200SCN, ghi toàn cảnh về cuộc đời Phật.  Phong cách tượng Phật Amaravati không giống với Gandhāra và Mathura. Các học giả cho rằng phong cách này đã làm khuôn mẫu cho điêu khắc ở Sri Lanca và Đông Nam Á. Tượng hoàn toàn có tính bản địa người Dravidian. Tóc trên đỉnh đầu bới kiểu ushsina ba hay bốn vòng, tóc trên trán quăn hình ốc, mặt tròn đầy đặn, da ngăm, mắt sâu, áo từ vai trái rũ xuống theo kiểu nam thần Yaksha. Thân dưới mặc Antariya dài tới mắt cá chân, có khi khoác một tấm vải lớn choàng qua đầu, nếp gấp để trên tay trái, đó là Uttayria dài rộng các tăng nhân khoác ngoài khi đi du hành. Tượng Phật kế bên, là một ví dụ phong cách Amaravati TK 3 hiện bày tại bảo tàng Archaeological Survey of India/Amaravati.  Kiểu bới tóc ushsina, một Phật tử cứ ngỡ Phật đội mũ cho ấm đầu. Chắc Phật buồn cười với ý tưởng dễ thương.  
 
Đế quốc Bactria (256TCN-10SCN): phong cách Indo-Greek
Sử gia phương Tây, cho rằng tượng Phật là sự pha trộn giữa nghệ thuật bản địa Ấn Độ và Hy Lạp. Sử gia Ấn Độ Ananda Coomaraswamy (1877-1947) cho rằng hình tượng Phật phỏng theo nam thần Yaksha của văn minh Indus Valley.
Đại đế Alexander (356-323TCN) người chiến binh không-chiến-bại thành lập đế quốc Hy Lạp trải dài từ biển Mediterranea/Địa Trung Hải tới Hy Mã Lạp Sơn. Những dũng tướng của Alexander chia nhau đi bốn phưong nối dài vương quốc Hy Lạp. Tướng Hy Lạp Ptolemy (367-283TCN) sang Ai Cập thành lập đế quốc Ptolemaic kéo dài 300 năm. Triều đại nữ hoàng Hy Lạp Cleopatre (69–30 TCN) là triều đại cuối cùng của vương quốc Ptolemaic tại Ai Cập.
Từ năm 256 TCN, điểm xa nhất của thế lực Hy Lạp ở Trung Á là vương quốc Greco-Bactria, gồm vùng Bactria và Sogdina (đông Iran, Afghanistan và Pakistan bây giờ). Nhưng phải đợi đến khi Demetrius/200-180TCN, một quí tộc Hy Lạp, vượt đèo Khyber đến miền Bắc Ần Độ, biên giới thiên nhiên là rặng Hindu Kush – thì văn minh Hy Lạp mới gặp gỡ văn minh Mauryan, khai mở một nền văn minh mới có tên Indo-Greek/Ấn Độ-Hy Lạp. Trong hai thế kỷ, vương quốc Bactria có 30 vì vua, nhưng quan trọng nhất là ông vua đầu tiên Demetrius và ông vua cuối cùng Menander. 
 
a. Demetrius qua đất mới làm vua, mang theo cả văn minh Hy Lạp, thiên văn, kiến trúc, nặn tượng, đúc tiền. Vua Demetrius cải sang đạo Phật, tất cả các tôn giáo đưọc bảo trợ tối đa. Ở điạ điểm khảo cổ Sirkap gần Taxila (Pakistan bây giờ), những tháp stupa kiểu Hy Lạp, do Demetrius xây cho thấy sự giao thoa giữa nghệ thuật Hy Lạp/Phật giáo/Hindu/Zoroastrian-Hoả giáo. Nơi đây tìm thấy nhiều đồng tiền khắc hình Demetrius. Có đồng chỉ 12mm đường kính, bằng bạc, nét chạm khắc tinh vi, nghệ thuật điêu khắc sau này phải ngả mũ chào thua. Chữ viết của vương qưốc Bactria là chữ Hy Lạp.
b. Vua Menander, vị vua cuối cùng của vương quốc Bactria , 165-125TCN cũng cải theo đạo Phật năm 150. Từ đấy, con đưòng từ Bactria là cây cầu dẫn đạo Phật đi bốn phương. Sự chinh phục êm đềm của Demetrius và Menander khiến văn hóa Hy Lạp đi xa và ở lại lâu bền hơn cả đội quân sấm sét của Alexander Đại Đế.
Thời Menander, tiền đồng và bạc đưọc đúc với số lượng lớn và lưu hành khắp nơi. Điều này giải thích sự hiện diện của một số đồng tiền vàng La Mã/Hy Lạp/Bactrian… ở một số nơi, không có giao thương trực tiếp với những xứ này. Trường hợp đồng xu La Mã tìm thấy ở Óc Eo/Tiền Giang có hình vua Antoninus Pius (trị vì 138-161) và người kế vị là Marcus Aurelius (trị vì 161-180) có thể ở trong trường hợp này.
c. Phong cách Indo-Greek, chịu ảnh hưỏng văn minh Hy Lạp và Parthian, dùng chữ viết Hy Lạp nên những cột pillar và tảng đá vẫn mang ảnh hưởng của nền văn minh Greek-Parthian/Hy Lạp/Ba Tư.
Bức tượng Phật tìm thấy tại một tu viện Afghanistan, niên đại 800 thể hiện một vương tử xinh trai có vẻ sắp lên làm vua, theo phong cách Indo-Greek: tóc dợn dài quá vai. Tượng mang vòng tay vòng cổ bông tai theo truyền thống quí tộc Scythia. Người Hy Lạp gọi người Sakya là Scythian. Scythian nổi tiếng làm nữ trang bằng bạc và vàng ròng từ trước 800TCN.  Di chỉ từ mộ vua Scythia, có nhiều nữ trang vàng ròng, có miếng nặng tới 428gram vàng (13.7605 troy ounces) (5). Người Scythia duy nhất trên thế giới làm nữ trang bằng vàng những con vật trong đời sống du mục: sư tử, ngựa, trừu, chó… làm quà tặng dâng lên thần linh. Nữ trang là thước đo giầu sang cho đàn bà và quyền lực cho đàn ông. Vua chúa Ấn Độ đeo đầy kim cương ngọc trai ruby emerald, trên ngực trên tay quấn cả trên khăn turban, cũng do bắt chước truyền thống nữ trang từ người Scythia. Qua tới Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam … nữ trang biến mất trên tượng Phật, không rõ lý do.
 (Chú thích  1. Parthian Kingdom: 247TCN-224SCN) đế quốc Iran/Ba Tư, láng giềng của Kushan và Scythia. Người Parthian cũng là nhóm Aryan, cùng ngôn ngữ với đám Sakya/Scythian, nền văn minh xuất chúng ảnh hưởng đến chính trị/văn hoá/tôn giáo toàn thể vùng Trung Đông, Trung Á và tiểu lục địa Ấn Độ.
2. Afghanistan Hidden Treasure, còn gọi là Bactrian Treasure, gồm 4 tấn di chỉ, gồm 21,618 đồ vật,  nũ trang vàng, tượng ngà, tượng đồng….Trong cuộc nội chiến những năm 1990 với Taliban, nhân viên Kabul Museu đã liều chết cất dấu kho tàng vĩ đại này. Cuộc triển lãm vòng quanh thế giới 2008-2011 (Wahington DC, San Francisco, Houston, New York, Canada, Bonn) là một chấn động trong giới khảo cổ, nữ trang, nghệ thuật. Kho tàng gìờ này đang ở London từ 3/3/2011 đến 07/03/2011. Ngắm nhìn di vật, cảm thấy hiện tại vô cùng bé nhỏ trước sự tinh xảo vượt bực của quá khứ.)
 
® Phải có sự đồng ý của tác giả cũng như ghi rõ nguồn khi bạn phát hành lại thông tin từ website này

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s