Trần Thị Vĩnh Tường & Nguyễn Đức Hiệp – Nghệ Thuật Điêu Khắc Phật Giáo Tự Thuở Bình Minh (phần II)

Trong 400 năm, đế quốc Kushan đua nở như một bức tranh rực rỡ đủ các gam màu của thảo nguyên/sa mạc/núi tuyết. Văn minh Kushan nổi tiếng ngang với ba nền văn minh Hán, La Mã, và Parthian.
Cư dân vương quốc Kushan, còn có tên Indo-Scythian, gồm ba sắc tộc da trắng 1. người Sakya/Scythia 2. người Parthian và 3. người Yuezhi. Người Ấn Độ miền Bắc hiện nay cao lớn, có râu quai nón, da trắng, mũi cao là hậu duệ của pha trộn này, cộng thêm yếu tố Hy Lạp từ thời Bactria.

* * *

Đế quốc Kushan (30-230SCN)
Tokharian (Trung Hoa gọi Yuezhi, qua tiếng Việt là Nguyệt Chi), nhóm da trắng Aryan đi xa nhất về phía Á Châu, ráp với Trung Hoa. Họ cao lớn, mắt xanh, tóc đỏ hay vàng nhạt dợn sóng. Năm 162 TCN, bị Hung Nô lấn đất, đám Yuezhi tan tác làm hai nhóm:
1. Nhóm Xiao Yuezhi/Tiểu Nguyệt Chi, ở lại Tarim Basin hợp vớí người Hung Nô thành lập đế quốc Uyghur, mảnh vụn oanh liệt là miền Tân Cương bây giờ. Có một nhóm khoảng 150 gia đình chạy xuống Vân Nam, góp phần lập nên văn hoá Điền. Di chỉ bằng đồng tả cảnh đi săn của người Điền và người Scythian giống hệt nhau, cho thấy liên hệ thoạt nhìn có vẻ bất ngờ gìữa người Yuezchi và Schythia ở một địa điểm xa lắc là Vân Nam (6). Nếu đúng như vậy, sức sống bền bỉ và bàn chân di cư của con người thật đáng kinh ngạc. Tượng con trừu đá Chùa Dâu/Bắc Ninh có thể liên hệ đến đám Yuezhi này.
2. Nhóm Da Yuezhi/Đại Nguyệt Chi: người Hung Nô giết Vua Yuezhi xẻ đầu làm ly uống rưọu, hoàng hậu thống lãnh 100,000 kỵ binh và 400.000 dân di cư đến vùng Indo-Saka của người Sakya. Quyết định lịch sử của nữ tướng đã thay đổi hẳn bộ mặt miền Âu-Á này.  Ba mươi năm sau, lúc vương quốc Greco-Bactria suy tàn, người Yuezhi từ Sogdiana tiến qua, lập ra vương triều Kushan/Quế Sương lừng lẫy: hoàn thành giấc mộng không tưởng của bất cứ dân tộc nào sau một cuộc viễn trình xa thăm thẳm.
Trong 400 năm, đế quốc Kushan đua nở như một bức tranh rực rỡ đủ các gam màu của thảo nguyên/sa mạc/núi tuyết. Văn minh Kushan nổi tiếng ngang với ba nền văn minh Hán, La Mã, và Parthian.
Cư dân vương quốc Kushan, còn có tên Indo-Scythian, gồm ba sắc tộc da trắng 1. người Sakya/Scythia 2. người Parthian và 3. người Yuezhi. Người Ấn Độ miền Bắc hiện nay cao lớn, có râu quai nón, da trắng, mũi cao là hậu duệ của pha trộn này, cộng thêm yếu tố Hy Lạp từ thời Bactria.

a. Vua Kanishka
Người Kushan cũng là ngươì Scythia. Cùng yếu tố Aryan, có thành phần “người Sakya” tiềm tàng, khiến người Kushan hết lòng bảo trợ và giao giảng Phật giáo. Trong bốn trăm năm, họ sáng tác theo đạo Phật cả một giòng nghệ thuật, gồm điêu khắc, kinh sách, nghi lễ và tranh vẽ trên tường. Hai người Yuezhi đầu tiên dịch kinh sách Phật sang tiếng Trung Hoa là Lokaksema (137-189) dịch kinh Đại thừa, và Dharmaraksa (230-?) dịch kinh Liên Hoa. Hai tượng Phật lớn nhất thế giới ở Bamiyan/Afghanistan bị Taliban phá hủy năm 2001, là tác phẩm của người Kushan vào TK VI hay V.
Làm vua từ 127-151, Kanishka đưọc dâng tặng là “vua của các vì vua/maharajah”, được so sánh với hoàng đế vĩ đại Ashoka, tiếp nối xây dựng văn minh Phật giáo với bốn điểm chói sáng: chấp nhận khác biệt sắc tộc/tôn giáo, chia đều phúc lợi cho cư dân bằng thương mại; hết sức bảo trợ cho nghệ thuật; khuyến khích vũ/nhạc/họa/điêu khắc/nữ trang/lễ nghi. Kanishka là người triệu tập Đại Hội Phật Giáo lần thứ tư.
Dưới sự cai trị khôn ngoan của Kanishka, rất nhiều thương nhân, nghệ sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ đổ tới Kushan.
Kanishka dùng đuờng nét kiến trúc và chuyên viên từ Hy Lạp. Ông cho xây một bảo tháp cao 182.88m ở Peshawar, gấp đôi tượng Nữ Thần Tự Do ở New York/93m (tính tới chỏm đuốc). Kanishka bao dung tất cả sắc dân, tôn giáo và nghệ thuật trên vương quốc rộng lớn. Thượng đế, thần thánh và Phật xuất hiện dưới nhiều dạng.
Kanishka có quyết định lịch sử: không dùng chữ Hy Lạp nữa, mà chính thức dùng tiếng Bactrian tức tiếng Parthian, viết theo Hy Lạp alphabet. Từ đó, chữ viết Hy lạp biến mất ở vùng Bactria. Manh mối này có thể giúp định niên đại những đồng tiền tìm thấy ở các địa điểm khảo cổ liên hệ
Học giả vẫn tranh cãi không rõ Amaravati hay Kushan, nơi nào nghệ sĩ đi tiên phong tạc tượng Phật như người thật, không chỉ là hoa sen hay bàn chân trên đá như dưới thời Ashoka nữa. Giới học thuật cho văn minh Kushan có hai trung tâm khác nhau:  Gandhāra và Mathura .

b. Phong cách Gandhāra
Gandhāra là kinh đô mùa hè của đế quốc Kushan. Gandhāra nằm giữa đèo Khyber và sông Indus (Afhganistan và Pakistan bây gìờ) điểm giữa con đường Tơ Lụa. Vì vậy, Gandhāra là nơi gặp gỡ của nhiều nền văn minh: Ba Tư/La Mã/Hy Lạp/Ấn Độ. Gandhāra muợn của Hy Lạp dây nho, vòng hoa, thiên thần, thủy thần. Trào đình Kushan mời nhiều nghệ sĩ từ Hy Lạp, nhưng lực lượng chính vẫn là người địa phương. Nghệ sĩ Ấn Độ vinh dự đưọc mô tả “có đôi tay của người Hy Lạp, tâm linh của người Ấn Độ.” Gandhāra đưọc coi là viên ngọc quí của văn hoá Phật giáo. Phong cách Gandhāra thể hiện sớm nhất hình ảnh về Phật.  Phong cách này có ảnh hưởng khắp vùng Trung Á và Nam Á. Nguyên liệu là đá schist (4) đậm mầu. Thời kỳ Gandhāra, tưọng Phật theo ba mẫu:
1. Phần đầu:
Tượng có tóc bới kiểu ushsina, mặt trái soan, cằm vuông, mắt dài hình trái hạnh hơi lồi hé mở trong trạng thái thiền, lông mày cong, đôi môi đầy, cằm vuông, trái tai ngắn, mũi thanh. Ở Afghanistan, cũng tìm thấy nhiều đầu tượng Appolo và Zeus. http://www.rhoffmangallery.com/Root/ARTISTS/GODS/Godshome.htm

2. Tượng Phật đứng
Người nghệ sĩ cho Phật giống thần Apollo, thần Zeus của Hy Lạp với áo xếp nếp, mặt vuông, tóc dợn, tóc bới cầu kỳ, áo chùm toga kiểu Hy Lạp rũ từ vai trái, đeo nữ trang như quí tộc Scythian và Ấn Độ. Khuynh hướng Gandhāra có vẻ như theo sát kích thước thân hình người thật, lưu ý tới cơ bắp, dáng đứng, cử động bàn tay ngón tay
Bức tượng kế bên, niên đại TK 1-3SCN, hiện ở Musée Guimet/Pháp, Phật còn là ông hoàng trẻ nên có ria mép theo kiểu ngưoì Kushan. Đầu gối phải hơi nhô ra dưới lần áo khiến bức tượng giống như sắp bước ra khỏi bệ thăm hỏi nhân gian.  Riêng áo xếp nếp đuợc người Yuezhi mang trở lại đất mẹ Turfan/Tarim Basin, rồi từ đó qua Trung Hoa, Nhật Bản, Đại Hàn, với vài biến cải, thêm áo lót mình ngang ngực và lưng thắt dây có buộc nơ. Trung Hoa có thêm Phật Bà Quan Âm, có nhiều giải lụa phất phơ như tiên nữ trên nắp hộp bánh trung thu.

3. Phật trên đường giảng đaọ, có nhiều tăng chúng và người cúng dường
Di sản Gandhāra bền với thời gian vì đa số tạc bằng phyllite màu xanh và mica schist màu xanh-xám lấp lánh, chỉ có ở vùng Gandhāra. Cả hai thuộc loại metamorphic (4) rất mịn, cho phép chạm khắc đường nét tinh vi. Một lớp sơn quét bên ngoài sau đó đưọc mạ vàng khiến pho tượng đá xanh chợt mang màu huyền bí và cổ kính. Loại vật liệu kém bền là terracotta/đất sét và stucco (đá nghiền nhỏ/cát/nước và keo dính), tượng làm bằng lọai vật liệu này dễ gẫy.
Thế kỷ thứ 5, người Hung Trắng (cũng thuộc sắc tộc Scythia) tàn phá, hủy hoại hầu như hết cả, nhưng phong cách Gandhāra vẫn kéo dài tới TK 7.
Một hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn là đại đế Babur khai sinh ra triều đại Mughal ở Ấn Độ, người chíến binh khét tiếng, vó ngựa chinh phục tàn sát suốt tiểu lục địa, chung cuộc cũng muốn được chôn ở vườn Kabul/Afghanistan. Năm 1530, Babur được như nguyền. Trăm năm sau không hẹn, một du khách người Mỹ sững sờ nhìn tháp đá nhuộm đỏ dưới ánh vàng rực rỡ nắng chiều, cũng muốn tro tàn đưọc rải trên cầu đá dẫn vào đền Angkor Wat/Cambodia. Năm 1936, gia đình đã làm theo lời ước của bà.
 Bạo chúa buông gươm du khách đường xa học trò say chữ …hoá ra đều đa tình như nhau cả. Điều gì? Nỗi bí nhiệm của lòng tin hay vẻ đẹp trời đất mêng mang? Sẽ mãi mãi là ẩn số. Nhân gian thôi đừng đoán. Lặng thinh cho những mảnh hữu tình -dầu khác thời gian khác tinh cầu – lặng lẽ gặp nhau ở cõi vô cùng.

c. Phong cách Mathura
Mathura ở phía Đông và Nam, kinh đô mùa Đông của đế quốc Kushan (vùng Pataliputra, Patna bây giờ) gần cửa sông Hằng, dùng chữ Brahmi bản địa, văn hóa bản địa.  
Nếu phong cách Gandhāra ảnh hưỏng Hy Lạp, phong cách Mathura hoàn toàn bản địa từ hai tôn giáo đã bắt rễ từ lâu đời là Brahman và Jain.
Trước khi người Yuezhi đặt chân đến vùng này, Mathura đã là một trung tâm tôn giáo/văn hóa lớn thờ nam nữ thần bản địa Yaksha/Yakshi. Yaksha tay cầm bánh xe luân hồi ngồi trên tòa sen, Yakshi khỏa thân khêu gợi hơn Yakshi ở Sanchi, đồi ngực tròn như trái nõn mùa xuân, hai đùi khép chéo chan chứa mầm hoan lạc.
Tượng Phật đưọc tô vẽ theo nhiều hình dạng. Không giống như tượng Phật ở Gandhāra khoác nhiều vải vóc rũ xuống thành nếp gấp, nghệ sĩ Mathura cho Phật khoác vải rất mỏng nhẹ theo kiểu địa phương vì trời nóng. Phật có trái tai dài, mũi cao, môi đầy và mắt lớn hơn. Phật có vòng hào quang chạm hoa sen và cành lá. Không biết bàn tay nghệ sĩ Mathura vô danh và hóm hỉnh nào, lần đầu tiên đã điểm cho Phật nụ cười huyền bí, nhẫn nại chịu đựng đám nhân gian van nài đủ thứ. Người nghệ sĩ ấy chắc hẳn là Phật tái sinh.
Tượng Mathura rất dễ nhận, nhờ tạc bằng đá vôi/limestone Sikri địa phương màu đỏ với những vết đốm màu kem.
 
Đế quốc/Phong cách Gupta (320-550SCN)
Triều đại Gupta dần dần thay thế đế quốc Kushan. Lãnh đạo là người Scythia. Đế quốc này bao phủ vùng rộng lớn miền Bắc Ấn Độ gồm Pakistan, Bangladesh, Tây Ấn Độ. Về phía đông gồm cả Burma, phía tây gồm cả vùng Thung Lũng Indus. Vương quốc này tạo dựng một kỳ tích ở thế kỷ thứ 4SCN: bệnh viện, đại học, đời sống sung túc, thành phố xinh đẹp. Đây là thời kỳ vàng son của Ấn Độ, với những khám phá toán, khoa học, thiên văn, triết học, tôn giáo. Từ vua đến dân đều mộ đạo Phật.
(Chú thích: Bộ “Kinh Kamasutra” đuợc soạn dưới thời Gupta, thường được hiểu lầm chỉ thiên về tình dục, thật ra là loại sách dạy nghệ thuật làm bực vương giả. Những hình vẽ  sắc rực rỡ nghiêng về màu nóng, y phục nữ trang của quí tộc. Đàn ông da trắng, râu quai nón, mũi cao, oai vệ như con công xòe cánh. Đàn bà ngực mịn như đồi cát, tay cong như rắn cuốn, bưóc chân như hoa sen trên sóng)
Nghệ sĩ Gupta sính dùng stucco tạc tượng Phật. Thời Gupta dài hơn 200 năm đuọc coi như thời đại hoàng kim cuả xứ Ấn Độ và của nghệ thuật điêu khắc.
Dẫy tu viện Ajanta là những công trình làm ngẩn ngơ lòng người, không hiểu nghệ sĩ ngày xưa làm sao có thể tạc những kỳ công đến thế. Tượng Phật, Hindu, và Jain rất lón bằng đá, đồng hay đất nung.
Từ TK thứ 8, dù vương quyền đã sang tay triều đại Pala và Sena (730–1197) thiên về tôn giáo Hindu, phong cách Gupta vẫn được lưu giữ. Thời kỳ này, tượng Phật được tạc bằng đồng và đá đen từ Nalanda, hoa văn rất chi tiết.
Nghệ sĩ Gupta vẫn giữ phong cách Mathura với vài biến cải.Tượng Phật có những đặc điểm trước và sau chưa từng có: khuôn mặt dài, nụ cười diụ dàng, bỏ hẳn tóc quăn dài chỉ cho tóc soắn ốc, cánh tay và ngón tay thon dài hơn duy vẫn giữ trái tai dài. Áo trong suốt như lụa ướt. Cũng từ Gupta, nghệ sĩ cho Phật đưòng cong tròn trịa, thân hình nhỏ nhắn, mặt tươi tỉnh không có vẻ đe doạ của các vị thánh thần giáng cả phước lẫn hoạ. Nghệ sĩ vô danh lưu lại pho tượng có giá trị ngàn năm không chỉ lắng nghe lời Phật, còn lặng lẽ hóa thân trong trăm ngàn nỗi đau đớn lẫn hạnh phúc của kiếp người mới có thể tạc đưọc bức tượng kế bên: êm nhưng không thảm, vẻ dịu dàng như nước mắt ni cô nhỏ xuống trang kinh. Nghệ sĩ và Phật có vẻ thấu nỗi niềm nhau, bàn tay tài hoa cho đôi mắt Phật khép như chẳng biết gì dù thấy hết cả hạnh phúc đạm bạc lẫn sân hận tràn trề cõi nhân gian. Lời khuyên của Phật trước sau vẫn thế nhưng vẻ dịu dàng của tượng Phật khiến nhân gian mủi lòng rộn ràng nghiêng đổ xuống bao xiết gánh sầu.

Pho tượng Sultanganj đi lạc
Bức tượng cực hiếm Sultanganj Buddha, cao 2.3m, bề ngang 1m,  nặng 500 kg, bằng đồng đổ khuôn, phong cách Gupta, áo Phật rất mỏng như in vào người, có niên đại từ thế kỷ thứ 5 đến thứ 7. Tay phải giơ lên “Đừng Sợ”, tay trái ngửa dấu hiệu Phật đang ân cần lắng nghe tiếng thở than.
Pho tượng được các tăng nhân Phật giáo chôn dấu không cho lọt vào tay các phần tử quá khích mới nổi theo đạo Muslim, vào những năm 700SCN. 1200 năm sau, năm 1862 ở tỉnh Sultanganj, Bắc Ấn Độ. Kỹ sư E. B. Harris, người Anh, thuộc công ty East Indian Railway, cho đào đất sâu tới 10m đặt đưòng rầy xe lửa. Thình lình ông nhận ra một khối đá cứng hơn đất chung quanh. Cẩn thận ông dò từng chút cho đến khi khuôn mặt bình thản của pho tượng lộ ra. Đồng nghiệp khuyên nên bỏ pho tưọng trở lại hố đất. Trong một sát na định mệnh, ông Samuel Thornton, một thương gia người Anh nghe tin tức tốc đến tận nơi, trả giá 200 bảng Anh. Sau đó, Samuel Thornton trở thành thị trưỏng Birmingham/London. Năm 1867, ông di chúc tặng hết di sản cho Birmingham Museum and Art Gallery. Bức tượng hiện vẫn ở đó, cách xa quê mẹ nửa vòng trái đất.

Pho tượng Óc Eo (thuộc tỉnh Tiền Giang)
Nhân pho tượng Sultanganj, tượng cổ Óc Eo có thể nói lên đôi điều về lịch sử miền Nam VN, chỉ hơi tiếc…
Năm 1913, người Pháp làm đường, dân chúng đào sâu 2m tìm đưọc một pho tượng bốn tay có rắn Naga 7 đầu làm tán che, cao 1.7 m, gần chợ Ba Thê, nay thuộc tỉnh Tiền Giang. Ngườì Khmer điạ phương cho khiêng lên núi để thờ. Cũng tìm được hai tấm bia làm bằng đá bùn/mudstone (4), kích thước 1,80m x 0.22m có khắc chữ cổ, mà các học giả cho là có thể của dân tộc Phù Nam. Cả hai cổ vật được định tưổi từ TK thứ II đến thứ VI SCN.
Ban đầu, tượng có màu đen của loại đá cổ (?)  Sau khi khai quật, tưọng bị đắp thêm phần chân, tượng và đầu rắn Naga còn bị sơn màu đỏ chói loè loẹt. Còn hai tấm bia “Lo sợ bị đánh cắp, nên người ta cho ốp dính hai tấm bia vào bệ thờ, nên chẳng hiểu mặt bia bị ốp, có chữ nghĩa hay hình ảnh gì nữa không (7). Có lẽ những nhà khảo cổ chỉ đành thở dài nhai râu mà khóc. Ai thương hoa tiếc ngọc thấy lòng mềm như sợi dây đàn bỏ quên.
Nếu là tưọng Phật được thần rắn 7 đầu Naga che mưa khi đang ngồi thiền, thì Phật chỉ có hai tay. Chữ trên bia, có thể là chữ Sankrit, Pali, Hy Lạp, Brahmi, Parthhian, hay Kushans…do những tăng lữ và thương nhân Bà La Môn hay Phật giáo mang tới vương quốc Phù Nam từ thế kỷ thứ 2 đến thứ 6.  Hơi tiếc, tài liệu tiếng Việt ít lưu ý đến địa lý/lịch sử/sắc tộc, thường chỉ đơn giản “người Ấn Độ” nên khó truy tầm.
Nếu không sơn phết, các chuyên viên có thể đoán đưọc đá điạ phương hay đá vùng nào bên xứ Ấn Độ. Núi Sập và núi Ba Thê có loại đá cẩm thạch (marble) có thể dùng tạc tượng. Loại đá này có nguồn gốc là đá vôi/limestone (4), sau quá trình biến chất vài triệu năm trở thành “đá biến chất/metamorphic rock”. Đá biến chất có chứa nhiều hình thể kiến trúc rất đẹp, đưọc gọi nhiều tên khác nhau tuỳ theo bề ngoài hay mầu sắc: đá vôi, đá hoa, đá cẩm thạch. Đá cẩm thạch trắng dùng tạc tưọng ở vùng Ngũ Hành Sơn nổỉ tiếng ở miền Trung VN có cấu trúc tương tự.
Hiện nay tượng và bia đá để ở chùa Linh Sơn, núi Ba Thê nơi đưọc Louis Malleret đặt tên mới là Óc Eo năm 1942 sau khi tìm thấy nhiều di chỉ về “vương quốc Phù Nam”. Năm 1988, Bộ Văn hóa công nhận là di tích nghệ thuật kiến trúc, dù vẻ cổ kính lịch sử đã mất. Pho tượng nếu giữ nguyên, là một kho tàng vô giá của lịch sử Nam VN và góp phần làm giàu cho tri thức thế giới vốn khá nghèo nàn về lịch sử một thời vang bóng của đồng bằng Cửu Long. Vai trò/ý kiến của giới chuyên môn (khảo cổ/địa chất/ngôn ngữ… ) nếu được tôn trọng hơn có thể tránh đáng tiếc tương tự.

Đền Thendayuthapani Hindu tại Saigon
Ở Saigon, từ khoảng nửa TK 19 đến đầu TK 20, cộng đồng người Ấn Độ rất lớn. Họ đến Saigon ồ ạt sau khi người Pháp chiếm Đông Dương từ 1862. Đa số là người Tamil từ miền Malabar và Pondichery, vùng duyên hải phía Nam Ấn Độ, thuộc địa của Pháp thời đó. Cũng có cả người Shiks.
Ngưòi Ấn ở Saigon theo Hindu và Muslim. Họ làm tài xế, cảnh sát, buôn bán vải vóc, tiệm cầm đồ, đổi ngoại tệ. Người Pháp gọi xe ngựa do người Ấn và người Chămpa điều khiển là Malabar. Đa số người Ấn sống ở Chợ Cũ. Một số lớn cửa hàng và khu dân cu tập trung ở đường Rue Ohier (Tôn Thất Thiệp) rải rác phía bên kia đường Charner (Nguyễn Huệ) và đường Catinat (Đồng Khởi), đường Amiral Dupré (Đông Du).  Trên đường Amiral Dupré, một đền thờ Hồi giáo vẫn còn sinh hoạt cho tới nay. Sau 1975, số lưọng người Ấn Độ giảm trầm trọng
Đền Thendayuthapani tĩnh lặng và rất êm đềm ngay tại trung tâm Saigon, số 66 đường Tôn Thất Thiệp, góc đường Pasteur. Thần Thendayathapani, còn có tên Muruga. Ngườì Tamil ở Nam Ấn Độ, Singapore, Sri Lanka, Malaysia và Mauritius thờ phượng không chỉ vì thần ban sự giàu sang và hạnh phúc, mà còn vì thần đại diện cho nhan sắc, tình yêu và đức hạnh.
Trong đền có một cỗ xe ngựa trang hoàng rực rỡ. Những hình ảnh lưu giữ đầu thế kỷ 20 ở Saigon, ngày lễ Festival of Light, tượng nữ thần Meenakshi có các nam thần hầu cận, dung nhan sáng rỡ y trang diễm lệ, ngự trên cỗ xe ngựa kết hoa đèn. Đám rước này có thể sánh với đám rước tương tự ở Malaysia và Singapore. Đám rước nguyên thủy ở Ấn Độ luôn ở gần hồ nước, cỗ xe được thả xuống hồ bồng bềnh trôi giữa lung linh ánh nến réo rắt thánh ca.
Đền có cả tượng Phật và tượng thần Hindu, niên đại cuối thế kỷ 19-giữa TK 20. Trên tường treo di ảnh của Mahatma Gandhi, người bền bỉ tranh đấu bất bạo động dành độc lập cho Ấn Độ từ tay người Anh năm 1947. Gần bên, chân dung nhà thơ Tagore, người trải thơ từ đỉnh Himalaya xuôi xuống sông Indus sông Hằng. Có lẽ ảnh hưỏng Hindu “Hãy yêu trần gian điên dại này cho đến chết”, Tagore viết, “Let your life lightly dance on the edges of time like dew on the tip of a leaf.” Chữ nghĩa thi sĩ ai hiểu sao cũng được “Dù nghiêng ngả cuộc đời vẫn đẹp. Hãy nhảy múa bên lề thời gian và yêu đến giọt cuối cùng trước khi rơi xuống như nụ sương mai trên lá rồi sẽ tan biến dưới ánh mặt trời”.
Ngôi đền Hindu đột khởi giữa lòng Saigon, xanh màu đá turquoise tươi sáng của xứ Ngàn Lẻ Một Đêm. Tuy tài chánh không còn đưọc như xưa vẫn giữ đưọc nét đẹp huyền bí trang nghiêm. Khách viếng thăm đa số là du khách.
Saigon thật sự là một thành phố quốc tế không kém HongKong và Singapore. Saigon giờ đây phát triển thật nhanh, huy hoàng mới đưọc xây cất trên những huy hoàng cũ. Nếu đôi khi đạp đổ pho tưọng, cũng cần phải giữ laị cái bệ thờ, điều này đã không xảy ra ở Saigon năm 2011.
* * *
Thế giới, “Hằng Hà sa số/nhiều như cát sông Hằng” văn minh/vương quốc rực rỡ rồi tàn lụi. Duy chỉ những nghệ sĩ vô danh, những tiểu vũ trụ đưa tay hứng lấy thiên tài của mình, mới lưu cho đời một kho tàng hơn hết thẩy sự vương giả giàu sang trên trái đất. 
Vẻ đẹp của những pho tượng ngồi đó ngàn năm – không trách không phiền không hăm không doạ không hứa không hẹn không họa không phúc không ghét không yêu – phải chăng là sự im lặng tuyệt đối, mặc cho nhân gian hoang tưởng tô vẽ ngàn điều huyền bí, mặc cho nhân gian yếu đuối vay mượn đôi chút vỗ về trước khi gượng đứng dậy tự mang lấy gánh nặng ngàn cân?
 
Trần Thị Vĩnh-Tường & Nguyễn Đức Hiệp                                                                                                                                                          
(Mùa xuân 2011)
 ———————————————–
Chú thích:
(1) Khuynh hướng hiện nay không dùng BC/Before Christ/Truớc Thiên Chúa và AD/Anno Domini/Sau Thiên Chúa nữa. Thay vào đó, dùng BCE/Before the Common Era/Trước Công Nguyên và CE/Common Era/Sau Công Nguyên, dựa trên lịch đang dùng 
(2) http://www.jattworld.com/online/birds-eye-view-of-jatt-history
( 3) Nguyễn Đức Hiệp – Hoàng Đế Ashoka Đã Sống Lại Như Thế Nào? 08/2008.  http://vietsciences.org/timhieu/lichsu-khaoco/hoangde-ashoka.htm
(4) Có vài loại đá nhắc tới trong bài này:
a. Sedimentary rock/đá trầm tích. Loại đá thành hình do bề mặt của trái đất bị gió hay nưóc mưa ăn mòn và mang những chất lắng đọng xuống đáy sông đáy biển hay những vùng trũng. Những chất trầm lắng tự sàng lọc thành những lớp (bedding) có cùng độ hạt kết dính với nhau bằng những chất mịn hơn, lâu ngày trở thành đá.  Những đá sau đây đều thưộc đá trầm tích:
-Đá cát/Sa thạch/Sandstone có độ cứng là 6.5 đến 7 – so với kim cương là 10 – cứng nếu chất kết dính là silic, hay mềm hơn nếu là đất sét. Gọi là sandstone: đá cát, vì độ hạt bằng hạt cát, tức khoảng 1.16mm đến 2mm.
-Đá bùn/Mudstone: kết tinh từ đất sét hay bùn, hạt rất mịn, chỉ từ  0.0625 mm, mắt thường không nhìn thấy.
– Đá vôi/Limestone. Hiếm hơn sandstone, nhiều công dụng hơn, đắt hơn các sedimentary rock khác, độ hạt thay đổi tuỳ loại.
b. Metamorphic rock: đá biến chất. Trong quá trình vỏ trái đất biến đổi do sức đẩy từ bên dưới lòng đất và sức nặng của vật liệu bên trên cung cấp nhiệt độ và áp suất taọ thành đá biến chất. Đá biến chất có nhiều loại tùy thưộc vào loại đá nguyên thuỷ. Thí dụ đá cẩm thạch biến chất từ đá vôi, đá mắt mèo biến chất từ đá magma (hay granite). Shist là đá biến chất, có chứa nhiều mica, gồm nhiều lớp chồng lên nhau
(5) Basilov, Vladimir – Nomads of Eurasia, Natural History Museum of Los Angeles County and University of Washington Press, California 1989
 (6) Rej, Anup – The Royal Norwegian Embassy, Bangkok – Scythians and Sarmatians, Migration of the Aryan Tribes. http://www.worldmultimedia.biz/Culture/yuechih%20sakas%20kushans.pdf
(7) http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%B9a_Linh_S%C6%A1n_%28Ba_Th%C3%AA%29
 
Đã đăng:
Nghệ Thuật Điêu Khắc Phật Giáo Tự Thuở Bình Minh (phần I)

® Phải có sự đồng ý của tác giả cũng như ghi rõ nguồn khi bạn phát hành lại thông tin từ website này

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s