Bích Vân – Trang Khoa Học-Kỹ Thuật

Mỗi ngày một chút thể dục để tăng tuổi thọ
Những lợi ích của tập thể dục thì mọi người đều biết từ lâu, thế nhưng các nghiên cứu gia tại Đài Loan lại vừa, thêm một lần nữa, chứng minh cho chúng ta thấy những lợi ích của sự tập thể dục. Bác sĩ Chi Pang Wen và các cộng sự viên thuộc viện Khảo cứu Sức khoẻ Quốc gia đã thực hiện một cuộc nghiên cứu so sánh thói quen tập thể dục của 416.175 người dân tại Đài Loan gồm 199.265 nam và 216.910 nữ. Phân loại họ ra thành 5 nhóm từ hoàn toàn không, đến ít hoạt động, cho đến tập thể dục thường xuyên và tích cực. Những thiện nguyện viên tham dự cuộc nghiên cứu đã được theo dõi sát trong suốt 8 năm và được yêu cầu mỗi tuần phải trả lời những câu hỏi đã định sẵn. Kết quả cho thấy những ai tập thể dục 15 phút mỗi ngày có hy vọng kéo dài tuổi thọ trung bình thêm 3 năm nữa. Thậm chí những ai mới bắt đầu tập tành thể dục dù chỉ 15 phút mỗi ngày cũng đủ để giảm 14% nguy cơ tử vong của hầu hết các bệnh tật đang có sẵn trong người; hơn thế nữa, các nguy cơ còn giảm thêm 4% cho mỗi chặng kéo dài thêm 15 phút tập thể dục. Những lợi ích này được dành cho cả phái nam lẫn phái nữ ở tất cả mọi lứa tuổi, kể cả những người có các bệnh về tim mạch. Và ngược lại, những người không bao giờ tập thể dục có nguy cơ tử vong tăng 17% so với những người có tập thể dục, dù chỉ tập rất ít và vận động rất nhẹ như đi bộ.
Tất cả chi tiết cuộc nghiên cứu của Bs Chi Pang Wen vừa được đăng trên tạp chí Y khoa The Lancet. (BV)
 

22.08.2011

Vi khuẩn trong âm đạo có thể ngăn ngừa lây nhiễm HIV
Bằng cách thay đổi gen của những vi khuẩn Lactobacillus jensenii trong âm đạo để những vi khuẩn này sản xuất ra một protein có thể tiêu diệt siêu vi HIV (Human immunodeficiency virus), các khoa học gia thuộc viện Y tế quốc gia Hoa kỳ vừa đạt được một thành công rất đáng kể trong trận chiến chống bệnh liệt kháng. Phần lớn những trường hợp lây nhiễm là do quan hệ tình dục không an toàn nên siêu vi HIV có thể xâm nhập vào âm đạo, nơi có vi khuẩn Lactobacillus jensenii (bacterial vaginosis).
Trong một loạt thử nghiệm thực hiện với những con khỉ cái, các chuyên gia đã xức một loại gel có chứa những vi khuẩn Lactobacillus jensenii đã bị thay đổi gen vào âm đạo của những con khỉ. Và sau khi bôi gel, họ đã cho siêu vi HIV vào trong âm đạo của những con khỉ cái. Kết quả ghi nhận được rất khả quan vì các trường hợp lây nhiễm HIV nơi những con khỉ cái đã giảm được 63%. Các khảo cứu gia Hoa kỳ rất lạc quan cho rằng nếu thử nghiệm xức gel chứa vi khuẩn lactobacillus jensenii (đã bị đổi gen) cho phụ nữ thì chắc chắn nguy cơ lây nhiễm HIV sẽ còn giảm nhiều hơn nữa vì phụ nữ vốn đã sẵn có số lượng vi khuẩn âm đạo nhiều gấp 10 lần hơn những con khỉ cái, do đó những lactobacillus jensenii sẽ chống trả lại HIV một cách hiệu quả hơn.
Trên tạp chí Mucosal Immunology, các chuyên gia cho biết còn phải chờ vài năm nữa, sau nhiều thử nghiệm lâm sàng để thử độ an toàn nơi người, mới có thể xem là gel đã hoàn toàn thành công trong nhiệm vụ phòng chống được siêu vi HIV của bệnh liệt kháng. (BV)

 
Bắt và giết muỗi với mùi vớ thối
Chúng ta đã biết là những con muỗi cái thích nhất là chích vào phần chân, vì các vi khuẩn ở chân thường tiết ra đủ loại mùi khác nhau rất hấp dẫn đối với loài muỗi. Khảo cứu sinh Fredos Okumu, thuộc Ifakara Health Institut tại Tansania, trong tuần vừa qua cho biết đã phát minh thành công một thiết bị, giống như một cái giỏ nhỏ, phát ra mùi vớ thối để “quyến rũ” những con muỗi gây bệnh sốt rét (malaria) rồi tiêu diệt chúng. Theo giải thích của Okumu, loài muỗi không thể phân biệt được mùi toát ra từ người, hay mùi nhân tạo từ máy toả ra. Nên nếu thử đặt thiết bị mới phát minh của Okumu trước nhà, rồi vặn máy lên để cho toả ra “mùi khăm khẳm như mùi vớ thối”, chúng ta sẽ thấy từng đàn muỗi khi ngửi thấy mùi sẽ lao nhanh vào máy để rồi bị chết, chỉ trong một thời gian ngắn sau khi chui vào rọ. Thiết bị mới này rất có thể trong tương lai gần đây, theo nhận định của giám đốc Peter Singer của tổ chức thiện nguyện phi chính phủ Grand Challenges Canada, sẽ là một trong những khí giới hữu hiệu để phòng chống những bệnh truyền nhiễm tại các vùng nhiệt đới, như mùng màn hoặc các loại thuốc xịt côn trùng và xịt muỗi. 
Tổ chức thiện nguyện Grand Challenges Canada và của Bill & Melinda Gates Foundation vừa tài trợ 775 ngàn mỹ kim cho Fredos Okumu để thực hiện những cuộc thử nghiệm sâu rộng hơn về sự hữu dụng của “giỏ bốc mùi giết muỗi” tại các làng mạc nghèo ở xứ Tansania, Phi châu. Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới WHO, trong năm 2009 có khoảng 781.000 người trên thế giới bị thiệt mạng vì bệnh sốt rét, mà 90% các trường hợp tử vong đều xảy ra tại các xứ Phi châu với 92% nạn nhân là những trẻ em dưới 5 tuổi. Muỗi cũng là thủ phạm chính gây ra những bệnh vô cùng nguy hiểm như sốt vàng da (yellow fiever) và sốt xuất huyết Dengue. (BV)

17.08.2011
Phòng thí nghiệm tí hon “bỏ túi” 
Phát hiện sớm các bệnh truyền nhiễm chẳng bao lâu nữa sẽ trở thành một công việc giản dị và nhanh chóng nhờ các khoa học gia Hoa kỳ vừa phát minh một phương pháp thử nghiệm máu, hoạt động với một vi mạch tích hợp (microchip), có thể phát hiện hàng chục thứ bệnh khác nhau, kể cả bệnh liệt kháng (HIV), sưng mủ lở loét (herpes) và bệnh giang mai (syphilis). Tấm microchip tên là “mChip” có kích thước chỉ nhỏ bằng tấm thẻ tín dụng (credit-card). Theo lời của bác sĩ Samual Sia thuộc viện đại học Columbia ở Nữu Ước, mChip đã được đem thử nghiệm với hàng trăm bệnh nhân của bệnh viện Muhima (tại thủ đô Kigali của xứ Rwanda ở Phi châu) và tỷ lệ phát hiện bệnh gần như 100%, một thành công mà chỉ những phòng thí nghiệm của bệnh viện mới đạt được. Chỉ cần một giọt máu duy nhất làm mẫu là đủ để mChip truy tầm những protein khác nhau có thể tố cáo những căn bệnh liên quan. Các kết quả xét nghiệm máu, được tấm mChip phân tích hoàn tất chỉ trong vòng vài phút, sẽ hiện ra trên một vạch mà các chuyên viên có thể nhìn thấy bằng mắt thường trên một “máy đọc kết quả”, nhỏ và xử dụng một cách rất dễ dàng như máy điện thoại di động. Có thể ví mChip như một phòng thí nghiệm tí hon phân tích máu, xử dụng kỹ thuật các hạt nano vàng và bạc kết hợp với một vi mạch, tất cả nằm gọn trong một cái hộp bằng nhựa. 
Trên tạp chí Nature Medicine, bác sĩ Sia cho biết chi phí sản xuất một tấm mChip -chỉ xử dụng một lần rồi bỏ- không vượt quá 1 mỹ kim (rẻ hơn gấp chục lần giá tiền xét nghiệm máu trong các phòng thí nghiệm của bệnh viện); còn máy đọc kết quả trị giá khoảng 70 đến 100 mỹ kim. Tuy nhiên giá thành của thiết bị xét nghiệm máu tí hon này còn tuỳ thuộc vào số lượng đơn đặt hàng, rất có thể sẽ còn rẻ hơn nữa, vì các chuyên gia hy vọng rằng trong tương lai mChip sẽ được xử dụng một cách hết rộng rãi tại châu Phi để phát hiện siêu vi bệnh liệt kháng (HIV-test) nơi những phụ nữ đang mang thai.  (BV)

09.08.2011
Mốt uống rượu bằng … mồm dưới !!!
Con số phụ nữ ngộ độc rượu phải chở vào bệnh viện điều trị mỗi ngày một tăng chỉ vì “mốt Wodka-tampon”, một lối uống rượu lạ đời và dại dột của các bà các cô thời đại mới bây giờ: một thỏi băng vệ sinh (tampon) tẩm đẫm rượu có nồng độ cồn cao nhất rồi nhét vào âm đạo! Một số thanh thiếu niên cũng điên rồ bắt chước theo (nhưng vì không có âm đạo nên …) nhét tampon vào hậu môn! Thoạt tiên các bác sĩ điều trị đã rất ngạc nhiên khi thấy nhiều trường hợp ngộ độc rượu mà trong bao tử lại không có một giọt rượu nào.
Mới đây tại vùng Constance thuộc tiểu bang Baden-Württemberg, Đức quốc, đã xảy ra một trường hợp một thiếu nữ bị ngộ độc rượu rất nặng, suýt mất mạng, vì rượu được hấp thu hết sức nhanh chóng qua niêm mạc âm đạo để trực tiếp đi vào máu. Các bác sĩ cho biết lối uống rượu qua âm đạo rất nguy hiểm vì “bợm nhậu” không thể kiểm soát được liều lượng rượu đi vào cơ thể như khi uống rượu bình thường qua miệng (nếu uống rượu qua miệng, khi thấy nhức đầu, trong người khó chịu và muốn nôn oẹ, ta có thể ngừng uống). Không chỉ thế, niêm mạc âm đạo sau đó còn bị tổn thương vĩnh viễn. Theo Viện Thống Kê của Đức quốc, những trường hợp ngộ độc rượu được ghi nhận trong năm 2009 đã tăng 2.8% so với năm 2008, nhưng nếu so với năm 2000 lại tăng 178%; tất cả nạn nhân đều là thanh thiếu niên, cả nam lẫn nữ, trong lứa tuổi từ 10 đến 20.
Thật ra phương pháp “uống rượu qua âm đạo” không phải là mới lạ, vì từ năm 2008 trong chương trình (http://www.youtube.com/watch?v=ZBhrpBNuB1o) The Doctors TV Show của đài truyền hình Hoa kỳ đã phát hình một buổi thảo luận với đề tài “uống rượu qua hậu môn và qua âm đạo”. (BV) 
 
 
Phát minh máy mới chỉ trong vòng một giờ có thể xác định DNA
Báo The Telegraph của Anh quốc vừa loan tin khoa học gia Steve Allen và các cộng sự viên thuộc LGC Forencis (Laboratory of the Government Chemist) của Anh quốc vừa phát minh thành công một loại máy mới, gọi là RapiDNA, có thể xác định DNA của người chỉ trong vòng một giờ từ những vết máu rơi rớt lại nơi phạm trường, từ một mẩu da hoặc nước miếng. “Những dấu vết của tội phạm” được đặt vào trong thiết bị RapiDNA, ngay tại phạm trường (vì kích thước của thiết bị RapiDNA chỉ nhỏ bằng một cái hành lý xách tay khi đi máy bay nên có thể đem theo một cách dễ dàng), và những kết quả phân tích có được sẽ được chuyển tiếp ngay đến ngân hàng lưu trữ DNA để được tự động so sánh và xác định ngay tức khắc.
Tiến sĩ Steve Allen, giám đốc LCG Forencis, rất lạc quan cho biết: “Cho đến nay, thường thì phải chờ 3 ngày mới có được kết quả xác định DNA. Nhưng nay nhờ RapiDNA xác định được nhanh chóng nên chúng ta có thể sớm truy tầm được tung tích của tội phạm và bắt được chúng trước khi chúng lại ra tay phạm tội thêm một lần nữa. Ngoài ra, máy RapiDNA còn có thể xử dụng, ví dụ như sau những cơn thiên tai, để xác định danh tính của các nạn nhân mau lẹ hơn. Hiện nay chúng tôi đang thử nghiệm nguyên mẫu (prototype) của thiết bị RapiDNA và nếu mọi thử nghiệm đều thành công thì khoảng một năm nữa sẽ bắt đầu sản xuất hàng loạt máy RapiDNA. Chúng tôi cũng xin nhấn mạnh rằng, trong tương lai, máy rapiDNA cũng có thể đem ra xử dụng trong những trường hợp mà đa số không cần thiết phải xác định DNA, ví dụ như các trường hợp ăn trộm vào nhà hoặc ăn trộm xe ô-tô.  (BV)

31.07.2011

Tại sao nhện già không thể dệt mạng?
Các khảo cứu gia của đại học Nancy (tại vùng Lorraine ở Pháp) vừa khám phá ra rằng những con nhện khi đã già không còn khả năng dệt “mạng nhện” khéo léo như lúc còn … xuân thì. Họ đã khảo sát những mạng lưới nhện do những con nhện loài Zygiella x-notata, thuộc họ Araneidae, ở mọi lứa tuổi dệt thành. Những lưới nhện được “đánh giá” và so sánh qua hình dạng, sự cân xứng đều đặn, và số lượng những cái lỗ (rách) trên mạng lưới. Và các chuyên gia đã kết luận rằng: “Những con nhện Zygiella x-notata, rất thường thấy ở khắp các quốc gia tại Âu châu, khi đã già không còn đủ sức để chăng dây tơ một cách chính xác nên khung lưới nhện không đều đặn và có nhiều lỗ thủng. Loài nhện chỉ sống được trung bình trên dưới một năm là … chết. Chỉ sau khoảng 4 tháng tuổi, loài nhện Zygiella x-notata đã bắt đầu trở nên vụng về, không “giăng tơ dệt lưới” được hoàn hảo nữa và trên mạng nhện bắt đầu xuất hiện các lỗ rách, thủng lỗ chỗ. Sau 8 tháng tuổi thì nhện giăng tơ một cácg “hết sức tệ” và các khung tơ gần như không đứng vững nổi!   
Mylène Anotaux, trưởng nhóm nghiên cứu, phỏng đoán rằng chính là vì sự thoái hoá của não bộ những con nhện già đã gây ra sự vụng về trong công việc giăng tơ dệt lưới để bắt mồi. Nếu so sánh với loài người, tình trạng chân tay “lóng ngóng, vụng về” cũng sẽ xuất hiện khi chúng ta già đi, khi não bộ chúng ta bị thoái hoá.  (BV)

25.07.2011

Tại sao da ngón tay nhăn nheo khi ngâm nước lâu?
Salt Lake City – Bất cứ ai đã từng tắm lâu hoặc ngâm tay (hay chân) lâu trong nước đều biết điều đó: sau một thời gian nhất định, những nếp nhăn hiện ra trên da mấy đầu ngón tay (hay chân). Rất may là những “nếp nhăn kỳ cục” này biến mất sau đó ít lâu. Các khoa học gia Hoa kỳ vừa thực hiện một cuộc nghiên cứu để hiểu nguuyên nhân tại sao da lại rúm ró khi ngâm nước lâu, và họ cho rằng các nếp nhăn ở da mấy đầu ngón tay (hay chân) nảy sinh khi ngâm trong nước lâu, rất có thể bắt nguồn từ thuyết tiến hoá, nghĩa là có một chức năng tiến hoá. Nói một cách cụ thể hơn, như các khảo cứu gia thuộc đại học Utah tường trình trên báo Huttington Post, các nếp nhăn hiện ra trên da là để chúng ta dễ cầm, dễ nắm chặt một vật gì đó lúc tay đang ướt. Có thể so sánh các nếp da nhăn như các lằn rãnh của một vỏ xe ô-tô; rãnh càng sâu càng giúp ô-tô dễ bám đường, tránh cho xe không bị trơn trượt khi đường ướt đẫm. Bác sĩ Mark Changizi (một nhà thần kinh học nổi tiếng về lý thuyết “ảo ảnh quang học = optical illusion” và là tác giả quyển The Revolution Vision) sau khi nghiên cứu kỹ các hình chụp những ngón tay đã ngâm lâu trong nước, giải thích thêm rằng các rãnh, hoặc nếp nhăn trên da, được xem như một con kênh để dẫn chuyển nước, để nước chảy thoát đi. Nếu phân tích kỹ và so sánh rất chi tiết những nếp gấp ở da tay trên các hình chụp, chúng ta sẽ thấy rằng da nhăn lại thành những nếp gấp thẳng đứng với chiều các ngón tay, để từ đó nước có thể dễ dàng chảy thoát đi.
Nhiều cuộc khảo cứu trước đây cho thấy những người bị tổn thương giây thần kinh ở tay, hay ở chân, đều không có những nếp nhăn trên da mấy đầu ngón tay hay chân khi bị ngâm lâu ở trong nước. (BV)

 
Cuộc sống không lành mạnh dễ đưa tới rối loạn cương dương

Một cuộc nghiên cứu do các khảo cứu gia Hoa kỳ thực hiện cho thấy những thói quen xấu trong lối sống không lành mạnh, ví dụ như ít tập thể dục, nhậu nhẹt thường xuyên, nghiện thuốc lá hoặc ghiền ma tuý, v.v… rất dễ đưa tới những khó khăn trong “quan hệ gối chăn” nơi phái nam. Ngoài ra, các khảo cứu gia còn cho biết lối sống không lành mạnh như vậy lại rất thường thấy nơi những người “không mấy sốt sắng trong sinh hoạt phòng the”, đặc biệt là những người có thân hình phì nộn có nguy cơ rối loạn cương dương đến 71%!
Những người (dại dột) tiêu thụ loại ma tuý nặng bị ảnh hưởng nhiều hơn cả, vì nguy cơ rối loạn cương dương tăng gấp 8 lần, so với những người bình thường. Phụ nữ nếu thường xuyên xử dụng cần sa cũng khó có thể đạt được “cảm giác cực khoái”; xác suất các bà/cô ghiền ma tuý có thể leo lên tận “đỉnh núi Vu Sơn” cũng chỉ còn 30%. (BV)    
 
07.07.2011

Tin mừng cho những người bị bệnh Tiểu Đường loại 2
Tiểu Đường loại 2 là một bệnh nguy hiểm làm giảm thọ và thường đưa đến tình trạng phải cắt bỏ một phần cơ thể, mắt trở nên mù, dễ bị truỵ tim và đột quỵ, .v.v… Các khảo cứu gia người Anh cho rằng một chế độ ăn uống kham khổ có thể chữa lành bệnh Tiểu đường loại 2 nơi những người đã trưởng thành, mà không cần phải uống bất cứ một thứ thuốc nào (xin chia buồn cùng các công ty dược phẩm và thực phẩm!) Chỉ cần giữ vững tinh thần để vượt qua được giai đoạn ăn uống kiêng khem: liên tục trong vòng hai tháng chỉ được phép ăn khoảng 600 calories mỗi ngày. Tuy rất khó có thể theo đuổi một chế độ ăn uống ít ỏi như thế, nhưng các khảo cứu gia quả quyết rằng kết quả rất đáng để thực hiện: trong số 11 thiện nguyện viên bị bệnh Tiểu Đường đã nhiều năm, sau khi tham dự “chế độ ăn uống hạn chế”, đã có 7 người hoàn toàn không còn bất cứ triệu chứng nào của bệnh Tiểu Đường. Quả là tin mừng cho những bệnh nhân bị Tiểu đường loại 2. Vì khi chúng ta ăn nhiều hơn số lượng calories mà cơ thể “đốt cháy” thì số lượng calories dư thừa sẽ được lưu trữ ở gan và ở tuyến tuỵ tạng dưới dạng mỡ; đối với một số người, điều này có thể gây ra bệnh Tiểu Đường. 
Mặc dầu kết quả rất đáng khích lệ nhưng đa số các chuyên gia y tế đều cho rằng phương pháp nhịn ăn nhịn uống này rất khó có thể áp dụng, và tiên đoán rằng chỉ chừng 5 đến 10% những người theo đuổi có thể “vững lòng” trong suốt hai tháng trời dài đăng đẵng! Và nghiên cứu này chỉ mới dựa trên quá ít trường hợp nên cần phải thực hiện thêm nhiều khảo cứu nữa mới có thể xác định được. Và một điều quan trọng hơn nữa là chế độ ăn uống (vô cùng) kham khổ như thế phải được thực hiện dưới sự giám xét của các chuyên viên y tế. (BV)
 
 
Botox có thể chế ngự cơn hen suyễn?
Một nghiên cứu từ nước Úc cho thấy chất Botox có thể giảm bớt những khó thở khi lên cơn hen suyễn. Chất Botox (botulinumtoxin), là một chất độc thần kinh do vi khuẩn Clostridium botulinum tiết ra, thường được biết đến như một phương thuốc được xử dụng trong ngành thẩm mỹ để làm giãn các vết nhăn trên da mặt (anti-aging). Thế mà các khoa học gia thuộc đại học Monash tại Melbourne lại cho rằng chất Botox cũng có thể được xử dụng để trấn áp những cơn khó thở của bệnh suyễn, vì họ vừa khám phá ra là hơn một nửa số người bị bệnh suyễn nặng đã cảm thấy bớt rất nhiều sau khi được chích thử nghiệm chất Botox vào các dây thanh âm: nhờ chất Botox, các cơ thanh quản được thư giãn nên những cơn hổn hển khó thở cũng do đó giảm bớt hẳn.
Theo tin của thông tấn xã ABC News tại Úc, các khảo cứu gia vẫn tiếp tục theo dõi và so sánh những kết quả này trong một vài tuần nữa với một cuộc thử nghiệm khác: một nhóm 30 tình nguyện viên bị bệnh suyễn sẽ được liên tục chích chất Botox vào dây thanh âm trong một vài tháng; một nhóm khác gồm 30 bệnh nhân chỉ được chích thuốc giả dược (placebo). Các khảo cứu gia cũng cho biết phương pháp chích Botox vào dây thanh âm không thể nào chữa lành hẳn bệnh hen suyễn, mà chỉ có thể làm giảm bớt cường độ của những cơn khó thở.  (BV) 
 
Đến năm 2030 chúng ta sẽ gặp người ngoài hành tinh
Andrei Finkelstein, một nhà thiên văn học nổi tiếng và là giám đốc của viện Thiên văn học uy tín thuộc viện hàn lâm khoa học của nước Nga, quả quyết rằng 20 năm nữa chúng ta sẽ được gặp những người ngoài hành tinh. Và ông giám đốc cho rằng ông biết rõ những gì ông nói, trong một cuộc họp các chuyên gia quốc tế với chủ đề Đi Tìm Sự Sống Ngoài Trái Đất.
Nói rằng: “10% tất cả các hành tinh quay quanh mặt trời được biết đến trong dải thiên hà của chúng ta đều tương tự như trái đất. Nếu trên những hành tinh đó có nước thì cũng có nghĩa là có sự sống. Nên tôi nghĩ rằng trong một tương lai gần đây chúng ta sẽ không tránh khỏi “tìm thấy họ!” Chậm nhất là 20 năm nữa. Họ có hình dạng như thế nào ư? Có lẽ người ngoài hành tinh có nhiều điểm tương đồng với loài người chúng ta, nghĩa là họ cũng có hai chân, hai tay và một cái đầu. Nhưng cũng có thể họ không có mầu da giống chúng ta… mà mầu da chúng ta cũng có giống nhau tất cả đâu!”
Giáo sư Finkelstein còn cho rằng, theo đăng tải của nhật báo Sun của Anh quốc, giới khoa học gia đã sai lầm trong phương cách tìm kiếm sự sống ngoài trái đất. Vì hầu hết tất cả chuyên gia cứ mải tìm kiếm những tín hiệu mà người ngoài hành tinh chuyển đi, trong khi giáo sư Finkelstein tin ngược lại rằng chính chúng ta phải chuyển tín hiệu đến cho họ, tìm cách liên lạc với họ! Ngay từ thập niên 60, viện Finkelstein đã gửi những tín hiệu radio vào không gian và vẫn hy vọng nhận được câu trả lời từ những người ngoài hành tinh. Chắc cũng sắp nhận được, biết đâu trong vòng 20 năm nữa, như lời tiên đoán của giáo sư Finkelstein?  (BV)
  

04.07.2011
Các ông bố cũng bị trầm cảm sau khi có con
Cứ mười ông vừa lên chức bố lại có một ông mắc bệnh trầm cảm. Viện Fatherhood Institut (của Anh quốc) tường trình với thông tấn xã BBC rằng không chỉ các sản phụ mới rơi vào tình trạng trầm cảm (tỷ lệ là 1 nạn nhân trên 7 sản phụ) như mọi người đã biết, mà cả các ông bố cũng thú nhận rằng có những cảm giác chán nản, lo âu khi sinh hoạt thường ngày bị đảo lộn, vì cả hai vợ chồng cùng phải đương đầu với hoàn cảnh mới đầy căng thẳng khi phải “lo liệu, chu toàn cho thành viên tí hon mới gia nhập”.  
Theo nhận xét của chuyên gia Adrienne Burgess, cả nam giới cũng ý thức rằng phải làm quen với lề lối sinh hoạt mới một khi em bé ra đời, nhưng khác với nữ giới, sự khủng hoảng tinh thần bắt đầu sớm hơn nơi nam giới, nghĩa là các ông chồng rơi vào tình trạng trầm cảm sớm hơn vợ, ngay trong thời kỳ vợ đang mang thai. Thiếu ngủ, cảm giác nhiều trách nhiệm mới đang đè nặng, cảm tưởng căng thẳng (stress) thường trực trong sinh hoạt thường ngày, .v..v… từ đó nảy sinh cảm tưởng “bị cho ra rìa, bị lãng quên” vì thấy người vợ luôn luôn là “trung tâm điểm được mọi người chú ý” khi em bé chào đời. Tình cảm vợ chông do đó cũng thay đổi ít nhiều …
Còn Liz Wise, chuyên gia tư vấn về bệnh trầm cảm sau khi sinh nở, lại khẳng định: “Các bà vợ có khuynh hướng cho rằng mình biết cách chăm sóc em bé tốt hơn, ví dụ như thay tã lót, cho bú mớm, v.v… nên ông chồng thường bị chê là vụng về. Và thậm chí trong nhiều trường hợp, người chồng không còn “được quyền” chăm sóc em bé khiến ông chồng đâm ra mang mặc cảm tự ti và thất vọng nên, về lâu về dài, ông bố không còn muốn “đụng vào người của con” nữa. Lẽ dĩ nhiên từ đó cũng nảy sinh những mâu thuẫn và xung đột trong quan hệ giữa hai vợ chồng. Và ông chồng, như thế, bị giam hãm trong cái vòng lẩn quẩn của bệnh trầm cảm … Cách thể hiện bệnh trầm cảm cũng khác nhau giữa hai phái. Phần lớn các bà vợ thường có xu hướng tỏ ra buồn rầu khi bị trầm cảm. Những dấu hiệu cho thấy bệnh trầm cảm nơi các ông chồng lại thường là uống rượu, nhưng cũng có khi tệ hại hơn nữa là … dấn thân vào một (hoặc những) vụ ngoại tình lăng nhăng! (BV)

Dịch Tả trâu bò từ nay chỉ còn … trong trí nhớ
Đây là lần thứ nhì trong lịch sử y tế, một chứng bệnh truyền nhiễm đã hoàn toàn biến mất trên toàn thế giới. Bệnh được gọi là bệnh Dịch Tả trâu bò Rinderpest (Rinder trong tiếng Đức có nghĩa là con bò). Ngược lại với bệnh Đậu Mùa được Tổ chức Y tế thế giới WHO chính thức tuyên bố khai trừ vào năm 1980, siêu vi của bệnh Rinderpest không tấn công người mà chỉ lan truyền trong thế giới động vật, từ những gia súc như dê, cừu và những con vật thuộc loài nhai lại như trâu, bò, v.v.. cho đến các con thú hoang dã như hươu, nai, linh dương, và thậm chí hươu cao cổ. Siêu vi của bệnh Rinderpest thuộc chi Morbillivirus, họ Paramyxoviridae, cùng loài với siêu vi của bệnh Sởi và siêu vi của bệnh Carré (canine distemper) thường gặp ở chó, ngựa, chồn, chó sói hoặc hổ beo bên Phi châu.
Siêu vi bệnh Rinderpest gây những triệu chứng tiêu biểu như sốt, chảy mủ lở loét trong miệng các con vật, tiêu chảy, hoại tử bạch huyết đưa đến nguy cơ tử vong rất cao. Trong trường hợp dịch bệnh lây lan trầm trọng nhất, theo đăng tải của tờ New York Times, bệnh Rinderpest có thể “vật chết” 95% các con vật trong một đàn trâu bò. Những cơn dịch bệnh Rinderpest khủng khiếp đã từng xảy ra vào thời cổ đại, bùng phát khắp toàn cầu từ cuối thế kỷ 11. Hơn 200 triệu trâu bò trên thế giới bị chết trong khoảng thời gian hai thập niên từ 1740 đến năm 1760, nên từ đó mới nảy ra ý tưởng thành lập trường thú Y đầu tiên trên thế giới năm 1761 tại Lyon, Pháp. Năm 1890 cũng có khoảng 90% trâu bò của toàn vùng Nam-Phi châu đã bị chết vì dịch Rinderpest. Cho đến tận năm 2001 là năm cuối cùng Rinderpest được ghi nhận ở Kenya; ở Âu châu lần cuối là năm 1954 tại Ý. 
Mặc dù vấn đề khai trừ (xoá sổ) dịch bệnh Rinderpest đã được Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp quốc (FAO = Food and Agriculture Organization of the United Nations) thông báo từ tháng Mười năm ngoái nhưng lễ tuyên bố chính thức xếp bệnh Rinderpest vào quá khứ chỉ mới vừa được tổ chức vào ngày 28 tháng Sáu vừa qua tại thủ đô Rome của Ý, với sự bảo trợ của Liên Hiệp quốc: Declaration of Global Freedom from Rinderpest, 37th FAO Conference. (BV) 

Bò nhân bản vô tình có thể cung cấp sữa người
Các khoa học gia, thuộc viện Kỹ thuật Nông nghiệp quốc gia Á-căn-đình tại Buenos Aires, cuối tuần vừa qua thông báo một con bê nhân bản vô tính (clon), được đặt tên là Rosita ISA, đã mở mắt chào đời với một “trọng trách cao cả” là sau này sẽ cung cấp sữa có thành phần cấu tạo không khác gì sữa “người mẹ”. Đây là một con bò cái, loài bò Jersey, được các khảo cứu gia cấy thêm hai Gen của con người, trong chuỗi tế bào di truyền, có nhiệm vụ sản xuất thêm hai protein thường thấy trong sữa người. Nói một cách cụ thể hơn, con bê đặc biệt này khi trưởng thành sẽ sản xuất ra sữa có chứa protein Lactoferrin và diếu tố Lysozym rất cần thiết cho hệ thống miễn nhiễm của trẻ sơ sinh để chống lại các bệnh tật. Theo tường trình của các khoa học gia, con bê con Rosita ISA đã “góp mặt với đời” từ ngày 6 tháng Tư bằng phương pháp mổ bụng bò mẹ vì cân (quá nặng) 45 kg, nặng gấp đôi những con bê sơ sinh bình thường chỉ cân khoảng 22 kg.
Bê Rosita ISA chưa chắc đã là con bê đầu tiên của thế giới có thể cung cấp sữa giống như sữa người như báo giới đang rầm rộ loan tin, vì vào những ngày cuối tháng Ba vừa qua báo China Daily cũng “khoe” các khảo cứu gia Trung quốc thuộc Phòng thí nghiệm quốc gia về kỹ thuật nông-nghiệp-sinh-học đang nuôi một bầy bê đặc biệt bị thay đổi Gen, gồm 200 con, khi trưởng thành cũng có nhiệm vụ cung cấp sữa có thành phần cấu tạo giống như sữa người, để hỗ trợ hệ miễn nhiễm các trẻ em sơ sinh (sữa bò bình thường không có những protein có đặc tính chống lại bệnh tật). Theo lời của Li Ning, trưởng nhóm khảo cứu, sữa bê đặc biệt này không chỉ dành riêng cho các trẻ em sơ sinh mà còn tốt cho cả người đã trưởng thành, và chỉ trong vài năm nữa có thể tung ra thị trường. Báo Daily Mail còn cho biết hiện nay bộ Nông nghiệp của Trung quốc đã bắt đầu cho uống thử để xác định độ an toàn của loại sữa bò đặc biệt này, và nếu trong vòng 22 tháng nữa (mà) những đặc tính miễn nhiễm quả thật được xác nhận thì chắc chắn dân chúng sẽ thấy sữa bò loại đặc biệt này bầy bán trên thị trường! (BV) 

24.06.2011

Đã “yếu” lại còn bị nguy cơ ngừng thở khi ngủ
Những ông “bất lực” (vì bất cứ nguyên nhân nào) rất dễ bị mắc hội chứng ngừng thở khi ngủ (Obstructive Sleep Apnea Syndrome: OSAS). Các bác sĩ thuộc trung tâm Mount Sinai Medical tại Nữu Ước, sau khi thực hiện cuộc nghiên cứu với 870 tình nguyện viên trong lứa tuổi trung bình khoảng 47 có chỉ số khối cơ thể BMI = Body Mass Index trung bình khoảng 30.2 (được xem là hơi đẫy đà), cho biết nguy cơ mắc bệnh OSAS cao hơn gấp đôi so với những người có đời sống sinh lý bình thường. Cuộc thử nghiệm đi đến kết luận là quả thật có một sự tương quan giữa nguy cơ mắc hội chứng ngừng thở khi ngủ OSAS và những người mắc sẵn các chứng bệnh rối loạn cương dương (ED = Erectile Dysfunction). Nói một cách giản dị hơn: bệnh ED càng nặng thì càng có nguy cơ mắc (thêm) hội chứng OSAS, do đó các bác sĩ khuyên những ông nào gặp khó khăn trong sinh hoạt sinh lý nên thường xuyên đi khám để chữa bệnh ngừng thở tạm thời OSAS trong khi ngủ. (BV)
 
Thức ăn mỡ màng là kẻ thù của những “bà bầu”
Những phụ nữ đang mang thai thích ăn các món nhiều dầu mỡ như khoai chiên, Hamburger, v.v… sẽ có nhiều nguy cơ bị sẩy thai. Các khảo cứu gia thuộc đại học Oregon, Hoa kỳ, cho biết vừa phát giác ra rằng cách ăn uống không lành mạnh của những bà mẹ tương lai có ảnh hưởng mạnh đến lưu lượng máu tới nhau thai là nguồn dinh dưỡng của thai nhi. Nhiều nghiên cứu trước đây cũng cho thấy hầu như tất cả những biến chứng xấu trong thời kỳ mang thai (từ sự tăng trưởng bất bình thường của bào thai đến sinh non hoặc sẩy thai), không nhiều thì ít, đều phát sinh từ các tổn thương của nhau thai. Theo tường trình của báo Endocrinology Journal, các khoa học gia người Mỹ đã thực hiện cuộc khảo cứu với những con khỉ cái của Nhật là một loại khỉ có nhau thai có cấu trúc rât giống với nhau thai của người. Trong thời gian thử nghiệm, một nửa nhóm khỉ (nhóm I) được nuôi bằng các thức ăn có nhiều chất béo, còn nửa nhóm khỉ kia (nhóm II) phải theo một chế độ ăn uống ít chất béo. Cuộc khảo cứu cho thấy những con khỉ trong nhóm I, dù mập hay gầy, đều có lưu lượng máu từ tử cung đến thai nhau giảm hẳn 56%, thậm chí có nhiều dấu hiệu thai nhau (placenta) bị viêm thường xuyên.    
Bác sĩ Antonio Frias, trưởng nhóm khảo cứu, giải thích: “Cuộc nghiên cứu chứng tỏ thói quen ăn uống của những bà mẹ tương lai có nhiều ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhau, và ảnh hưởng dây chuyền đến sự tăng trưởng của bào thai. Có nghĩa là thói quen ăn uống nhiều calories và giầu chất béo như hiện nay của phần đông các bà bầu rất nguy hiểm cho sự phát triển bình thường của thai nhi, dễ đưa đến sảy thai hoặc sinh non. Tuy nhiên chúng tôi vẫn cần phải thực hiện nhiều cuộc khảo cứu để hiểu tường tận hơn nữa chế độ ăn uống giầu chất béo đã cản trở sự lưu thông máu đến thai nhau như thế nào”. (BV)
  

18.06.2011
Các ông chuộng Viagra loại nào? thuốc viên hay gel trong bao cao su?
Một loại gel mới có sẵn trong bao-cao-su-Viagra, giúp cho quý ông “dai sức hơn”, rất có thể sẽ được tung ra thị trường tại Âu châu vào cuối năm nay, chỉ còn chờ giấy phép được chấp thuận của Liên minh Âu châu. Theo tường trình trên báo online AD của Hoà Lan, các chuyên gia phân tích (chưa chi mà “đã”) tin rằng loại bao-cao-su-có chứa-gel-Viagra sẽ là một phát minh rất quan trọng. Gel-chứa-trong-bao-cao-su có thể được hấp thụ qua da để kích thích sự lưu thông máu đổ dồn đến vùng hạ bộ và tăng cường sự căng cứng của dương vật. Gel “đặc biệt” này được đặt tên là CSD500 và tuy được hấp thụ qua da khi các ông “mặc áo mưa” nhưng xin các ông cứ yên tâm, các chuyên gia bảo rằng gel này vô hại vì sẽ không làm hại một mảy may gì đến “của quý của các ông”!   
Gel CSD500 không phải là thuốc tiên hoặc một trị liệu pháp chính thức cho chứng rối loạn cương dương (Erectile dysfunction = ED = male impotence) mà đúng ra chỉ là một giải pháp nhằm giúp các ông nào gặp khó khăn, không duy trì được tình trạng căng cứng lâu, cả trong những trường hợp bắt buộc phải xử dụng bao-cao-su nhưng vì không quen nên “lóng ngóng” vụng về. Những người ủng hộ gel SDC500 cho rằng phát minh này sẽ khuyến khích nam giới tích cực hơn trong vấn đề quan hệ tình dục an toàn nên sẽ ngăn ngừa được nhiều loại bệnh truyền nhiễm vẫn thường lây lan qua đường tình dục. Nhưng quan trọng hơn cả là bao-cao-su-Viagra chắc chắn sẽ giúp các ông lấy lại được sự tự tin, không còn mang mặc cảm như trước mỗi khi “lâm trận”.
Bao-cao-su-Viagra xuất hện đúng lúc để thay thế cho thuốc viên Viagra vì, theo đăng tải của báo Daily Mail, các bác sĩ tại Anh quốc vừa lên tiếng đồng ý với các đồng nghiệp bên Hoa kỳ rằng đã có 47 trường hợp bị rối loạn thính giác được ghi nhận sau khi uống viên Viagra; những nạn nhân có lứa tuổi trung bình khoảng 57 nhưng có 2 người chỉ mới 37 tuổi. Và thêm một tin (rất) mừng nữa cho các ông/các bà là, khác với viên thuốc Viagra mầu xanh cần phải có toa bác sĩ mới mua được thì bao-cao-su-Viagra sẽ được bán tự do. (BV)    

08.06.2011
Điện-thoại-di-động làm giảm khả năng sinh sản của quý ông?
Một số các ông dường như gặp khó khăn trong việc nối dõi tông đường, chỉ vì phẩm chất tinh dịch không được tốt. Trường hợp vốn (liếng) đã sẵn không tốt thì lại càng không nên nói chuyện liên tu bất tận bằng điện-thoại-di-động nếu đang ao ước có con nối dưỡng tông đường vì, theo một khảo cứu vừa được công bố mới đây của các khoa học gia thuộc Queen’s University tại Canada, thời gian xử dụng cellphone tuy có tỷ lệ thuận với sự sản xuất khích thích tố Testosteron trong cơ thể, nghĩa là nói nhiều thì tiết nhiều, nhưng đồng thời cũng làm giảm phẩm chất của tinh dịch khiến quý ông khó có thể có con. Nói một cách cụ thể hơn, sóng điện từ phát ra từ máy cellphone có “tác động kép”: làm gia tăng số lượng tế bào có nhiệm vụ sản xuất kích thích tố nam Testosteron trong tinh hoàn, nhưng đồng thời lại giảm lượng kích thích tố LH (luteinizing hormone do tuyến yên –hypophysis- ở não tiết ra) và ngăn chặn Testosteron trong phận sự sản xuất ra tinh trùng.  
Từ trước đến nay có rất nhiều cuộc khảo cứu chỉ đề cập đến nguy cơ dễ mắc các bệnh ung thư trên đầu liên quan đến việc xử dụng cellphone, nhưng nay thì chúng ta biết được thêm máy cellphone có ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của quý ông. Trong khi chờ đợi những nghiên cứu tỉ mỉ và rộng hơn, bác sĩ Rany Shamoul trưởng nhóm khảo cứu khuyên quý ông nếu mong muốn có con thì không nên để điện-thoại-di-động trong túi quần. (BV)
 
Sự thay đổi khí hậu toàn cầu ảnh hưởng đến cuộc sống thường ngày như thế nào?
Làm gián đoạn đường dây Internet? Gây mất điện thường xuyên? Khiến rối loạn lịch trình xe lửa? Tất cả những “trục trặc” này có thể xảy ra, theo quan điểm của Caroline Spelman, Bộ trưởng Môi trường và Nông nghiệp của Anh quốc (nhậm chức từ 12/05/2010): “Thời tiết trên 40 độ C sẽ làm ngành hoả xa có nguy cơ bị tê liệt vì các cơ sở hạ tầng hiện tại không thể chịu đựng nổi một nhiệt độ cao như vậy. Những tín hiệu của internet không dây (wifi) cũng sẽ gặp trở ngại khi nhiệt độ lên quá cao hoặc những cơn mưa bão cũng sẽ làm giảm khả năng hoạt động của các thiết bị truyền mạng internet. Chúng ta không thể chối cãi rằng những trận mưa giông có cường độ mạnh như bão, những cơn hạn hán kéo dài và những đợt nóng như thiêu như đốt, do sự thay đổi khí hậu toàn cầu gây ra, có ảnh hưởng đến cuộc sống thường ngày và đang tác động mạnh lên lãnh vực kinh tế. Mọi người nên ý thức những hiểm hoạ gần kề của sự thay đổi khí hậu. Vì một phần lớn nền kinh tế là dựa chủ yếu vào phương tiện giao thông, vận tải (cho người và cả cho hàng hoá) và vào những phương tiện truyền thông hữu hiệu. Do đó nền kinh tế không thể phát triển vững mạnh nếu các phương tiện này cứ thường xuyên gặp trở ngại, ví dụ như khi hàng hoá không vận chuyển được vì đường xá bị ngập lụt. Hay là khi đường rầy xe lửa bị hư hại. Hay là đường dây internet biến mất hoặc bị gián đoạn. Nói một cách cụ thể, ngay bây giờ chúng ta phải nghĩ đến việc thay đổi và thiết lập những cơ sở hạ tầng (infrastructure) mới, sao cho phù hợp với nhu cầu của chúng ta trong tương lai…” (BV)

24.05.2011
Càng ít học càng mau già?
Một cuộc khảo sát bên Anh quốc cho thấy những người có trình độ văn hoá thấp thường mau già hơn, ốm đau nhiều hơn những người có học thức. Sự tương quan giữa sức khoẻ và địa vị thấp kém trong xã hội đã được nghiên cứu nhiều lần trước đây, và cùng đi đến một kết luận tương tợ: nói chung, đa số những người “cùng đinh trong xã hội” thường là những người nghiện hút thuốc lá, ít chịu hoạt động và tập thể dục, và nhất là không được chăm sóc đàng hoàng về mặt y tế. Đó là cái nghèo khó. Nhưng cuộc nghiên cứu mới đây của các khoa học gia người Anh vừa kết luận thêm một yếu tố nữa của sự mau già là không chỉ cái nghèo hoặc vì có địa vị thấp kém trong xã hội là những nguyên nhân chính ảnh hưởng đến sức khoẻ, mà còn phải kể đến yếu tố văn hoá và giáo dục. Theo tường trình của tờ BBC News, cuộc nghiên cứu đã được thực hiện với 400 tình nguyện viên nam lẫn nữ trong lứa tuổi từ 53 đến 75. Các khảo cứu gia đã đo chiều dài của những đoạn Telomere (là đoạn tận cùng của một nhiễm sắc thể, chromosome; đoạn Telomere mà ngắn là dấu hiệu chứng tỏ một sự lão hoá nhanh chóng trước tuổi). Kết quả của cuộc nghiên cứu cho thấy những người ít học vấn có đoạn Tolemere ngắn hơn. Tuy nhiên, cuộc khảo sát cũng cho thấy không có một sự liên quan rõ rệt nào giữa chiều dài của đoạn Tolemere với địa vị trong xã hội. Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu, vấn đề văn hoá có thể giúp cho người dân có quyết định đúng đắn hơn trong lãnh vực sức khoẻ, giúp họ không nghiêng về một lối sống buông thả; ngoài ra những người có học thức thường có bản lãnh hơn, biết chế ngự những căng thẳng (stress) trong cuộc sống hàng ngày một cách dễ dàng hơn là những người ít học.      

Phương pháp tiểu giải phẫu mới chữa được bệnh cao huyết áp
Giáo sư Michael Boehm thuộc đại học bệnh viện Homburg/Saar (Đức quốc) trong buổi họp thường niên của hội Tim mạch Đức quốc, được tổ chức tại Mannheim hôm thứ Năm tuần vừa qua, cho biết một cuộc giải phẫu có thể chữa trị được bệnh cao huyết áp nơi những bệnh nhân đã thử đủ các loại thuốc mà vẫn không thấy bớt. Cuộc giải phẫu được thực hiện bằng cách cho luồng điện có tần số cao đi qua một ống catheter, còn gọi là ống thông, để làm giảm hoạt tính của những giây thần kinh thận, là nguyên nhân gây ra tình trạng cao huyết áp (ống catheter sẽ được đặt vào động mạch thận để điện có tần số cao đi qua với mục đích làm tê liệt các giây thần kinh thận, không cho tiết ra nhiều các stress-hormone ví dụ như kích thích tố Adrenalin). Cho đến nay, theo báo cáo của Gs Boehm: “Có gần 50 bệnh nhân trước đây đã uống nhiều thứ thuốc cũng không thể làm hạ được huyết áp nhưng nhờ phương pháp giải phẫu này đã thấy bớt nhiều. Các bệnh nhân này cho biết chỉ khoảng 5 đến 6 tuần sau cuộc giải phẫu, các chỉ số huyết áp đã giảm đáng kể. Tôi rất lạc quan. Nếu các cuộc giải phẫu thử nghiệm sắp tới đây vẫn đạt được những kết quả khả quan như vậy, và nếu chương trình khảo cứu được thực hiện sâu rộng hơn, thì chẳng bao lâu nữa phương pháp giải phẫu này sẽ trở thành một trị liệu pháp thông thường cho những người bị cao huyết áp”.
Trong phương pháp giải phẫu này, kéo dài khoảng 30 đến 60 phút, bệnh nhân chỉ bị chích thuốc tê và uống thuốc chống đau; cho đến nay chưa thấy có trường hợp nào bị trục trặc. Loạt thử nghiệm để khảo sát được đặt tên là Lancet, trong năm 2010 đã giải phẫu, kể cả theo dõi hậu giải phẫu, điều trị thành công 106 bệnh nhân bị cao huyết áp và đã có tiếng vang rất tốt trong y giới.
 

21.05.2011
Loài ong bị chết vì điện-thoại-di-động?
Không ai có thể chối cãi rằng đã từ nhiều năm nay hàng triệu con ong trên khắp thế giới biến mất dần dần, nhưng nguyên nhân tại sao thì chẳng ai biết rõ. Cho đến nay mọi người vẫn cho rằng ký sinh trùng, siêu vi hay các loại thuốc trừ sâu bọ là thủ phạm giết chết loài ong. Nhà sinh-vật học Daniel Favre thuộc đại học Bách-Khoa tại Lausannes, Thuỵ sĩ, lại nghĩ rằng chính các sóng điện thoại là thủ phạm nên quyết chí vén màn bí mật và đã thử nghiệm tổng cộng 80 lần kể từ năm 2009 để tìm hiểu có phải vì sóng của các điện-thoại-di-động đã khiến loài ong chết hàng loạt như thế hay không. Khảo cứu gia Favre đã đặt các máy điện-thoại-di-động tại những tổ ong rồi đo cường độ âm thanh tiếng vo ve. Nếu đặt máy điện thoại ở tình trạng “stand-by” thì tần số tiếng vo ve của ong không thay đổi và ở mức 450 Hertz. Nhưng nếu bật máy sang tình trạng (còn gọi là “chế độ”) hoạt động, phát tín hiệu thì chỉ nửa tiếng sau, cường độ tiếng vo ve tăng lên đến 4000 Hertz. Nghĩa là bầy ong phản ứng mạnh mẽ lại bằng những tiếng vo ve có cường độ lớn hơn và bay tán loạn vô trật tự, không định hướng được nữa. Nói một cách khác, những thay đổi về tần số âm thanh của loại ong là một biểu hiện rõ ràng cho thấy loài ong bị ảnh hưởng, bị quấy rầy bởi làn sóng phát ra từ máy điện-thoại-di-động! Theo tường trình của Favre, bầy ong không chịu rời tổ cùng với con ong chúa sau những quấy rầy, rối loạn này để thành lập một tổ ong mới, vì con ong chúa lẫn bầy ong sau đó không phát triển được nữa và rồi chết dần dần.
Với thử nghiệm trên đây, khảo cứu gia Favre kết luận rằng máy điện-thoại-di-động là kẻ thù rất nguy hiểm của loài ong. Nhưng nhiều khoa học gia không hoàn toàn đồng ý như thế, và vẫn cho rằng loài ong chết cũng vì hậu quả của phương pháp độc canh trong nông nghiệp, vì nhiều loài thảo vật hoang dại hiện nay cũng chỉ còn rất ít, vì thuốc trừ sâu, nhưng quan trọng nhất là loài ong bị những ký sinh trùng varroa hút máu. Máy điện-thoại-di-động chỉ là một trong những nguyên nhân; và rất có thể là nguyên nhân chính. Nếu không là nguyên nhân chính thì làm sao giải thích được rằng dân số loài ong đang từ từ giảm dần một cách đáng kể tại khắp các quốc gia trên thế giới?

Nhiều CO2 trong không khí có nghĩa là nhiều phấn hoa trong không khí
Không chỉ can tội gây ra hiệu ứng khí thải nhà kính mà giờ đây CO2 còn được biết là thủ phạm gây ra bệnh viêm mũi dị ứng, hay đúng hơn là thủ phạm gây nên sự lây lan của phấn hoa. Đây quả là một cái tin không vui chút nào cho những người bị bệnh dị ứng luôn luôn mong đợi những ngày nắng đẹp, mặc dù họ biết rằng nắng ấm cũng có nghĩa là nhức đầu, hắt-xì-hơi liên miên, chảy mũi và mắt đỏ, v.v… Có đến 30% dân số mắc bệnh dị ứng với phấn hoa, rơm rạ mà với thời gian, bệnh dị ứng này có thêm trở nên trầm trọng và rõ rệt hơn nơi những người quá mẫn cảm khi mà lượng CO2 càng ngày càng tăng nên càng có nhiều phấn hoa trong không khí. Annette Menzel thuộc đại học Kỹ thuật tại Munich, Đức quốc, báo động rằng: “Trước đây chúng tôi cứ nghĩ rằng sự gia tăng lượng phấn hoa là một vấn đề chỉ liên quan đến việc xử dụng đất đai, nhưng chúng tôi đã nhầm. Không phải là từ đất đai, trồng trọt. Chúng tôi lại nghĩ là do ảnh hưởng của sự thay đổi nhiệt độ toàn cầu nên phấn hoa lây lan mạnh. Nhưng rồi nhiệt độ cũng không phải là nguyên nhân. Sau cùng chúng tôi đã phân tích lượng CO2 trong không khí và nhận thấy rằng chính là do khí CO2 dầy đặc đã khiến cây cối sản xuất nhiều phấn hoa hơn. Như vậy, nếu chúng ta không tìm ra được biện pháp để giảm thiểu sự phát thải lượng CO2 thì lẽ dĩ nhiên không khí sẽ bị ô nhiễm hơn vì nhiều phấn hoa hơn, và hậu quả là bệnh dị ứng sẽ nguy hiểm hơn!”
Trong số các loại cây được khảo sát để thực hiện cuộc nghiên cứu tại 13 quốc gia của Âu châu, các khoa học gia nhận thấy từ hơn 10 năm nay có 60% loại cây đã sản xuất một số lượng lớn phấn hoa nhiều hơn trước. Và hiện tượng lượng phấn hoa gia tăng còn trầm trọng hơn nữa ở những nơi đô thị có mật độ giao thông đông đúc (vì xe thải khói CO2). Chính vì vậy mà, để hạn chế lượng phấn hoa trong không khí, các nhà bảo vệ môi trường đã đề nghị phải chọn lựa các loại cây để trồng trong thành phố (ví dụ trước đây người ta thường trồng những cây bạch dương mà không nghĩ tới vấn đề phấn hoa của cây có thể gây ra dị ứng) Tuy nhiên biện pháp chọn lựa cây để trồng cũng chưa đủ để bớt lượng phấn hoa trong không khí mà chúng ta còn cần phải, quan trọng trước hết, là giảm thiểu sự phát thải khí CO2 độc hại!

11.05.2011
Trụy tim buổi sáng nguy hiểm hơn buổi chiều
Theo tường trình của các khảo cứu gia người Tây-ban-nha vừa đăng trên báo Heart (của Anh quốc, ấn bản cuối tháng Tư) thì một cơn truỵ tim nếu xảy ra buổi sáng có nhiều rủi ro hơn cơn truỵ tim xảy ra vào lúc chiều. Đây là kết luận của một cuộc nghiên cứu kéo dài từ 2003 đến 2009, thực hiện với hơn 800 bệnh nhân của một bệnh viện tại thủ đô Madrid, Tây-ban-nha. Nơi những bệnh nhân có những triệu chứng đau tim xuất hiện vào khoảng thời gian từ 6 giờ sáng đến 12 giờ trưa thì cơn truỵ tim có phần nặng hơn, nguy hiểm hơn 21%, so với cơn đau tim nơi những người “lên cơn” vào buổi chiều hoặc buổi tối. Cuộc nghiên cứu này, như thế, đã xác nhận các khảo cứu trước đây cho rằng “đồng hồ sinh học bên trong cơ thể” có ảnh hưởng lên trái tim. Trong số 811 tình nguyện viên được theo dõi để nghiên cứu, chỉ có 269 bệnh nhân bị lên cơn nhồi máu cơ tim vào buổi sáng, và 3/4 trong số này là nam giới có độ tuổi trung bình là 62.
 
 
Muốn có một thân hình mảnh khảnh hơn? Hãy ăn ớt! 

Trước đây đã có tin đồn rằng ớt rất hiệu quả trong trận chiến chống sự nặng ký vì có thể ngăn chận sự ngon miệng và tăng mức tiêu thụ năng lượng trong cơ thể. Ớt cũng có thể làm biến mất cảm tưởng “thèm ăn đồ ngọt” thường thấy xảy ra (rất) thường xuyên nơi các bà các cô. Đồn đúng hay đồn sai? Để kiểm chứng, các khoa học gia của đại học Purdue thuộc tiểu bang Indiana, Hoa kỳ, vừa thực hiện một cuộc nghiên cứu với 25 tình nguyện viên, chia họ ra làm hai nhóm. Một nhóm cho thêm vào trong thức ăn của họ một chút bột ớt Cayenne hoặc một  loại ớt Chili; nhóm kia ăn uống theo thói quen không có ớt. Trước và sau bữa ăn, các khoa học gia đo thân nhiệt của tất cả các tình nguyện viên và đo cả mức độ tiêu thụ calori của họ. Kết quả cho thấy sau khi (được) ăn ớt, thân nhiệt tăng cao và mức tiêu thụ calori cũng tăng, thấy rõ nhất nơi những người trước đây không thường xuyên ăn ớt. Những tình nguyện viên, sau bữa cơm với ớt, cũng cho biết họ không còn ý định thèm ăn một cái gì “mặn-mặn”, hay “beo-béo”, hay “ngọt-ngọt” nữa. Không thèm ăn gì nữa, nhờ ớt!   
Giáo sư Richard Mattes, chuyên gia về Dinh Dưỡng và Thực Phẩm của đại học Purdue, trên tạp chí Physiology & Behavior khuyên rằng: “Chỉ cần một thay đổi nhỏ trong thói quen ăn uống, ví dụ như trộn thêm tí ớt vào thức ăn, về lâu về dài cũng có thể có lợi…” 
[Theo Wikipedia: Quả ớt dùng làm gia vị, thực phẩm vì chứa nhiều Vitamin A, Vitamin C gấp 5-10 hai loại sinh tố này có trong cà chua và cà rốt. Chất cay trong quả ớt gọi là Capsaicin (C9H14O2) có công dụng trị bệnh được dùng nhiều trong y học. Ngâm rượu xức ngoài da trị nhức mỏi, sưng trặc gân. Ớt bột trị được chứng say sóng. Ớt bột trộn với quế và đường trị bệnh mê sảng. Các bệnh đau bụng, đau răng, nhức đầu, sưng cổ họng, tê thấp, thần kinh cũng được điều trị bằng ớt. Lá ớt giã nhỏ đắp vào vết thương bị rắn cắn hay các vết lở ngứa ngoài da. Rễ ớt, nhất là ớt hiểm, sắc uống để trị bệnh sốt rét].

07.05.2011
 
Xà-bông giặt đậm đặc hơn để môi trường đỡ ô nhiễm
Bắt đầu từ giữa tháng Sáu năm nay, người dân tại Âu châu sẽ chỉ xử dụng những loại xà-bông giặt quần áo đậm đặc hơn. Hiệp hội AISE (Association Internationale de la Savonnerie, de la Détergence et des Produits d’Entretien được thành lập từ năm 2952, có trụ sở tại Bruxelles và giám sát gần 900 công ty chuyên về các loại chất tẩy rửa của 37 quốc gia) khuyến cáo các hãng sản xuất phải thay thế những thứ nước giặt quần áo hiện nay, vẫn thấy bầy bán trên các kệ của những siêu thị, bằng các sản phẩm đậm đặc hơn để đỡ ô nhiễm môi trường. Kể cả loại xà-bông dạng bột cũng phải cô đọng hơn nữa (ví dụ như vào năm 1997 chúng ta cần 180 gr xà-bông bột cho một mẻ giặt nhưng rồi đến năm 2008 chúng ta chỉ cần khoảng 80 gr cho vào máy giặt). Nói một cách cụ thể hơn, biện pháp “đậm đặc” sẽ khiến tất cả chai đựng nước giặt sẽ có kích thước nhỏ hơn 1/3 so với hiện nay vì để giặt 5 kg quần áo bẩn chẳng hạn, thay vì cần 110-120 ml thuốc giặt thì nay chỉ cần 75 ml. Công ty Unilever (gồm có hiệu Skip, Omo, Persil) đã đi tiên phong trong việc thực hiện biện pháp đậm đặc nên ngay từ tháng Ba đã “biến hoá” bình 5 lít thuốc giặt thành 3 lít mà vẫn bảo đảm được số mẻ giặt như cũ. Những sản phẩm mới, đậm đặc, của Henkel (gồm có hiệu Xtra, Mir, Le Chat, Minidou) cũng đã thấy bầy bán từ 2 tuần nay.
Nhờ biện pháp “thuốc giặt đậm đặc” này, theo giải thích của AISE, châu Âu sẽ tiết kiệm được 400.000 tấn chất lỏng, 16.000 vật liệu bao bì đựng sản phẩm, mà để chuyên chở khối lượng này phải cần dùng khoảng 14.000 xe vận tải! Theo ước tính, công ty Procter&Gambler (được ưa chuộng nhất tại Pháp) sẽ tiết kiệm mỗi năm 28 triệu lít nước giặt lỏng, 1000 tấn bao bì, tương đương với 30.000 kiện hàng, như thế cũng có nghĩa là sẽ bớt được 930 xe vận tải “phun khói” trên đường vận chuyển.
Để phù hợp với loại xà-bông giặt mới, hội AISE đã phát hành những logos dán trên chai, hoặc hộp giấy đựng bột giặt, chỉ dẫn các liều lượng cần thiết cho mỗi mẻ giặt. Tất cả những hãng lớn nổi tiếng như Procter&Gamble, Unilever và Henkel, v.v.. cũng như các hãng sản xuất nhỏ đều phải cam kết triệt để tuân thủ. Cùng lúc với sự thay đổi về kích thước của bao bì vì sản phẩm đậm đặc hơn, các công ty lớn cũng tung ra nhiều quảng cáo rất hấp dẫn về những mùi thơm mới, hữu hiệu hơn để làm sạch các vết trái cây hoặc “nước-sauce” khó tẩy và chỉ cần 30 phút cho một mẻ giặt. [Trung bình một gia đình tại Pháp giặt 3 mẻ mỗi tuần, chuộng dùng xà-bông giặt lỏng (75%) hơn là bột (25%) và khuynh hướng dùng nước xà-bông giặt càng ngày càng tăng; còn tại Anh quốc thì thị trường xà-bông giặt nước và bột ngang ngửa nhau]. (BV)

23.04.2011
Lại thêm một xì-căng-đan về sữa cố ý làm nhiễm độc tại Trung quốc
Theo giới truyền thông tại Trung quốc cho đến nay có 3 em bé bị chết và thêm 36 người, phần đông là trẻ em dưới 14 tuổi, phải vào bệnh viện điều trị vì uống sữa đã bị nhiễm độc. Cuộc điều tra sơ khởi cho thấy các nạn nhân của quận Tĩnh Ninh (Pingliang, thuộc tỉnh Cam Túc) uống sữa đã bị nhiễm độc chất Nitrite là một hoá chất được xử dụng trong thuốc nhuộm và cũng có công dụng để bảo quản thịt. Theo tin của Tân Hoa Xã, các em bé đã chết hôm thứ Năm vừa qua và một em nữa đang trong tình trạng nguy kịch; 17 em vẫn còn phải điều trị trong bệnh viện. Để lấy lại lòng tin của dân chúng đã quá chán ngán và phẫn uất sau xì-căng-đan về sữa bị nhiễm chất Melamine xảy ra năm 2008, cơ quan kiểm dịch của Trung quốc đã ra lệnh cấm hai trang trại chăn nuôi bò sữa trong vùng Tĩnh Ninh phải ngưng hoạt động để điều tra, đồng thời ra lệnh kiểm nghiệm hơn một nửa số các hãng sữa tại Trung quốc.
Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh của Hoa kỳ (CDC = Centers for Disease Control and Prevention) cho biết ngộ độc chất Nitrite có thể gây buồn nôn, suy hô hấp, ngất xỉu, v.v… (nếu có nồng độ Nitrite quá cao trong máu thì hồng huyết cầu không thể chuyên chở oxy và đây là một trong những nguyên nhân làm trẻ sơ sinh bị tím, tái vì thiếu dưỡng khí, còn gọi là chứng methemoglobinemia).
 

16.04.2011
Nước Úc lại thổi kèn tập họp đi giết cóc mía độc
Nước Úc lại vừa tổ chức chiến dịch Toad Day Out (mỗi năm một lần) tiêu diệt loài cóc mía độc địa, lần này nữa là lần thứ ba. Trung tâm của “cuộc hành quân” nằm ở tỉnh Queensland, phiá đông-bắc của nước Úc. Đây là loài cóc có thân hình to lớn khổng lồ so với những con cóc bình thường; cóc mía cái dài trung bình hơn 22cm một chút và nặng khoảng 1 ký-lô (một con cóc mía tên là Prinsen, được ghi vào sách kỷ lục Guiness nhờ thân hình đồ sộ dài 38 cm và nặng 2.65 ký-lô, được một gia đình tại Thuỵ-điển nuôi như gia súc). Cóc mía rất độc vì dưới da có những tuyến chứa độc tố có thể giết những loài động vật to lớn hơn chúng, cả loài rắn hoặc cá sấu cũng khó thoát chết nếu đụng phải cóc mía (nhiều người cũng chết vì bị trụy tim sau khi ăn món cóc mía!) Các thổ dân Nam-Mỹ vẫn có truyền thống chiết nọc độc từ da cóc để biến chế thành chất ma tuý hoặc tẩm mũi tên. Chính vì nhờ đặc điểm vô cùng độc địa nên nước Úc năm 1935 đã cho “nhập cảng” loài cóc mía từ Nam-Mỹ với hy vọng “dĩ độc trị độc”, nhờ cóc mía giết bớt dịch cánh cam, sâu bọ đang tàn phá những đồn điền trồng mía. Kế hoạch thất bại vì chẳng những không cứu được mùa mía mà chính loài con cóc mía sau đó lại trở thành dịch (ước đoán khoảng 200 triệu con năm 2009) vì sinh sản quá nhanh: một cóc mía cái có thể sản xuất từ 4.000 đến 36.000 trứng/mỗi năm 2 lần. Và trở thành dịch cũng vì cóc mía có tuổi thọ khá cao, từ 10 đến 15 năm hoặc lâu hơn nếu được nuôi giữ. Sau những trận mưa lũ lụt lội trong năm vừa qua, dân số của loài cóc mía còn tăng nhanh nhiều hơn nữa, trở thành mối đe doạ cho đồng chủng ếch nhái.
Ban tổ chức của chiến dịch giết cóc mía đã huy động hàng trăm tình nguyện viên đi lùng cóc mía (phải còn sống để chuyên gia kiểm lại vì sợ bắt lầm loài cóc nhái khác thì sẽ thả ra), đựng trong những bao túi bằng plastic để nộp cho những địa điểm thu thập. Tại đây những con cóc mía bị giết rồi được bán lại vì da cóc, mỡ cóc, thịt cóc có thể xử dụng được, ví dụ thịt cóc làm phân bón cho các cây mía. Tổng cộng có 14.000 con cóc mía bị giết chết, con số tuy không đáng kể nhưng ban tổ chức cho biết cũng có thể ngăn chặn phần nào sự sinh sản ra hàng triệu cóc mía con.  
 

12.04.2011

Quân đội Nga được trang bị với xe tăng và hoả tiễn … bằng không khí
Trong số các xe tăng, máy bay và hoả tiễn (thật) của quân đội Nga, từ mấy năm nay có cả những loại vũ khí “dzỏm” bằng không khí, khi cần đến thì chỉ việc để phồng lên cho giống y như thật … để “hù” quân địch! Tại một xưởng chế tạo tại Khotkovo cách Mạc-tư-khoa khoảng 60 cây số về hướng đông-bắc, các công nhân trong xưởng vẫn tất bật sản xuất những “thiết bị dzỏm” này để đáp ứng với các đơn đặt hàng của quân đội Nga (là khách hàng chính). Xưởng Rusbal, được thành lập từ năm 1993, ngoài những đồ chơi cho trẻ em còn sản xuất những xe tăng T 80, các hỏa tiễn S-300 và những phi cơ chiến đấu (tất cả đều giả, với giá cả vẫn còn trong vòng bí mật) chỉ cần vài phút để cho phồng lên, một cách hết sức dễ dàng, là trông giống y như thật. Giám đốc Victor Talanov khoe rằng “các thiết bị giả này rất hữu hiệu để đánh lừa địch quân, còn có mục đích bảo vệ những thiết bị thật khi đồ giả cùng với đồ thật lẫn lộn vào nhau khiến địch quân không thể phân biệt được! Ở xa, ví dụ như trên độ cao tầng thứ 10 của một cao ốc, khó có thể nhận biết xe tăng nào là giả, xe tăng nào là thật. Vì các xe tăng giả cũng toả nhiệt và cũng phát ra những sóng radio y như một xe tăng (thứ thật)”. Kỹ nghệ làm các thiết bị giả đã xuất hiện từ lâu: trong cuộc đệ nhị thế chiến, quân đội đồng minh đã ngụy trang ở vùng Pas de Calais (miền bắc nước Pháp) để đánh lừa quân đức-quốc-xã, để Hít-le tưởng lầm rằng đồng minh sửa soạn đổ bộ tại đây nhưng thật ra họ lại đổ bộ tại vùng Normandie. Và không chỉ quân đội Nga mới xử dụng những mánh khoé ngụy trang mà cả Trung quốc lẫn Canada cũng có những hãng xưởng chế tạo những thiết bị dzỏm. Nhưng xưởng Rusbal vẫn cho rằng sản phẩm (dzỏm) của họ tốt hơn, dễ xử dụng hơn vì một xe tăng giả của Rusbal chỉ cân nặng 90 ký-lô, và không cần phải (mất công) thổi phồng lên rồi khóa lại để không khí đừng thoát ra (giống cái phao) như trước đây, mà hiện nay xe tăng giả đã có sẵn không khí nén ép thường trực sẵn trong đó, chỉ cần cho bung ra và chờ vài phút.   
[20 năm sau cuộc chiến tranh lạnh và chạy đua về vũ khí với Hoa kỳ, các thiết bị và vũ khí của quân đội của Nga đã từ lâu trở nên lỗi thời, cũ kỹ nên cuối tháng Hai vừa qua, chính phủ Nga đã quyết định sẽ bỏ ra 500 tỷ euros, dự định cho đến năm 2020, để tân trang hàng loạt và trang bị thêm cho quân đội 8 tàu ngầm nguyên tử và hàng trăm máy bay chiến đấu].
 

Rác vụn bằng nhựa đâm lủng bao tử các con rùa biển
Một con rùa biển chết lại vừa được tìm thấy gần bờ biển của Á-căn-đình, trong bao tử cũng đầy những mảnh vụn bằng nhựa. Cái chết của loài rùa biển chắc chắn là do những vật liệu bằng nhựa không tiêu huỷ, nổi lềnh bềnh trên mặt nước biển và hấp dẫn loài rùa nhờ hình thể và mầu sắc. Những con rùa “ngây thơ” tưởng các rác nhựa li ti này là mồi ngon nên ăn vào để rồi bị trúng độc, và chết. Không chỉ loài rùa biển là nạn nhân duy nhất của vấn nạn rác thải nhựa đang trôi nổi dập dình trên mặt nước biển, mà cả loài cá lẫn loài chim biển cũng bị “mắc lỡm” tưởng rằng rác nhựa là mồi ngon. Ăn phải rác nhựa, những con vật khốn khổ này có thể bị lủng bao tử và thường chết thảm thương vì đường tiêu hoá bị tắc nghẽn.     
Giòng thuỷ triều đánh vỡ vụn rác nhựa (do loài người thải ra và đổ xuống biển một cách vô tội vạ) thành các mảnh nhỏ phân tán đi khắp các đại dương. Một phần lớn các rác nhựa vỡ vụn trôi nổi theo giòng xoáy của đại dương để rồi tập trung tại Thái Bình Dương (nổi tiếng khắp thế giới dưới cái tên Great Pacific Garbage Patch). Có cả thảy 5 bãi rác nhựa khổng lồ đang bập bềnh trên Thái Bình Dương và một bãi rác nhựa cũng vĩ đại không kém vừa được phát giác ít lâu nay tại vùng bắc-Đại Tây Dương. Tất cả những bãi rác nhựa này không chỉ thể hiện các hoá chất độc hại, một ngày nào đó sẽ quay trở lại nằm trong bao tử của loài người khi chúng ta ăn đồ biển, mà còn tích luỹ cường độ ô nhiễm không khí ngày càng tăng để trở thành hiểm hoạ khôn lường cho “những đứa con của biển” như rùa, chim, tôm, cá, .v..v…  
 

03.04.2011
Thuốc trừ sâu: chất độc hàng ngày của nhân loại
Một phim tài liệu của đài ARTE (có trụ sở tại Strasbourg vùng Alsace của Pháp, là đài truyền hình liên hợp giữa Pháp và Đức quốc) vừa trình chiếu hồi cuối tháng Ba cho thấy những gì chúng ta ăn, và uống, có tương quan chặt chẽ với bệnh tật. Được khởi đầu thực hiện từ năm 2004, cuộn phim nhan đề Le monde selon Monsanto (Thế giới, thể theo Monsanto) giải thích tại sao “lương thực hàng ngày” của chúng ta lại biến thành độc dược (nhờ ơn của Monsanto!); dẫn dắt khán giả qua từng giai đoạn từ những cánh đồng mầu mỡ đang trồng trọt, những vườn cây ăn trái lúc lỉu nặng trĩu hoa quả cho đến khi trở thành thức ăn nằm trên bàn trong bữa cơm thường ngày. Quả thật cuộn phim dài 113 phút của Marie-Moniqe Robin đã khiến khán giả hết muốn ăn, quên cả đói vì … quá kinh sợ! Kể từ khi đệ nhị Thế chiến kết thúc đến nay có vài trăm ngàn hoá chất được tung ra trên thị trường nhưng chỉ khoảng 900 sản phẩm hoá chất được kiểm nghiệm bởi Trung tâm Nghiên cứu Ung thư quốc tế IARC (International Agency for Research on Cancer). Cô Robin còn tiết lộ cho biết ngành công nghiệp thực phẩm còn xử dụng nhiều chiến thuật làm điên đầu, nản chí các chuyên gia kiểm nghiệm bằng cách đưa ra những dữ liệu khó hiểu, phức tạp, cần rất nhiều thời gian để kiểm chứng.  
Vậy cuộn phim tài liệu này đưa ra kết luận gì? Rằng có một liên kết trực tiếp giữa việc hấp thu các hoá chất hiện diện trong thực phẩm hàng ngày của chúng ta với các bệnh thoái hoá thần kinh ví dụ như bệnh Parkinson hoặc Alzheimer, với các rối loạn về sinh sản cho cả phái nữ lẫn phái nam, với các bệnh ung thư. Theo những con số thống kê đáng báo động của Tổ chức Y tế Thế giới WHO (World Health Organization) thì “mỗi năm có khoảng 1 đến 3 triệu người bị ngộ độc cấp tính bởi thuốc trừ sâu khiến hơn 200.000 người bị thiệt mạng!”
[Monsanto là một công ty khổng lồ rất nhiều thế lực tại Saint Louis (tiểu bang Missouri, Hoa kỳ), chuyên về kỹ thuật sinh học thực vật và sản xuất các hoá chất dành cho nông nghiệp. Tên tuổi của Monsanto được gắn liền với chất PCB được dùng trong kỹ nghệ làm cao-su, làm nhựa; và chất độc da cam (agent orange) mà quân đội Hoa kỳ đã xử dụng trong thời kỳ chiến tranh tại Việt Nam hồi thập niên 60 và 70]

31.03.2011
Những nguy hiểm đến từ không gian càng ngày càng nhiều
Hơn 150 triệu vật thể rác-vũ-trụ đang bay vô định trong không gian, nhiều nhất là những mẩu rác vụn nhỏ khoảng 1mm. Nhưng cũng có hơn 600.000 vật thể rác có kích thước lớn hơn 1cm mà nếu va chạm ở tốc độ 10 cây số/1 giây cũng có thể phá vỡ bức tường bảo vệ dầy dặn và sẽ nổ lớn như một quả lựu đạn. Và càng ngày càng có nhiều vật thể rác bay quanh quỹ đạo trái đất, trở thành mối nguy hiểm khôn lường cho các vệ tinh và phi thuyền. Theo quan điểm của Giáo sư Peter Voersmann thuộc đại học Kỹ thuật Braunschweig của Đức quốc, hiện nay rủi ro va chạm với các vật thể rác không đáng kể lắm: “Xác suất để một vệ tinh trong thời hạn xử dụng 7 năm có thể va chạm vào rác vũ trụ rồi bị phá huỷ hoàn toàn là 2%. Nhưng nếu ngành Không gian cứ tiếp tục làm ngơ, không chịu tìm ra một giải pháp nào, thì chắc chắn sẽ có nhiều vụ va chạm xảy ra. Cho đến nay dường như đã có 4 vệ tinh va chạm với rác vũ trụ và tan thành mảnh vụn, để rồi trở thành rác vũ trụ. Nghĩa là cứ sau mỗi cuộc va chạm lại nảy sinh những rác vũ trụ mới. Ba năm trước đây trong một cuộc thử nghiệm quân sự, Trung quốc đã xử dụng hoa tiễn bắn tan tành một vệ tinh đang bay trong quỹ đạo cách trái đất 800 cây số và ngay sau đó số lượng rác vũ trụ ở độ cao này đã tăng lên 50%; mà ở độ cao này lại thường có nhiều rác vũ trụ nhất và tập trung nhiều vệ tinh đang hoạt động nhất!” 
Các khoa học gia của đại học Kỹ thuật Braunschweig và của cơ quan NASA Hoa kỳ là những chuyên gia quan tâm nhiều nhất đến các vật thể rác vũ trụ. Họ đã được cơ quan Vũ trụ Âu châu ESA (European Space Agency) giao nhiệm vụ thực hiện những mô hình phỏng đoán sự phân phối và chuyển động của rác vũ trụ hiện nay và trong tương lai. Các mô hình này rất hữu ích cho các tổ chức và cơ quan Không gian trên toàn thế giới khi thực hiện những chuyến bay không gian. Hữu ích cho 900 vệ tinh đang hiện diện trên vũ trụ và thậm chí cho cả trạm không gian quốc tế ISS (International Space Station) vẫn thường xuyên phải “lách” xa để tránh va chạm. Các radar dưới đất chỉ có thể “tầm” được quỹ đạo bay của các mẩu rác vũ trụ lớn hơn 10cm; còn những vật thể nhỏ hơn phải nhờ đến các mô hình và dữ liệu đo đạc của các cơ quan Không gian. Nếu trong vòng 50 năm tới mà không quét sạch rác vũ trụ ở độ cao 800 đến 900 cây số cách trái đất thì đây sẽ là nơi thường xuyên xảy ra những vụ va chạm nhất. Và, theo lời khuyên của các chuyên gia, chỉ còn cách là lách tránh khi gặp rác vũ trụ đến quá gần, và tránh đừng để các hoả tiễn hoặc vệ tinh nổ tung trên không gian. Hiện nay các chuyên gia đang thảo luận giải pháp xử dụng rô-bô để chặn các vật thể rác hơi lớn có thể xảy ra va chạm, làm cho rác bay chậm lại và thấp hơn để khi rác đi vào bầu khí quyển sẽ cháy rụi rồi rớt xuống đất.

19.03.2011
Chỉ vì quan niệm “nam trọng nữ khinh” mà nên nông nỗi
Tại hai quốc gia đông dân nhất thế giới là Ấn-độ và Trung quốc đang có tình trạng “trai thừa gái thiếu” nghiêm trọng. Vấn đề phá thai chỉ vì không muốn sinh con gái khiến chẳng bao lâu nữa dân số phái nam sẽ nhiều 20% hơn phái nữ. Tại một vài thành phố của Hàn quốc hiện nay cũng có tỷ lệ đáng ngại là 125 trai/ 100 gái. Giáo sư Therese Hesketh, thuộc Trung tâm Y tế Cộng đồng và Phát triển tại Luân-đôn, nhận định rằng cuộc nghiên cứu do tạp chí Canadian Medical Association Journal (CMAJ) vừa thực hiện cho thấy những hậu quả xã hội vô cùng nguy hiểm khi một phần lớn dân chúng vì thiếu người nữ để kết hôn, và do đó không thể có con nối dõi, sẽ đưa đến tình trạng giới thanh niên mắc các bệnh về tâm lý nhiều hơn, tánh tình hung bạo hơn và dễ dàng phạm pháp hơn.
Trước đây bình thường cứ 100 trẻ sơ sinh gái thì có 105 bé trai chào đời, nhưng hiện nay tại nhiều nơi của tỉnh Hà Nam ở miền bắc Trung quốc lại có tới 130 trẻ sơ sinh con trai. Năm 2008, tỷ lệ tại Trung quốc là 100 gái/ 119 trai; tại Ấn-độ là 100 gái/ 113 trai. Con số 113 trai của Ấn-độ đang có khuynh hướng tăng dần, ví dụ như tại Tân-Delhi và tại các tiểu bang Punjab và Gujarat nay đã tăng lên 125 trai/ 100 gái (trong khi tỷ lệ giới tính vẫn giữ mức quân bình tại miền nam-Ấn, và tại các tiểu bang Kerala, Andhra Pradesh ở miền đông-Ấn). Nguyên nhân tiếp tay cho nạn “trai thừa gái thiếu” là vấn đề phá thai tại hai quốc gia này hết sức dễ dàng (phá thai khi ước muốn “kiếm mụn con trai nối dõi tông đường” vẫn chưa thực hiện được!) Thêm một nguyên (phụ) nữa để các bậc cha mẹ tại Trung quốc và Ấn-độ không muốn sinh con gái là vì sau này nhà gái phải có hồi môn hậu hĩnh cho nhà trai mới mong kiếm được (tấm) chồng cho con gái!
Ngay từ năm 2005 tại Trung quốc đã có tình trạng thanh niên dưới 20 tuổi nhiều hơn khoảng 32 triệu người so với số con gái cùng lứa tuổi. Giáo sư Hesketh còn cho biết vì trai thừa gái thiếu nên phụ nữ tại Trung quốc có quyền tha hồ lựa chọn và có thể kết hôn với tầng lớp khá giả hơn họ. Những người thiệt thòi nhất “phải chịu cảnh độc thân bất đắc dĩ vì không cô nào thèm đoái hoài tới” là giới nông dân nghèo, ít học (94% tổng số các chàng còn độc thân thuộc lứa tuổi từ 28 đến 49, không có bằng trung học phổ thông). Chính sách mỗi gia đình chỉ được phép sinh 1 đứa con trước đây đã làm trầm trọng thêm nạn “trai thừa gái thiếu”. Nhưng hiện nay chính sách này đang được nới lỏng, chỉ còn ảnh hưởng đến 1/3 dân số tại Trung quốc và những dân tộc thiểu số không bắt buộc phải tuân theo; ngay cả những người Hoa sống tại nông thôn cũng được phép sinh thêm một đứa con nữa trong trường hợp đứa con đầu tiên là con gái; và nếu bản thân cả hai vợ chồng đều là con độc nhất thì cũng được quyền sinh hai đứa con.       
Lại thêm một xì-căng-đan về thực phẩm tại Trung quốc
Người dân tại Trung quốc lại xôn xao bàn tán về một vụ bê bối trong ngành thực phẩm, lần này là thịt heo. Công ty Shuanghui, chuyên sản xuất thịt heo, thừa nhận là công ty chi nhánh của họ, tên là Shineway, đã pha trộn trực tiếp chất kích thích tăng trưởng Clenbuterol vào thực phẩm cho heo ăn để heo mau lớn, nặng ký hơn và thịt heo sẽ nạc hơn bình thường. Chất Clenbuterol là chất vô cùng nguy hiểm cho người, có thể gây ra những triệu chứng như chóng mặt, hồi hộp, tim đập mạnh, toát mồ hôi, tăng huyết áp và rất dễ đưa tới ung thư. Hiện nay công ty Shineway đã bị đình chỉ hoạt động và cổ phiếu của Shineway cũng đã biến mất trên thị trường chứng khoán.
Theo các dữ liệu của cơ quan An toàn Thực phẩm của Trung quốc, từ 1998 đến 2007 tại thành phố Thượng Hải đã xảy ra 18 trường hợp ngộ độc thực phẩm với chất Clenbuterol khiến một người bị thiệt mạng và 1700 nạn nhân phải chở vào bệnh viện cứu cấp. Kể từ khi xảy ra (năm 2008) xì-căng-đan sữa bột trẻ em chứa hóa chất Melamin (để làm tăng chất đạm một cách giả tạo), khiến 6 trẻ sơ sinh bị chết và gần 30.000 em bé bị đau thận, ngành thực phẩm của Trung quốc bị kiểm soát khá gắt gao, thế mà …

11.03.2011
Hệ thống điện tử kiểm soát sự sạch sẽ
Sạch sẽ, rửa tay thường xuyên là phương pháp hữu hiệu nhất để ngăn ngừa các bệnh truyền nhiễm. Và bệnh viện là nơi mọi người dễ bị lây nhiễm các vi khuẩn độc hại hơn cả. Nhưng làm thế nào để buộc các bác sĩ, y tá, các nhân viên trong bệnh viện lẫn “thân nhân vào thăm” phải rửa tay thường xuyên, để ngăn ngừa các vi khuẩn độc hại không lây sang các bệnh nhân vốn đang ốm yếu sẵn? Bệnh viện Paptist Princeton tại tiểu bang Alabama, Hoa kỳ, năm vừa qua đã có sáng kiến cài đặt thử nghiệm một hệ thống điện tử, do công ty Proventix sản xuất, để kiểm soát nhân viên bệnh viện cả lúc rửa tay. Những kết quả đầu tiên của sáng kiến này trong 7 tháng thử nghiệm rất khả quan vì số lần rửa tay trong bệnh viện tăng gấp 850% và tỷ lệ những trường hợp nhiễm thêm các bệnh truyền nhiễm trong bệnh viện giảm hẳn 22% (nhờ đó bệnh viện Baptist Princeton đã tiết kiệm được 145.500 mỹ kim).
Những kết quả này đã gây được sự chú ý và nhiều tiếng vang rất tốt trong y giới nên có rất nhiều bệnh viện cũng đang dự định (bắt chước) cài đặt hệ thống điện tử kiểm soát vấn đề rửa tay trong bệnh viện, ví dụ như Trinity Medical Center, Huntsville Hospital, Andalusia Regional Hospital cũng như nhiều bệnh viện tại California, Arizona, v.v…

24.02.2011

Hoa kỳ thử máy body-scanner mới, an toàn hơn, kín đáo hơn
Vấn đề an ninh tại các phi trường vẫn luôn luôn là mối quan tâm hàng đầu trên toàn thế giới. Các máy soi body-scanner cho thấy những phần nhạy cảm trên thân thể (của các hành khách đi máy bay) cho đến nay vẫn bị dư luận khắp nơi phản đối và chỉ trích. Nhưng có lẽ trong tương lai các máy body-scanner sẽ được chấp nhận dễ dàng hơn vì cơ quan điều hành an ninh giao thông phi trường của Hoa kỳ (TSA = Transportation Security Administration) vừa cho biết đang áp dụng thử một chương trình chụp hình mới, tôn trọng sự kín đáo của thân thể, và quan trọng nhất là máy sacnner loại mới này xử dụng sóng có tần số ngắn hơn, do đó ít nguy hiểm cho sức khoẻ hơn. Hình dạng cơ thể của hành khách chỉ hiện ra “mờ mờ ảo ảo như sương khói, không rõ ràng” và hầu như đường viền thân thể của mọi người đều giống nhau; nhưng ngược lại, máy sẽ phát hiện ra ngay những đồ vật khác lạ -chất nổ hoặc một mảnh kim loại chẳng hạn- và định vị vật thể bất thường đó (cũng có thể là bất tường) bằng cách khoanh tròn trong một vòng tròn mầu đỏ hiện rõ trên máy.
Nếu máy body-sacnner loại mới này tỏ ra hữu hiệu, nghĩa là chỉ làm các vật thể lạ hiện rõ ràng trong một vòng tròn mầu đỏ, còn hình dáng hành khách chỉ là một đường viền thân thể mờ nhạt chứ không còn hình ảnh “trần như nhộng” hiện ra trên máy, thì phương pháp soi thân thể từ xa sẽ không cần phải xử dụng nữa, để tôn trọng sự kín đáo riêng tư của hành khách đi máy bay. Hiện nay có 3 phi trường đầu tiên được trang bị máy body-scanner loại mới này là Las Vegas, Atlanta và Washington.        
 
 
Thử nghiệm thành công thuốc chủng ngừa bệnh liệt kháng
Các khoa học gia người Pháp của viện Cochin ở Paris (đại học Paris Descartes-CNRS-Inserm) đã nghiên cứu ráo riết trong 15 năm qua, cùng hợp tác với các chuyên gia của công ty Mymetics Hoa kỳ (có trụ sở ở Nyon, Thụy-sĩ) và được hỗ trợ tài chánh bởi cơ quan ANRS (Agence Francaise de Recherche sur le Sida), để tìm ra thuốc chủng ngừa bệnh Aids. Trên tạp chí Immunity xuất bản tại Hoa kỳ, các khảo cứu gia tường trình cho biết thuốc chủng ngừa vừa phát minh đã tỏ ra hữu hiệu khi truyền cho những con khỉ cái, với mục đích ngăn chận sự lây lan của siêu vi bệnh Aids (bệnh liệt kháng). Mặc dù thuốc chủng được truyền cho 5 con khỉ cái qua đường mũi và chích vào bắp thịt, nhưng cả 5 con khỉ cái sau khi được chủng ngừa đã tỏ ra miễn nhiễm với siêu vi bệnh Aids xâm nhập bằng đường âm đạo qua 13 lần giao cấu với loài khỉ đực (mỗi con khỉ cái đều phải “trải qua” 13 lần). Bà giám đốc Morgane Bomsel của viện Cochin rất lạc quan cho rằng kết quả thử nghiệm này hứa hẹn một bước tiến rất quan trọng trong trận chiến chống bệnh Aids; và thuốc chủng ngừa cũng tỏ ra tương đối hữu hiệu với các thí nghiệm trong ống ghiệm (in vitro), ngăn chận được các phân nhóm B và C của bệnh HIV là thủ phạm gây ra 95% các trường hợp nhiễm bệnh Aids tại các quốc gia Âu châu, Hoa kỳ và Ấn-độ.
Tuy nhiên bà Bomsel cũng thận trọng cho rằng thuốc chủng chỉ mới thử nghiệm thành công nơi các con khỉ cái, và chỉ mới tỏ ra hữu hiệu trong việc ngăn chận siêu vi Aids qua đường âm đạo và như thế vẫn chưa có thể gọi là hoàn toàn, cho nên cần phải thực hiện nhiều thử nghiệm nữa với các con khỉ đực rồi với người, và để xem thuốc chủng có thể ngăn chận được sự lây nhiễm siêu vi Aids qua các ngả khác, ngoài đường âm đạo qua quan hệ tình dục.

 
Tại sao ngực các bà các cô càng ngày càng “mẩy”?

Các chuyên gia của công ty may mặc Bravissimo nổi tiếng của Anh quốc vừa thông báo sẽ tung ra thị trường những loại nịt ngực số L trong tương lai gần đây để thích ứng với vòng ngực của các bà các cô đang ngày càng nẩy nở hơn trước, vì càng ngày càng có nhiều phụ nữ cho biết khó tìm thấy áo nịt ngực phù hợp với bộ ngực “đồ sộ” của mình. Theo các số liệu thống kê, có ít nhất 60% phụ nữ từ trước đến nay vẫn từng mua áo nịt ngực kích thước C thì nay lại phải tìm mua kích thước D (lớn hơn). Những năm của thập niên 50, vẫn theo các số liệu thống kê, những bộ ngực nảy nở bình thường tương ứng với các loại áo ngực “cup B” (là số phổ biến nhất lúc bấy giờ; nhỏ hơn nữa là cup A). Đã đành là dân số trên thế giới mỗi ngày một tăng nên các con số thống kê cũng phải thay đổi, nhưng (lạ lùng làm sao!) hiện nay có rất nhiều phụ nữ tuy vóc dáng nhỏ bé cũng vẫn có một bộ ngực “tròn trịa, đẫy đà” hơn so với các thế hệ trước. Để giải thích cho hiện tượng “ngực mẩy” này, nữ khoa học gia Marylin Glenville chuyên về Dinh Dưỡng cho biết nguyên nhân không chỉ do thói quen ăn uống có nhiều chất béo, mà đặc biệt còn vì các mô ở ngực được kích thích nên tăng trưởng mạnh nhờ lượng Estrogen dồi dào (phụ nữ thời bây giờ kết hôn muộn lại ít chịu sinh đẻ nên có lượng Estrogen nhiều hơn các phụ nữ thuở trước).      
Chính Zhang Jing, người phụ trách về thương vụ cho công ty Triumph (một thương hiệu nổi tiếng về “soutien gorge) tại Trung quốc mấy năm trước cũng xác nhận rằng: “Có một sự thay đổi thấy rõ. Ngày xưa, các bà các cô chỉ mặc cup A hoặc cup B. Ngày nay, người ta không thể tưởng tượng được rằng những vòng ngực như thế mà lại … tự nhiên trời cho, không cần các phụ tùng lỉnh kỉnh!” Ngay cả hiệp hội Embry Group về vải, tơ, lụa có chi nhánh tại Hồng Kông, đã từ lâu không còn sản xuất các nịt ngực cup A nữa, mà chỉ chuyên chú chế tạo các “bra” (lấy từ chữ brassière của Pháp) cup C, D và E để thích ứng với nhu cầu. Viện kỹ thuật về ngành dệt và vải vóc tại Bắc Kinh cũng tường trình cho biết vòng ngực trung bình của các bà các cô người Hoa đã tăng hơn 1 phân, đạt được 83.53 phân hiện nay, kể từ những năm đầu của thập niên 90. Theo quan điểm của báo Shangai Daily, hiện tượng “nẩy nở” này là do các bà các cô tại Trung quốc ngày nay được ăn uống tẩm bổ hơn trước, và cũng (chịu khó) tập thể dục nhiều hơn trước.

03.02.2011

Thai nhi thấy được gì khi còn nằm trong bụng mẹ?
Trong ấn bản mới nhất của tạp chí Developmental Psychobiology xuất bản tại Hoa kỳ, khảo cứu gia Marco Del Giudice chuyên ngành tâm lý học thuộc đại học Turin (Ý-đại-lợi) giả thuyết rằng thai nhi có thể nhìn thấy những gì xung quanh mình tuy vẫn còn nằm trong bụng mẹ, và rất có thể thấy được cả những ngón chân tay tí hon của mình. Theo giải thích của giáo sư Del Giudice, vì trong hai tháng cuối cùng của thai kỳ, cặp mắt của thai nhi đã phát triển đủ để có thể hoạt động được và vì ánh sáng trong bụng của người mẹ đủ “mờ mờ, trong trong” để có thể có một tầm nhìn lờ mờ trong phạm vi tử cung của người mẹ: “Chúng tôi không trực tiếp đo cường độ của nguồn ánh sáng (ánh sáng có nghĩa là sóng điện từ có thể nhìn thấy được bằng mắt thường, trong chiều dài của sóng từ 0,38 đến 0,78 micron …) đi xuyên qua tử cung, nhưng chúng tôi đã thực hiện thí nghiệm tương tự bằng cách đo cường độ của nguồn ánh sáng đi xuyên qua những mô của cơ thể (bắp cơ và mỡ) và xuyên qua nhiều loại vải quần áo; sau đó chúng tôi thâu thập các dữ liệu, không quên lưu ý đến độ dày của vùng bụng người mẹ cùng sự kiện người mẹ mặc ít hay nhiều quần áo. 
Sau khi nghiên cứu kỹ thí nghiệm, giáo sư Del Giudice tin tưởng rằng rất có thể phần đông các thai nhi nhìn thấy được những gì xung quanh mình, đặc biệt là nhìn thấy vách tử cung và chính thân thể của em bé, mỗi khi người mẹ đang hiện diện ở một nơi có nhiều ánh sáng và với điều kiện là người mẹ khi đó đừng mặc quá nhiều lớp quần áo.        

13.01.2011

Nhân loại đã biết mặc quần áo từ 170.000 năm trước?
David Reed, chuyên gia về sinh học tiến hoá (evolutionary biology) và các cộng sự viên thuộc đại học Florida sau một cuộc khảo cứu vừa cho rằng rất có thể nhân loại đã bắt đầu mặc quần áo từ 170.000 năm trước. Nhờ phương pháp nghiên cứu các chuỗi DNA của loài chấy rận, các khoa học gia đã tính toán được khi nào thì loài chấy tìm thấy trên quần áo đã tách rời ra khỏi loài chấy trên đầu tóc và biến đổi gen di truyền để tiếp tục tự phát triển. Reed lý luận rằng sự tiến hoá của loài chấy rận ẩn náu trên quần áo gắn liền với việc mặc quần áo, cho nên từ đó có thể rút ra những kết luận thích hợp. Trước đây có nhiều khoa học gia cũng nghi ngờ rằng vào thời kỷ nguyên băng hà 180.000 năm trước với nhiệt độ rét buốt đã là nguyên nhân buộc nhân loại phải nghĩ đến việc che thân thể cho đỡ lạnh, và rồi phát triển dần dần thành thói quen mặc quần mặc áo.     
 
 
Sống thọ hơn không có nghĩa là sống khoẻ mạnh hơn
Nhiều khảo cứu gia cho rằng nhờ ăn uống lành mạnh và nhờ nền y học tiến bộ nên ngày nay nhân loại có thể sống thọ hơn, có thể hưởng những năm tháng sống khỏe mạnh nhiều hơn những thập kỷ trước. Thế mà một nghiên cứu mới đây của Eileen Crimmins, một chuyên gia về khoa-già-lão (gerontology) thuộc đại học nam-California, lại đưa ra những chứng minh ngược lại rằng những năm tháng sống không bị ốm đau bệnh tật trầm trọng đang giảm dần đi. Quả thật hiện nay tuổi thọ của chúng ta càng ngày càng tăng, nhưng con số ngày tháng mà chúng ta được sống khoẻ mạnh không những không tăng mà thậm chí lại còn giảm đi. Nghĩa là một thanh niên 20 tuổi của thập niên đầu thế kỷ 21 sẽ có trung bình một năm lành mạnh ít hơn người cùng trang lứa của thập kỷ trước đây; cụ thể là trong khi một thanh niên 20 tuổi vào năm 1998 có hy vọng sống trung bình thêm 45 năm nữa mà không sợ nguy cơ bị các bệnh về Tim, Ung thư hoặc Tiểu Đường, thì chàng thanh niên 20 tuổi thời bây giờ chỉ còn hy vọng sống khoẻ mạnh khoảng 43,8 năm. Hy vọng những năm tháng sống khoẻ mạnh của các cô thiếu nữ 20 tuổi thời bây giờ cũng bị giảm từ 49,2 còn 48 năm.
Theo quan điểm của chuyên gia Crimms sau cuộc nghiên cứu: “Dường như niềm vui khi thấy tuổi thọ được tăng lên đã làm nhân loại (ỷ y) quên lãng chuyện phòng ngừa bệnh tật. Phải biết rằng mặc dù có nhiều tiến bộ đáng kể trong lãnh vực y tế và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng nhưng hiện nay thế giới đang phải đối đầu với những bệnh tật nan y thay vì hiếm hoi hơn thì lại xảy ra thường xuyên hơn các thập kỷ trước đây”.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s