Tạ Thị Ngọc Thảo – VĂN HÓA TRONG KINH TẾ NHÌN TỪ GÓC ĐỘ CHỦ ĐẦU TƯ BẤT ĐỘNG SẢN

Tất nhiên, kinh tế đem đến no ấm cho người dân, giàu có cho đất nước. Nhưng, nếu để phát triển kinh tế mà con người cào cấu vào thiên nhiên, quay lưng lại với đồng loại, thì cả văn hóa cũng không còn. Nếu văn hóa chưa được đặt đúng mức, đúng tầm, hoặc có chính sách văn hóa đúng nhưng lại thiếu những con người có văn hóa để đưa những chính sách đó đi vào cuộc sống một cách có văn hóa, thì sẽ dẫn đến kinh tế tăng trưởng thấp hơn tiềm năng, tiềm lực.

* * *

Kinh tế không văn hóa là kinh tế mông muội, hoang dã.
Thương trường không văn hóa chỉ còn là chiến trường.

Hội thảo: “Chính sách văn hóa trong kinh tế” do Viện Văn hóa – Phát triển thuộc Học viện Chính trị Quốc gia tổ chức là dịp để những người như tôi, một chủ đầu tư – kinh doanh trong lĩnh vực bất động sản, nhìn lại một cách tổng quát vấn đề văn hóa trong kinh tế nói chung và ngành bất động sản nói riêng. Vấn đề đặt ra trong Hội thảo này sẽ giúp những người làm kinh tế vi mô như tôi kịp điều chỉnh tư duy, hành vi của mình và chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp sao cho phù hợp với tình hình mới của quốc gia trong thời hội nhập kinh tế quốc tế. Đồng thời, tôi cũng hy vọng nhân dịp này cung cấp thêm cho Ban tổ chức Hội thảo những thực tiễn sinh động trong cuộc sống và trong thương trường.
Hiện tôi đang trực tiếp điều hành kinh doanh, nên dù muốn cũng ít có điều kiện nghiên cứu chuyên sâu tài liệu và sách vở về những chính sách văn hóa đã và đang vận hành trong kinh tế. Do đó, bài tham luận của tôi sẽ nặng về phần thực tiễn, nhẹ về phần lý thuyết, rất mong quý đại biểu lượng thứ
Tôi có mong muốn chuyển hai thông điệp cụ thể đến Hội thảo:

1. Kinh tế không văn hóa là kinh tế mông muội, hoang dã
Là một chủ đầu tư trong ngành bất động sản, cho phép tôi nhìn nhận về “văn hóa trong kinh tế” như sau: Văn hóa là nền móng, kinh tế là vật kiến trúc xây dựng bên trên; nếu móng không được chú trọng gia cố vững vàng từ công đoạn đầu tiên, vật kiến trúc chắc chắn không bền vững vì tuổi thọ công trình rất kém!
Tất nhiên, kinh tế đem đến no ấm cho người dân, giàu có cho đất nước. Nhưng, nếu để phát triển kinh tế mà con người cào cấu vào thiên nhiên, quay lưng lại với đồng loại, thì cả văn hóa cũng không còn. Nếu văn hóa chưa được đặt đúng mức, đúng tầm, hoặc có chính sách văn hóa đúng nhưng lại thiếu những con người có văn hóa để đưa những chính sách đó đi vào cuộc sống một cách có văn hóa, thì sẽ dẫn đến kinh tế tăng trưởng thấp hơn tiềm năng, tiềm lực. Không loại trừ những diễn biến xấu có thể xảy ra như nền kinh tế bị thụt lùi, nếu có phát triển thì chất lượng sẽ rất kém, chứa đựng bên trong đầy tính mông muội, hoang dã.
Với tốc độ tăng trưởng bình quân hơn 7,5%/năm, đạt mức GDP dưới 1.000USD/người, nước Việt Nam của chúng ta vẫn ở trong nhóm kém phát triển do thế giới xếp hạng. Vậy mà để đạt được tốc độ đó, nguồn tài nguyên, thiên nhiên, môi trường ở nước ta đã và đang bị xâm phạm trầm trọng. Các nhánh sông trong xanh của Đồng bằng sông Cửu Long đã đen màu rác rến vì nước thải của những khu công nghiệp chưa qua giai đoạn xử lý. Ở Thành Phố Hồ Chí Minh, những nhà máy, công trường, khu đô thị mới mọc lên tự phát, thiếu quy hoạch tổng thể, vì vậy nhiều sông, rạch đã bị san lấp một cách vô tội vạ. Hậu quả là một trung tâm kinh tế của cả nước như TP. HCM bị ngập vì “mưa lớn và triều cường”, năm sau ngập sâu hơn năm trước. Ở Đắk Nông, Gia Lai, Kom Tum, Lâm Đồng, rừng mới trồng thì ít, đốt phá thì nhiều, cả những cánh rừng dành để bảo hộ, phòng hộ cũng bị đào bới phá hủy để khai thác những khoáng sản không mang lại giá trị kinh tế cao. Nguồn nước sông Đồng Nai dùng để cung cấp nước ăn uống, sinh sống cho nhiều tỉnh, thành phố bị ô nhiễm đến mức báo động vì đầu nguồn hằng trăm hộ chiếm diện tích mặt nước để nuôi cá bè và vì nước thải công nghiệp chưa qua xử lý. Có phải vì thế mà “làng ung thư” cứ loang dần trên bản đồ nước ta? Phóng xạ là chất cực kỳ nguy hiểm, đe doạ mạng sống con người, thế mà trong vòng ba tháng gần đây ở nước ta đến hai lần để lọt chất độc chết người này ra ngoài thị trường đồng nát. Tất cả những điều đó nói lên cái gì? Chúng ta: Nhà nước, doanh nghiệp, cộng đồng, ba trụ cột của nền kinh tế hãy tự tìm câu trả lời riêng của giới mình!
Theo các chuyên gia kinh tế, nguồn lực thúc đẩy kinh tế phát triển thay đổi qua các thời kỳ: (i) thời sơ khai, kinh tế dựa vào tài nguyên thiên nhiên và sức lao động thô sơ, (ii) thời chuyển sang khai thác nguồn lực vốn (tư bản), (iii) thời tiến đến chú trọng nguồn lực tri thức, (iv) thời bứt phá với nguồn lực công nghệ thông tin. Một số nước láng giềng đã và đang chấp nhận giảm tăng trưởng theo số lượng hoặc ra sức làm nguội độ “nóng” của nền kinh tế để tập trung nhiều nguồn lực và trí tuệ hơn nữa nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho con người; đó cũng là một cách đưa văn hóa vào kinh tế. Còn Việt Nam của chúng ta đang ở giai đoạn nào trong bốn thời kỳ phát triển trên?
Là một người trong giới kinh doanh, tự tôi đã tìm câu trả lời riêng cho giới của mình: kết quả kinh tế là kết tinh của hành vi, hành vi là kết tinh của văn hóa. Như vậy có thể nói: kinh tế nào cũng mang nặng dấu ấn của hành vi. Với những gì mà bản thân “nhìn, nghe, sờ, ngửi, nếm” được, tôi cảm nhận: “Những mảng tối trong thực trạng kinh tế nước ta là kết quả tập hợp của những hành vi thiếu văn hóa”; song cũng cần nói lại cho rõ, “thiếu” nghĩa là “có” nhưng chưa đủ! Rất tiếc, thưa hội thảo, trong nhóm “thiếu” đó, có giới kinh doanh!

2. Thương trường không văn hóa chỉ còn là chiến trường
Quốc gia nào cũng xây dựng và phát triển đất nước dựa trên hai nguồn vốn: con người và tài nguyên, trong tài nguyên đất đai là quan trọng. Các nước phát triển đã sử dụng khôn ngoan quyền tự do để khai thác nguồn vốn con người và bằng những chính sách minh bạch, linh hoạt về quyền sở hữu để khai thác tối đa nguồn vốn tài nguyên – đất đai. Sự phồn vinh, thịnh vượng của từng nước phát triển đã chứng minh đó là cách giải đúng. Ở Việt Nam, “đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu … “, cá nhân và tổ chức chỉ có quyền sử dụng, không có quyền sở hữu đất đai. Vậy, nguồn vốn quan trọng này hiện đang được sử dụng, khai thác ra sao?
(i) Nhà nước và đất đai: Theo Luật Đất đai 2003, người có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng, cho, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn… Thực chất những quyền trên chính là quyền sở hữu, nhưng nước ta lại gọi là quyền sử dụng. Đó chỉ là cách gọi, mỗi quốc gia có một cách “đặt tên” khác nhau. Vấn đề cốt lõi chính là những chính sách khôn ngoan, có văn hóa, để khai thác tối đa nguồn lực của đất đai, buộc nó sinh sôi, nảy nở, trở thành động lực thúc đẩy kinh tế phát triển. Như Trung Quốc và Singapore, bản chất sở hữu đất đai khá giống nước ta nhưng cách khai thác lại rất khác: Giai đoạn mới đổi mới, Nhà nước giành quyền sở hữu đất đai nhằm đạt mục đích tập trung quyền lực để phát triển kinh tế – xã hội với tốc độ nhanh nhất cho đất nước và có lợi nhất cho cộng đồng. Vì thế, Trung Quốc mới có những thành phố như Thâm Quyến, Phố Đông… được thế giới gọi là “Thành phố của một đêm” vì tốc độ xây dựng và phát triển nhanh đến chóng mặt. Đảo quốc Singapore thì đạt được mục tiêu chuyển thẳng sang nhóm nước “thế giới thứ nhất” (nước phát triển) một phần là nhờ khai thác tốt những “mối quan hệ bên trên” quyền sở hữu đất đai và nguồn vốn từ nhà ở.
Còn đất đai “thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu …” ở nước ta nhằm đạt mục đích gì?
Tháng 7 năm 2006, Tập đoàn Jones Lang LaSalle công bố về chỉ số minh bạch của thị trường bất động sản (TTBĐS), trong đó Việt Nam đứng cuối bảng với chỉ số minh bạch thấp nhất thế giới 56/56 quốc gia được khảo sát! Nguyên nhân là do những hệ lụy phát sinh từ quyền sở hữu, những hạn chế về thông tin và những quy định pháp luật thiếu công khai, minh bạch… Trước khi Jones Lang LaSalle công bố, hơn ai hết, các chủ đầu tư trong ngành BĐS cũng đã nhận ra những khuất tất, mờ ám, nhập nhằng từ những chính sách liên quan đến BĐS và những con người thực hiện những chính sách ấy.
(ii) Người dân và đất đai: Khi nói đến quyền sở hữu, không thể không nói đến những yếu tố cấu thành cơ bản của quyền sở hữu: nguồn gốc sở hữu, mục đích sở hữu, nghĩa vụ và quyền lợi của chủ sở hữu… Nếu vì một lý do nào đó, chúng ta chỉ chú trọng quyền sở hữu mà xem nhẹ những yếu tố cấu thành, thì e rằng tài nguyên và đất đai sẽ là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn đến bất ổn xã hội vì sự xung đột kéo dài của các nhóm lợi ích. Nhất là khi quyền sở hữu chung chung được một nhóm người có quyền lực khai thác để trục lợi cá nhân, xâm phạm đến quyền lợi của số đông, gây thiệt hại lớn cho kinh tế.
Cụ thể như ở trong miền Nam trước đây, nhiều quỹ đất có nguồn gốc khác nhau, trong đó phải kể đến đất “hương hỏa” – đất của dòng tộc, truyền từ đời này qua đời khác. Tất cả nguồn gốc đất đều minh bạch, rạch ròi, chẳng ai dám vi phạm của ai dù chỉ là một tấc đất! Sau những thay đổi về những chính sách đất đai ở nước ta, đến nay, con cháu trong dòng tộc muốn sử dụng, khai thác đất hương hỏa – đất của cha ông mình để lại – phải làm thủ tục “xin” cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (?). May mắn được “thuận đơn” thì phải nộp nhiều khoản thuế, có khi bằng với giá mua mới trên thị trường. Nhưng trong thực tế, con số “may mắn” này không nhiều, vì từ lâu đất trong dòng tộc đã bị những người “ngoài” dòng tộc chiếm hữu một cách hợp pháp bằng quyền sử dụng mà bằng cách này, cách khác họ đã có trong tay tự bao giờ! Sau đó là xung đột, tranh chấp kéo dài, có không ít người dân cả đời khăn gói đi khiếu kiện.
Những xung đột, hệ lụy phát sinh từ nhập nhằng quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất ở nước ta dai dẳng, khắc nghiệt, căng thẳng, như một cuộc chiến.
(iii) Doanh nghiệp dân doanh và đất đai: Trong phát triển kinh tế, TTBĐS luôn đi trước, tạo cơ sở hạ tầng, tạo ra khu đô thị, đó là nền tảng ban đầu cho các thị trường khác hoạt động. Trong TTBĐS, chủ đầu tư được dân trong giới thừa nhận là người có tầm nhìn xa, quan sát rộng, không ít người có cái tâm đóng góp cho sự nghiệp kinh tế – xã hội. Khi chủ đầu tư quyết định bỏ vốn ở đâu, thì bộ mặt đô thị nơi đó thay đổi, cả về kinh tế và văn hóa. Từ đó thu nhập và chất lượng cuộc sống của người dân cũng được nâng cao. Chủ đầu tư không chỉ đầu tư địa ốc mà còn đầu tư cả kết cấu hạ tầng, các công trình phúc lợi xã hội. Thực tế cho thấy, chính những dự án BĐS được đầu tư đúng đã làm thay đổi bộ mặt đô thị, vi trí Quốc gia, và làm động lực thúc đẩy cho nền kinh tế tăng trưởng bền vững.
Nhưng hiện nay, để hội đủ thủ tục đầu tư, từ đất đai, nguồn vốn, và giải quyết các mối quan hệ liên quan đến dự án BĐS, v.v…, nhiều chủ đầu tư đã không còn là chủ mà trở thành người “đi xin”, trong một cơ chế xin – cho lạm quyền, nhũng nhiễu. Trong TTBĐS, hiện tồn tại một cơ chế nghịch lý: làm đúng theo các quy định của pháp luật thì gặp nhiều trắc trở, chi phí cao, lợi nhuận thu được lại thấp; ngược lại, biết tận dụng mối quan hệ để “lách” giỏi, chịu đút lót chung chi sẽ gặp thuận lợi và thu lợi nhuận cao hơn. Cuộc chiến vô lý và không cân sức này đã làm không ít chủ đầu tư có lương tâm, có văn hóa trong ngành BĐS nản lòng, buộc phải rời khỏi thương trường vì không thể “đánh mất mình”. Cũng có nhiều người trong số họ chọn cách giải khác, quyết định đầu tư “ngược” ra nước ngoài để bớt phiền não và giảm rủi ro. Một số doanh nghiệp khác còn đang hoạt động đầu tư – kinh doanh BĐS thì đứng trước nguy cơ đổ vỡ, nợ nần, phá sản vì TTBĐS đóng băng kéo dài.
TTBĐS là xương sống của nền kinh tế, liên kết, liên thông chặt chẽ với nhiều thị trường quan trọng như tài chính tiền tệ, vật liệu xây dựng, trang trí nội thất, kiến trúc xây dựng, lao động, dịch vụ…; thế mà chỉ số minh bạch đang ở mức thấp nhất thế giới. Đó là một minh chứng cụ thể để chúng ta nhận dạng vấn đề văn hóa trong TTBĐS. Từ đó đặt tiếp câu hỏi, liệu các thị trường khác nữa trong nền kinh tế nước ta có trong sạch hơn không? Và, nguyên nhân nào dẫn đến kết quả này?
Hoạt động trong thương trường suy cho cùng chính là cuộc chiến của những doanh nghiệp dành thị phần ở nhiều cấp độ: thị trường trong nước, khu vực và thế giới. Chỉ còn khoảng hai tháng nữa là TTBĐS trong nước phải đánh “xáp lá cà” với thị trường chung của thế giới – WTO. Nhưng hiện nay, trong toàn khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, chỉ có TTBĐS Việt Nam “rơi vào vùng xám cấp 5” giữ vị trí 56/56; “quân ta” thì đang có nhiều người xuống tinh thần; thị trường lại bị đóng băng…Vậy lời giải nào để trong sạch hóa TTBĐS, vực dậy tinh thần kinh doanh của doanh nhân và giúp doanh nghiệp trong nước giành được thế chủ động “trên sân nhà”, không để mất trắng thị phần vào tay “quân bạn”?
Kiến giải:
Tăng trưởng bền vững = GDP p.c + Xanh + Sạch + GNH
Vấn đề “văn hóa trong kinh tế” là một bài toán lớn, nếu thật sự muốn tìm lời giải căn cơ, rốt ráo, tận gốc rễ cần phải tập trung tư duy, trí tuệ, công sức, thời gian với một quyết tâm rất lớn của nhiều giới nhiều ngành; nếu không sẽ chỉ là “phong trào” và như thế e rằng kết quả đạt được sẽ không cao.
Là một người trong giới kinh doanh duy nhất, lại là người trong miền Nam về dự hội thảo, nếu được hội thảo cho phép, tôi xin gợi ý một lời giải nhỏ về “bài toán văn hóa trong kinh tế”:
Từ năm 1996, Chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) đã cảnh báo Chính phủ các nước cần tránh “năm kiểu tăng trưởng kinh tế không bền vững”: 1) Tăng trưởng không việc làm, 2) Tăng trưởng không lương tâm, 3) Tăng trưởng không tiếng nói, 4) Tăng trưởng không gốc rễ và, 5) Tăng trưởng không tương lai. Nói khác, tức là phải bảo đảm cho tăng trưởng kinh tế gắn với hạnh phúc của con người và gắn với bảo vệ môi trường. Vận dụng những cảnh báo đó vào thực tế Việt Nam, để “kinh tế nước ta không rơi vào mông muội, hoang dã”, để “thương trường không chỉ còn là chiến trường”, nên chăng chúng ta đề ra một cách tính tăng trưởng kinh tế theo kiểu mới, kiểu của Việt Nam:
Phát triển bền vững = GDP growth (tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội) + xanh (thân thiện môi trường) + sạch (minh bạch, công khai) + GNH (gross national happiness: tổng hạnh phúc quốc gia). Nghĩa là từ nay khi đề cập đến chỉ tiêu tăng trưởng GDP, chúng ta không thể không chú trọng đến các chỉ tiêu quan trọng, như: thân thiện môi trường, minh bạch công khai, mức độ hài lòng của người dân. Đó là mục tiêu, chỉ tiêu, tiêu chuẩn, để xét duyệt, khen thưởng, sắp xếp nhân sự, đề bạt,… được áp dụng từ trung ương đến địa phương, từ ngành ngang qua ngành dọc và cho cả Nhà nước – Doanh nghiệp – Cộng đồng.
Với cách tính “Phát triển bền vững của Việt Nam”, có thể trước mắt tốc độ tăng trưởng sẽ chậm lại, nhưng tôi lạc quan tin rằng yếu tố bền vững sẽ cao hơn cách tính cũ rất nhiều.
—————————–
(Tham luận tại Hội thảo khoa học: “Chính sách văn hóa trong kinh tế” do Viện Văn hóa – Phát triển thuộc Học viện Chính trị Quốc Gia tổ chức, Hà Nội 24-8-2006)

About these ads

One Response to Tạ Thị Ngọc Thảo – VĂN HÓA TRONG KINH TẾ NHÌN TỪ GÓC ĐỘ CHỦ ĐẦU TƯ BẤT ĐỘNG SẢN

  1. Xuân Vũ nói:

    Tham luận của chị Ngọc Thảo đã viết hơn 5 năm nhưng đọc vẫn thấy nóng hổi “cảm xúc thời sự” xây dựng cho đất nước vững bền. Xin tặng chị mấy câu thơ của một cựu giám đốc doanh nghiệp nhỏ lúc còn đang chơi trên 1 sân vườn lầy lội.

    “Chợ đời làm cơn gió lốc
    Áo cơm ai chịu nhường ai
    Trãi qua gian nan thử thách
    Bơi lâu mới biết sông dài!!!

    Em ơi tình đời nặng lắm
    Kinh doanh phải lãi niềm vui
    Thương nhân phải làm nghệ sĩ
    Đem bao hạnh phúc cho đời…”

    (Như chị Ngọc Thảo vậy!…”
    Chúc chị vui khỏe,

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 1 059 other followers

%d bloggers like this: