GS Đàm Trung Pháp – CHUYỆN XA GẦN* Tuyển Tập Nguyễn Ngọc Bảo Qua Lăng Kính Triết Lý Giáo Dục Hiện Đại

Kính thưa quý vị,
Tuyển Tập CHUYỆN XA GẦN của Nguyễn Ngọc Bảo do Hội Văn Hóa Khoa Học Việt Nam ấn hành tháng 10 năm 2010 là một tác phẩm rất hay, rất bổ ích, rất đáng đọc. Đây là một tuyển tập có nội dung đa dạng được trình bầy qua một văn phong sâu sắc, uyên thâm, minh bạch, duyên dáng, và đầy nhiệt tình. Mục lục của cuốn sách đọc lên như một thực đơn chữ nghĩa khó chống cự cho những tâm hồn yêu văn học. Nào là Sân trước một cành mai; Hoa đào năm ngoái. Nào là Xã hội chủ nghĩa Việt Nam qua ca dao và vè trào phúng; Bút Tre: Dòng thơ phản kháng độc đáo. Nào là Truyện Kiều trong lòng người di tản; Bói Kiều. Nào là Quang Dũng: Thơ, người, và kỷ niệm; Năm nhà thơ nổi tiếng của Nhân Văn Giai Phẩm. Nào là Đau lòng tử biệt, vân vân. Quý vị có thể đọc các bài viết hấp dẫn này theo thứ tự nào cũng được mà không sợ bị hụt hẫng.
Trước hết tôi xin nói sơ qua về nội dung đa dạng của một số bài viết trong tuyển tập này hầu quý vị.
Những ai yêu hoa đào thì không thể bỏ qua bài viết Hoa đào năm ngoái để cùng tác giả tìm hiểu về các loại hoa đào tại Việt Nam, để ôn lại một giai thoại tuyệt đẹp qua bài thơ trữ tình tuyệt diệu của Thôi Hộ mang tên Đề tích sở kiến xứ mà hai nhà nho Đỗ Bằng Đoàn và Bùi Khánh Đản đã dịch sang thơ Việt:
Năm ngoái ngày này dưới cánh song,
Hoa đào ánh má mặt ai hồng?
 Mặt ai nay biết tìm đâu thấy,
Chỉ thấy hoa cười trước gió đông.
Xã hội chủ nghĩa Việt Nam qua ca dao và vè trào phúng là một tuyệt chiêu có giá trị về cả hai phương diện văn học và lịch sử. Xuất xứ của các câu ca dao và vè trào phúng này được Nguyễn Ngọc Bảo giải thích minh bạch: “Trong suốt hơn nửa thế kỷ từ ngày cai trị miền Bắc và ba thập niên từ lúc cưỡng chiếm miền Nam, cộng sản Việt Nam đã gieo rắc muôn vàn tang thương cho dân tộc. Biết bao tiếng kêu đau đớn và phẫn uất của nhân dân đã vang lên trong suốt chiều dài lịch sử này. Trong số ấy, nhiều tiếng kêu đã cô đọng thành những câu ca dao thật độc đáo” (trang 49). Dưới đây là vài thí dụ trong tổng số 78 bài vè mà tác giả đã sưu tập được và xếp loại:
Dân đói mà đảng thì no
Sức đâu ủng hộ, hoan hô suốt ngày
Đảng béo mà dân thì gầy
Độn bắp, độn sắn biết ngày nào thôi?
Trồng mía, trồng ớt, trồng hành
Vì nghe lời đảng mà thành bể niêu
Trồng tiêu rồi lại trồng điều
Vì nghe lời đảng mà niêu tan tành.
Chiều chiều trên bến Ninh Kiều
Dưới chân tượng bác, đĩ nhiều hơn dân.
Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa
Cúi đầu dâng đảo Trường Sa cho Tầu.
Bút Tre: Dòng thơ phản kháng độc đáo là một bài đọc vô cùng thú vị, gồm khoảng 40 bài thơ ngăn ngắn độc đáo mà tác giả tuyển tập đã thu lượm được và xếp loại. Loại thơ này thì chúng ta bó tay, không thể nào dịch sang tiếng nước ngoài được đâu! Nó cũng cho thấy sức sáng tạo thi ca thực là vô biên của người Việt Nam. Nguyễn Ngọc Bảo đã cắt nghĩa rõ rệt và cho các thí dụ chứng minh về những đặc điểm thơ bút tre dân gian. Chẳng hạn (1) chia cắt hai chữ lẽ ra phải được nối liền nhau, một chữ đặt ở cuối câu “lục” và chữ kia ở đầu câu “bát” nhằm mang ý nghĩa trào phúng cho một trong hai câu thơ. Ý nghĩa này khác hẳn với nghĩa của cả hai câu nếu đọc liền một mạch, như thí dụ dưới đây:
Chị em mặc váy đánh CẦU
LÔNG bay phơ phớt trên đầu các anh.
(2) cố ý dùng chữ không đúng với luật bằng trắc của thơ lục bát khiến người đọc phải tự động nghĩ đến một chữ khác hợp với luật thơ hơn, như thí dụ dưới đây:
Đường vào lăng bác âm u
Chị em bộ đội dở MŨ ra chào.
Truyện Kiều trong lòng người di tản là một bài nghiên cứu thông minh, sâu sắc và thiết tha về áng văn chương số một của dân tộc chúng ta. Mức đam mê Truyện Kiều của Nguyễn Ngọc Bảo sẽ lây sang người đọc, khởi đi từ ngày anh đoạt giải xuất sắc nhất trong chương trình Đố Vui Để Học của Bộ Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa khi học lớp đệ tam trung học ở Saigon năm 1968. Ngay tựa đề tuyển tập này của anh cũng lấy ý từ hai câu số 3027 và 3028 của Truyện Kiều, ở đoạn Kim-Kiều tái ngộ, với biết bao chuyện cũ kể cho nhau nghe:
Nỗi mừng biết lấy gì cân,
 Lời tan hợp, chuyện xa gần, thiếu đâu?
Anh tâm sự với bạn đọc: “Thuộc Truyện Kiều, yêu thích Truyện Kiều từ thuở nhỏ, nhưng tôi chỉ thực sự thấm thía tâm trạng cô Kiều trong mười lăm năm luân lạc trên bước đường di tản của chính mình” (trang 97). Vì vậy anh đã đi diễn thuyết về Truyện Kiều tại các đại học ở Houston cũng như hợp tác với World Stage, Inc. là một công ty chuyên thực hiện các vở ca nhạc kịch quốc tế, để đưa “The Tale of Kiều” lên sân khấu dòng chính nước Mỹ.
Bói Kiều là bài viết hàm súc và duyên dáng, cho người đọc hiểu rõ cách bói thông thường trong dân gian cũng như cách bói của thầy bói chuyên nghiệp, kết thúc bằng vài mẩu chuyện bói Kiều thời hiện đại thực hấp dẫn. Quý vị có biết câu thần chú mà người ta dùng để bói Kiều không? Nếu không, xin quý vị mở cuốn sách này ra ở trang 113 thì sẽ biết ngay!
Ai yêu thơ Quang Dũng thì không thể bỏ qua bài viết Quang Dũng: Thơ, người, và kỷ niệm vì đây là một bài nhận định sâu sắc và tha thiết của Nguyễn Ngọc Bảo về những tuyệt tác của nhà thơ này như Đôi Bờ, Đôi Mắt Người Sơn Tây, và nhất là Tây Tiến (mà tác giả họ Nguyễn, nơi trang 171, đã cho “là một trong đôi ba bài thơ hay nhất của thi ca Việt Nam trong thế kỷ 20”). Về giá trị trường cửu của thơ Quang Dũng, anh viết rằng trong những thế hệ tương lai, “đọc những bài thơ của ông, họ sẽ rưng rưng cảm động vì tình người và tình quê hương thể hiện trong thơ, như chúng ta đã từng cảm động. Dù sống trong thời đại nào, ở bất cứ lứa tuổi nào, người ta cũng phải yêu nhau, yêu quê hương, và yêu những bài thơ thật hay” (trang 181). Quý vị nào tò mò, giống như tôi, muốn biết thêm lai lịch của người thiếu nữ có “đôi mắt người Sơn Tây, u ẩn chiều luân lạc” đã từng cùng Quang Dũng một thuở vương vấn với tình, thì xin đọc kỹ trang 169!
Năm nhà thơ nổi tiếng của Phong trào Nhân văn Giai phẩm là một chân dung thẳng thắn về Hoàng Cầm, Lê Đạt, Trần Dần, Phùng Quán, và Hữu Loan. Nhiều chi tiết trong bài viết mạnh bạo này có thể làm người đọc thất vọng với một số thi nhân trong cuộc và càng ghê tởm sự khủng bố tinh thần của chế độ cộng sản phi nhân đối với các văn nghệ sĩ. Chẳng hạn như “Trước sự hành hạ của đảng và nỗi lo sợ về sự an toàn của vợ con, Hoàng Cầm dần dần suy sụp tinh thần. Cuối cùng, ông đầu hàng và nhận tội” (trang 198), hoặc như “Cuối năm 1957, Lê Đạt bị khai trừ khỏi hội nhà văn và phải đi lao động cải tạo. Chỉ vài năm sau khi chịu biện pháp kỷ luật, Lê Đạt chuyển hướng sáng tác để viết những bài thơ ca ngợi bác và đảng” (trang 217). Đáng phục thay, chỉ có Phùng Quán và Hữu Loan là hai nhà thơ khí phách anh hùng, suốt đời không đầu hàng đảng dù bị đọa đầy đến đất đen.
Bài chót trong tuyển tập, Đau lòng tử biệt, viết vào tháng 2 năm 2009 trong dịp tưởng niệm nhà báo Trương Trọng Trác mới qua đời, là một bài cực kỳ cảm động Nguyễn Ngọc Bảo viết về “một người anh tinh thần đồng thời cũng là người bạn quý.” Anh xót xa tiếc thương một nhà báo chuyên nghiệp “uy vũ bất năng khuất”, luôn luôn đối xử trung hậu và thủy chung với bạn hữu, khích lệ lớp người trẻ đang góp phần vào sự thăng tiến của cộng đồng người Việt hải ngoại, và yêu mến quê hương và những giá trị truyền thống dân tộc. Tôi tâm đắc mối tiếc thương ấy của Nguyễn Ngọc Bảo, vì chính tôi cũng quen biết và quý mến nhà báo họ Trương lắm. Anh Trác và tôi bằng tuổi nhau, là đồng môn trung học Chu Văn An một thời, và tôi ở trong ban biên tập báo Ngày Nay của anh trong ngót mười năm trời, cho đến khi anh mất. Tấm hình của Nguyễn Ngọc Bảo và Trương Trọng Trác in trong trang cuối của tuyển tập thực đẹp và là vết tích của một tình bạn tuyệt vời. Đó là tấm hình anh Trác tính cho in vào cuốn hồi ký về 50 năm làm báo của anh, một dự định, đáng tiếc thay, chẳng bao giờ thành.
Kính thưa quý vị,
Nội dung hấp dẫn đầy thực chất bổ ích của tuyển tập này cũng có phẩm chất hàn lâm cao khi được lượng giá qua lăng kính triết lý giáo dục hiện đại.
Triết lý giáo dục ngày nay tại Hoa Kỳ nhắc nhở nhà giáo chúng tôi điều này: Vai trò lý tưởng cho người đi học là vai trò của một “thám hiểm gia” (explorer); vì vậy các nhà giáo, cũng như các tài liệu giảng huấn, phải cung cấp những phương tiện, những cơ hội để cho các “thám hiểm gia” ấy tự khám phá thêm ra những điều mới lạ trong cuộc hành trình học hỏi một cách lý thú và đầy hưng phấn. Tài liệu học tập tốt nhất khi nó là tổng hợp của các bộ môn khác nhau nhưng cùng chuyên tâm vào một chủ đề, vì sự hiểu biết phát triển mạnh nhất qua những kết nối tri thức (cognitive connections). Vì lý do này, một bài học hữu hiệu phải là một “đơn vị có chủ đề” (thematic unit) được khai phá từ nhiều khía cạnh. Vô tình hay hữu ý, phần lớn chủ đề trong CHUYỆN XA GẦN đã phản ánh triết lý giáo dục vừa kể. Quả thực, đa số các bài viết trong tuyển tập rõ rệt là những “đơn vị có chủ đề” thượng hạng, trong đó những mối quan hệ kiến thức trong các lãnh vực văn chương, triết lý, tôn giáo, chính trị được nối kết một cách tự nhiên, qua những lời bàn rộng ra và những thí dụ chứng minh hùng hồn cho những gì tác giả nhấn mạnh.
Tôi đã cố tình dành bài viết mà tôi ưng ý nhất trong tuyển tập là Sân trước một cành mai, một “đơn vị có chủ đề” kỳ thú, để lượng giá nó qua lăng kính triết lý giáo dục hiện đại. Trong đơn vị học tập này, chủ đề “hoa mai” được khai phá từ các lãnh vực khoa học, thi ca, và thiền học. Thêm vào đó là một giai thoại văn chương liên hệ đến hoa mai và thi hào Nguyễn Du được tác giả trích dẫn từ cuốn sách TÌM THƠ TRONG TIẾNG NÓI của nhà giáo Đỗ Quý Toàn. Long lanh trí tuệ và chan chứa tình người, bài viết này chắc chắn sẽ khiến các “thám hiểm gia” văn học đắm mình vào thế giới đầy hoa thơm cỏ lạ của Nguyễn Ngọc Bảo. Họ sẽ có nhiều cơ hội, giống như tôi, phải vỗ đùi mà khoái chí thốt lên câu “À ra thế!” mỗi khi đọc được một điều gì mới lạ đáng kể và đáng nhớ. Nhà giáo người Mỹ mệnh danh các giây phút thú vị này là các “aha moments.” Một vài thí dụ về các giây phút khoái chí ấy được kể dưới đây để quý vị thưởng lãm:
Từ lãnh vực khoa học, tác giả cho biết: “Người Trung Hoa phân mai ra đến gần 250 loại khác nhau … Tuy nhiên để đơn giản hóa, nhiều người chia mai thành 4 loại tùy theo màu sắc: hoàng mai, bạch mai, hồng mai, và thanh mai (mầu phớt xanh). Tại Việt Nam, có hai loại đặc biệt thường được xếp riêng các loại mai khác là mai tứ quý và song mai … Ngoài ra còn có một số hoa vẫn thường được liệt vào loài mai mặc dù không cùng họ với mai. Đó là nhất chi mai, mai mơ, và mai chiếu thủy. Nhất chi mai có mầu đỏ hồng, thường gặp ở miền Nam. Mơ là loại hoa có mầu trắng hồng, sau kết thành trái, và mọc nhiều ở miền Bắc. Hoa mơ được nhiều người gọi là mai và được nhắc đến nhiều trong thi ca như thỏ thẻ rừng mai chim cúng trái (Chu Mạnh Trinh), rừng mơ hiu hắt lá mơ rơi (Nguyễn Bính) và càng mưa phùn gió lạnh, càng lạnh cành hoa mơ (Quang Dũng)” (trang 18-19). Đây thực toàn là những kiến thức mới lạ, nên thơ, rất bổ ích, đối với tôi là người cũng mến mộ hoa mai!
Từ lãnh vực thi ca, bài viết đề cập đến vài giai thoại văn học liên hệ đến hoa mai và các thi nhân lẫy lừng tên tuổi. Như giai thoại Lý Bạch “trong khi ngồi uống rượu trên lầu Hoàng Hạc, nghe có người thổi khúc sáo Lạc Mai Hoa, đã bồi hồi nhớ đến bóng mai nơi kinh thành Trường An xa xôi vạn dặm” (trang 21). Như giai thoại Lô Đồng, một thi nhân khác đời Đường “đã thi vị hóa hoa mai với người đẹp (hay người đẹp với hoa mai?) trong những câu cuối của bài Hữu Sở Tư:
Mỹ nhân hề! Mỹ nhân!
Bất tri mộ vũ hề! vi triêu vân?
 Tương tư nhất dạ mai hoa phát
Hốt đáo song tiền nghị thị quân.”
Tác giả cũng cho người đọc thưởng thức bài dịch rất hay của đoạn thơ trên sang thơ Việt của thi sĩ Tản Đà:
Hỡi ơi! Người đẹp ta đâu?
 Mưa chiều mây sớm, ai hầu biết ai?
Nhớ nhau suốt một đêm dài,
Trước song trắng toát hoa mai lúc nào!
Ngỡ mình chẳng phải mình sao?
Hoặc như giai thoại Nguyễn Du trên đường về nước sau chuyến đi sứ sang Tàu “đã nán lại Từ Châu và chống chọi với giá buốt ba tháng trời chỉ cốt để ngắm mai nở trên đầu núi:
Nhượng tận khổ hàn tam duyệt nguyệt,
 Lĩnh đầu lạc đắc khán mai hoa.”
Và từ lãnh vực thiền học, Nguyễn Ngọc Bảo cho biết “Nhiều thiền sư Việt Nam cũng đã để lại cho hậu thế những bài thơ hoặc kệ bất hủ dùng mai làm ẩn dụ như Mãn Giác Thiền Sư (1052-1096), Điều Ngự Giác Hoàng (1258-1308) tức vua Trần Nhân Tông, Huyền Quang Tôn Giả (1254-1334), và Tuyết Giang Phu Tử (1491-1585) tức Trang Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bài thơ (hay kệ) được biết đến nhiều nhất là bài Cáo Tật Thị Chúng (cáo bệnh để dạy đệ tử) của thiền sư Mãn Giác đời nhà Lý… Bài kệ trở thành những lời dạy hàm súc nhất của một bậc thiền sư gửi lại cho hậu thế:
Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tùng đầu thượng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.”
Tác giả tuyển tập cũng không quên cho độc giả thưởng thức bản dịch sang tiếng Việt thật sát nghĩa của nhà nho Ngô Tất Tố:
Xuân đi trăm hoa rụng
Xuân đến trăm hoa cười
Trước mắt việc đi mãi
Trên đầu già đến rồi
Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai.
Bài viết đặc sắc này được kết thúc bằng một giai thoại liên hệ đến cách ngắt câu khi đọc hai câu Thực trong một bài thơ bằng chữ Hán của Nguyễn Du viết về Chùa Thiền Tông ở Huế. Giáo sư Đỗ Quý Toàn ngắt câu sau chữ thứ tư của hai câu thơ (dấu phết đánh dấu chỗ ngắt câu) khi chia xẻ bài thơ này với Giáo sư Đinh Ngọc Mô:
Cổ tự mai hoa, hoàng diệp lý
Tiên triều tăng lão, bạch vân trung
(Hoa mai ở ngôi chùa cổ, trong đám lá vàng
Vị sư già triều trước, giữa cõi mây trắng)
Nguyễn Ngọc Bảo trích lời thầy Toàn trong cuốn TÌM THƠ TRONG TIẾNG NÓI của thầy: “Thế rồi một bữa Mô cho tôi biết cách tôi hiểu hai câu thơ đó là sai. Hắn đã đọc bài thơ cho một nhà nho nghe. Cụ Đàm đã trên 80 tuổi. Cụ bảo hai câu Thực đó phải đọc như thế này mới đúng:
Cổ tự mai, hoa hoàng diệp lý
Tiên triều tăng, lão bạch vân trung
Chỗ ngắt câu là ở sau tiếng thứ ba, và trong hai câu đó, tiếng thứ tư là động từ chứ không phải danh từ. Cho nên phải hiểu như sau:
Cây mai ở ngôi chùa cổ nở hoa trong đám lá vàng
Vị sư triều đại trước già đi giữa cõi mây trắng.”
Thầy Toàn tâm sự tiếp: “Lúc đó cả một thế giới bị đảo lộn. Chắc sẽ phải thăm chùa Thiền Tông lần nữa, đúng đó khấn vái, tạ tội với hương hồn cụ Nguyễn Du. Thế ra con người tài tình đó đã tặng cho tôi một bảo vật, mà tôi chỉ chờn vờn ngắm nghía cái vỏ đựng bên ngoài. Như sờ mó một hòn đá mà không biết bên trong còn có ngọc … Thay đổi một chỗ ngắt câu, đổi danh từ thành động từ, cả bài thơ bỗng chuyển hóa! Không gian biến thành thời gian. Tĩnh hóa thành động. Hình ảnh đang đứng yên bỗng rung chuyển …” (trang 28-29).
Câu chuyện chưa hết đâu, vì nó còn một chi tiết bất ngờ, một khám phá có vẻ bất ổn về một văn bản khác của bài thơ đó của Nguyễn Du khiến Nguyễn Ngọc Bảo khi đọc xong “bỗng có cảm tưởng hụt hẫng như bị mất một điều gì.” Để biết rõ về “cảm tưởng hụt hẫng” này của tác giả tuyển tập, xin các “thám hiểm gia” đọc các trang 29, 30, và 31. Tôi chỉ xin nói thêm là nhà nho trên 80 tuổi mang tên Cụ Đàm trong giai thoại chính là thân phụ tôi, và nhà giáo Đinh Ngọc Mô từng là đồng môn trung học của tôi và anh hay ghé thăm ông cụ tôi tại Montréal hồi ấy.
Trân trọng kính chào tạm biệt và cảm tạ quý vị đã lắng nghe.
 
Nhận Định Của Giáo Sư Đàm Trung Pháp 
Trong Buổi Ra Mắt Tuyển Tập Tại Dallas
Ngày 6 Tháng 3 Năm 2011
 
*Ấn hành tháng 10 năm 2010, 282 trang, ấn phí 20 Mỹ kim
Hội VHKHVN 4615 Belle Park Drive, Houston, TX 77072
Điện thoại: 832-933-8118
 
® Phải có sự đồng ý của tác giả cũng như ghi rõ nguồn khi bạn phát hành lại thông tin từ website này

About these ads

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 1 054 other followers

%d bloggers like this: